Những cuộc chinh phạt của Alexander Đại Đế – Arrian
Arrian (Lucius Flavius Arrianus or Lucius Arrianus Xenophon) là 1 người Hy Lạp sinh ra khoảng sau năm 90 của sau Công Nguyên. Cha ông là 1 công dân La Mã, ông theo học nhà triết học khắc kỷ Epictetus và trở thành quân trong chính quyền La Mãn. Sau đó ông về Hy Lạp ở và chuyên tâm vào viết lách cũng như là thành viên hội đồng Công tố Hy Lạp. Ông viết rất nhiều nhưng phần lớn đã thất lạc và chỉ còn tác phẩm nổi tiếng nhất để lại là tác phẩm này. Ông là 1 nhà quân sự có tài từng là tướng chỉ huy trong quân đội được ưa thích và tác phẩm của ông nói nhiều về chủ đề chiến lược quân sự. Sự ảnh hưởng của chủ nghĩa khắc kỷ Epictrtus cũng để lại cho ông cách nhìn nhận đánh giá dựa trên đạo đức Epictetus rất nhiều trong các đánh giá lịch sử của mình.
Trước khi Arrian viết tác phẩm về Alexander Đại Đế, đã có nhiều người viết về ông nhưng thật sự cuộc đời ông không được nhiều người ưu ái như các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử cổ đại khác. Arrian đã dùng rất nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu lịch sử mới viết ra được tác phẩm này.
Về Alexander đại đế (20/7/356 TCN – 12/6/323 TCN), ngài là con của vua Phillip xứ Macedonia. Ngài đã chinh phục hầu như hết các nơi mà người Châu Âu biết đến khi đó. Lãnh thổ kéo dài từ Châu Âu tới Châu Á – châu Phi hiện đại nơi có những người sinh sống vào thời điểm đó. Ngài là hiện thân của sự vô địch bất khả chiến bại. Gần như ngài luôn chiến thắng trong mọi trận chiến ngài tham gia, tốc độ nhanh là yếu tố luôn giúp ngài tạo ra sự bất ngờ với quân thù, ngài tới nhanh tới mức quân thù không kịp chuẩn bị gì đã bị đánh bại và phải đầu hàng. Cuốn sách bắt đầu kể từ khi ngài 20 tuổi và lên nối ngôi vua Phillip sau khi ông bị đầu độc chết và để lại ngai vàng và sứ mệnh lãnh đạo liên minh Hy Lạp cho ông. Ông lớn lên trong sự giáo dục của nhà triết học nổi tiếng thế giới cổ đại và tới tận hiên nay là Aristotle, người là học trò xuất sắc nhất của nhà triết học được coi là vua triết học Plato.
1. Quyển 1
Alexander là con trai của vua Phillip xứ Macedonia, ông bị ám sát bởi 1 1 quý tộc vào mùa hè năm 336 Trước Công Nguyên (TCN) và sau đó Alexander khi đó khoảng 20 tuổi lên nối ngôi dù cũng bị nghi ngờ là chủ mưu ám sát cha mình để lên ngôi. Khi đó, ông phải đương đầu với tình trạng bất ổn tại Hy Lạp và sự chia rẽ trong nội bộ. Trước khi xuất quân viễn chinh Châu Á, ông đã phải xuất quân để bình định các vùng nổi loạn, chống đối tại trong nội bộ đất nước mình trước. Người Spatar là những người có sự chống đối Alexander mạnh mẽ nhất trong các nước tại Hy Lạp.
Năm đầu tiên khi ông trị vì, ông mở cuộc đột kích vào xứ Tharce khoảng mùa xuân năm 335 TCN. Người Tharce ở trên núi và tạo các chiến xa để lăn chúng xuống đè bẹp các đội quân tiến lên núi, con đường đi lên chỉ có thể đi thành từng đội nhỏ là hạn chế cho việc hành quân. Alexander đã sử dụng kế sách vẹn toàn khi dùng khiêng che đầu và các quân sỹ đi sát hết cơ vào nhau tạo thành 1 tấm ván lớn nên khi xe chiến xa từ trên đỉnh núi lao xuống trượt trên các tấm khiêng gỗ trên đỉnh đầu các chiến sỹ và rơi xuống mà không gây ảnh hưởng gì lớn tới quân của Alexander. Sau đó họ dễ dàng đánh tan người Tharce và giết hơn 1.500 người, số còn lại bỏ chạy toán loạn nhờ sự am hiểu địa hình và rừng núi yểm trợ.
Sau đó, quân của ông tiếp tục di chuyển tới sông Danube, người Triballi đã rút quân nhằm né tránh sự tấn công của quân Alexander. Sau đó ông tìm kiếm được trạm gác ngầm của người Triballi và khai thác được thông tin tình báo, từ đó tấn công bất ngờ và đánh tan quân Triballi. Đoàn quân tiếp tục tiến lên và bắt đầu gặp các lãnh thổ của các bộ tộc hiếu chiến như người Celtic.
Người Triballi và người Thrace chạy ra hòn đảo bên kia sông Danube để lẩn trốn cuộc tấn công. Họ tập hợp được 4k kỵ binh và 10k bộ binh để chống đối quân Macedonia. Alexander định vượt trông để tấn công nhưng đã thay đổi kế hoạch. Ông quay lại bên này sông thu thập các thuyền độc mộc nhỏ quanh đó để chở từng tốp quân nhỏ sang bên kia sông trong đêm với 1.5k kỵ binh và 4k bộ binh. Tới ngày hôm sau quân Macedonia bắt đầu tấn công tổng lực và đám người kia bị bất ngờ bỏ chạy tán loạn. Sau 1 số trận chiến bình định, các bộ lạc khác lần lượt tới để xin gặp và kết minh với Alexander để tránh bị tiêu diệt.
Sau đó, Alexander tiến quân tới khu vực mà ông được cấp báo rằng Cleitus đang làm loạn và đang âm mưu đảo chính lật đổ ông. Cleitus đã từng quy phục cho ông vua Phillip nhưng hiện nay lại tổ chức quân đội làm phản lại khi Alexander mới lên nối ngôi. Quân Cleitus co về cố thủ trong thị trấn và bỏ các trạm canh gác bên ngoài thị trấn. Alexander tính chuyện bao vây thị trấn thay vì tiến đánh công phá trực tiếp. Ngày hôm sau, quân tiếp viện của Claucias đến tới trợ giúp cho Cleitus, Alexander đành từ bỏ kế hoạch chiếm đọng thị trấn. Đội quân phản loạn chiếm ưu thế lớn và đang chờ đợi Alexander rút quấn sẽ tiến đánh đội quân của ông. Đôi quân của ông phải rút đi, họ đi qua 1 con đường hẹp, nhiều cây cối với 1 bên là sông và 1 bên là những chân đồi dốc đứng. Quân của ông đã phải chia thành đội hình 120 hàng, 200 kỵ binh mỗi cánh được ra lệnh di chuyển không được làm ồn, đi phải theo mệnh lệnh 1 cách khôn ngoan. Đội bộ binh hạng nặng dựng thẳng giáo của họ, sau đó, họ hạ thấp những mũi nhọn để tấn công, đưa chúng sang trái rồi sang phải. Toàn đội hình phalanx đã dịch chuyển 1 cách mau nhẹ, xoay theo cách này rồi cách khác, thực hiện vô số các di chuyển phức tạp. Kẻ thù của ông đã rất bất ngờ và quên cả vị trí định tấn công mai phục để ùa ra đánh giáp lá cà với quân Macedonia. Quân Macedonia gõ giáo mác và khiêng tạo ra tiếng ồn ầm ĩ làm quân địch của ngài sợ hãi và bỏ chạy rút lui về thị trấn. Sau đó quân Macedonia thuận lợi vượt qua sông và rút lui an toàn mà không gặp phải sự tấn công mạnh mẽ nào. Quân địch khinh địch khi nghĩ quân của Alexander đã vượt sông và rời đi nên lơ là cảnh giác. Chính lúc đó Alexander cho quân vượt sông trở lại và đột kích vào trại của quân địch, ông cho cung thủ nã tên vào lều trại của địch rồi đột kích mạnh mẽ vào đánh tan quân của Cleitus, Cleitus sau đó bỏ chạy vefef lại thị trấn, phong hỏa thị trấn rồi lại trốn đến chỗ người Taulanti.
Trong khi đó, tại 1 số vùng như Thebes, người ở đây bị kích động nổi dậy chống lại sự thống trị của người Macedonia, người đã khẳng định rằng Alexander đã tử trận trong trận chiến tại Illyria và tin đồn này lan ra khắp nơi tại Hy Lạp. Để xử lý điều này, Alexander lại tiếp tục tiến quân tới các khu vực như Eordaea, Elimiotis. Quân của người Thebes đã không chịu đầu hàng mà họ ra quân chống lại Alexander. Ông cho quân tiếp cận thành nhưng không cấn công thành mà vẫn chờ đợi sự thay đổi của nhóm người nổi loạn này. 1 nhóm quân của Alexander đột kích và thành và tấn công nhưng bị đẩy lùi và quân Thebes truy sát theo ra ngoài. Tức giận, Alexader đã cho quân tấn công vào thành và quân Thebes nhanh chóng tan vỡ, quân Alexander vào thành đã tàn sát rất nhiều người trong thành tạo ra trận thảm án lớn tại Hy Lạp lúc đó. Thành bang Thebes bị phá hủy hoàn toàn và tạo ra sự cảnh báo đáng sợ đối với những người còn lại tại Hy Lạp nếu phản bội lại ngài.
Sau khi dẹp loạn thành công, Alexander vội vã trở về Macedonia cúng lễ thần Zeus và các vị thần khác để cảm tạ các vị thần. Sau đó ông tập hợp 30k bộ binh + 5k kỵ binh tiếp tục lên đường chinh phục Châu Á. Ông để lại khoảng 12k bộ binh và 1.5k kỵ binh để trấn thủ Macedonia và Hy Lạp. Quân của Alexander di chuyển bằng thuyền qua eo biển hẹp thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay và đặt trân tới thành Troy, rồi dần dần đi sâu vào lục địa Châu Á. Ông cũng cho xây dựng các bệ thờ thần Zues cả bờ biển châu Âu nơi ngày đi lẫn tại châu Á nơi ngài đến. Phong tục thờ cúng các thần Hy Lạp là là phổ biến khi đó và rất được người dân cũng như các vị vua tin cậy. Tại dây, Alexander cũng đặt hoa lên mộ của Achilles người đã chinh phục thành Troy trước kia, và có thể ông đã ghen tị vì Achilles được nhà thơ vĩ đại Homer ghi lại và sống bất hủ về sau còn mình thì không có ai làm cho điều đó.
Sau khi rời Troy, Alexander tới nơi quân của ngài đang tập kết và nhanh chóng di chuyển quân, họ tới các thành thì lần lượt các thành, thị phấn xin đầu hàng lực lượng của ngài, ngài cử các đội kỹ binh chiến hữu đến tiếp quản các thị trấn này. Khi nhận được tin quân của Alexander đã bắt đầu tiến vào Châu Á, các vị tướng lĩnh người Ba Tư đã tụ họp lại với nhau để bàn bạc vấn đề này. Có người bàn đốt bỏ hết hoa mầu, nhà cửa để cho Alexander gặp khó khăn về lương thực và từ bỏ vùng đất ông đi qua nhưng kế hoạch này bị từ chối thực hiện. Khi quân trinh sát đến sông Granicus thì phát hiện quân Ba Tư đã lập trận đợi sẵn tại bên kia bờ sông, Alexander định cho quân vượt sông để tiến đánh nhưng bị ngăn lại và đề nghị nghỉ ngơi bên này sông và sáng sớm sẽ sang sông để tránh thiện hại khi đối đầu trực diện với quân Ba Tư. Nhưng Alexander đã từ chối và vẫn quyết định ngay lập tức băng qua sông và thể hiện sức mạnh quân sự của mình để quân Ba Tư phải sợ hãi mất hết nhuệ khí khi gặp quân Macedonia về sau. Quân Macedonia chia làm 2 cánh, cánh trái do lão tướng Parmenio chỉ huy, cánh phải do Alexander chỉ huy. Đội quân này bao gồm cả lính đánh giáo, cung thủ, kỹ binh Chiến hữu. Quân Ba Tư trên bờ bên kia gồm có khoảng 20k kỵ binh và 1 số lượng gần tương tự bộ binh đánh thuê người nước ngoài. Nhưng cách sắp xếp của Ba Tư lại rất ngớ ngẩn khi kỵ binh xếp trước và dài trải dọc bề sông, trong khi bộ binh lại đứng phía sau và mất đi tác dụng.
Quân tiên phong Macedonia đi trước là kỵ binh, họ ban đầu bị ngăn trở ở trên dòng sông khi thua kém về quân số và bất lợi trong vị trí chiến đấu, quân Ba Tư ném các vật dụng chuyên dụng phá quân địch vào quân Macedonia và quân Macedonia gặp cản trở lớn, kỵ binh Ba Tư cũng rất thiện chiến. Khi quân tiên phong bị chia cắt và chịu thiệt hại nặng, quân của Alexander dần tiến được vào bờ bên kia, với lợi thế lích giáo dài họ đã dần đẩy lùi quân Ba Từ lên các vùng đất trống, chiến lược đẩy quân Macedonia xuống sông bị thất bại. Alexander chiến đấu rất quả cảm, ông phi thẳng vào đầu não quân định và đánh bại các thủ lĩnh quân Ba Tư, ông cũng gặp nguy hiểm nhưng được những người tùy tùng cứu giúp kịp thời. Sau đó kỹ binh Macedonia bắt đầu liên tục đổ bộ sang bờ bên này và dần áp đảo cuộc chiến. Với lính đánh giáo người Macedonia và đội quân khinh giáp, quân Ba Tư tan vỡ ngay tại nơi Alexander tự mình gánh gác trận địa. Sau đó, quân Ba Tư bắt đầu hỗn loạn và kỵ binh Ba Tư bỏ chạy, khoảng 20k lính đánh thuê bộ binh Hy Lạp vẫn giữ vị trí và bị quân Macedonia vào tàn sát. Chỉ có khoảng 2k bộ binh bị bắt làm tù binh, quân Macedonia tổn thất khá ít với chỉ khoảng 25 kỵ binh chiến hữu trong trận đột kích đầu tiên tiên phong, khoảng 60 quân kỵ và 30 quân bộ thiệt mạng (đây là không tính lính đánh thuê). Những người chết trận, cha mẹ và con cái của họ được miễn các khoản thuế ở địa phương và tất cả các hình thức về nghĩa vụ cá nhân hoặc các khoản thuế đánh vào tài sản. Ông cũng tới thăm những người bị thương sau trận chiến và động viên, thăm hỏi từng người. Quân Macedonia dễ dàng tiếp quản thị trấn khi quân Ba Tư đã bỏ thành chạy mà không gặp trở ngại gì.
Mục tiêu tiếp theo của Alexander là Sardis. Trên đường đi các thị trấn quanh đó đều đầu hàng mà không gặp phải sự phản kháng nào. Ông tiếp tục cho xây dựng tượng thần Zeus tại những nơi ông chiến thắng đi qua và giao cho kỵ binh Chiến hữu quản lý các nơi đó. Ông tiếp tục tới Ephesus và giải phóng nơi này khỏi người Ba Tư và thiết lập lại nền dần chủ tại đây. Sau đó tiếp tục có nhiều vùng đất của những người phụ thuộc vào Ba Tư đến đầu hàng và quy phục, ông cho 1 số lượng nhỏ quân quản lý các khu vực này, tước đi quyền sở hữu của nhóm cai trị cũ, thiết lập nền dân chủ tại đây, cho phép các cộng đồng thực thi luật pháp và phong tục riêng của họ, đồng thời miễn các khoản thuế phải nộp ch Ba Tư trước đây.
Tiếp theo, ngài dẫn theo đầy đủ lực lượng tới thành Miletus và giành được thành mà không gặp phải sự phản kháng do quân thủ thành đã rút đi từ trước. Trên bờ biển khi đó, quân Ba Tư có khoảng 400 tầu và vượt trội hơn hẳn so với khoảng 160 tầu của quân Hy Lạp. Lão tướng Parmenio tiếp tục đề xuất đánh trên biển hạm đội Ba Tư nhưng bị Alexander từ chối vì sự chênh lệch quá lớn của lựng lượng trên bản và ông chỉ đồng ý đánh bại người Ba Tư trên đất liền. Quân thủ thành Miletus không chịu mở cổng thành đầu hàng mà đề nghị cho cả quân Hy Lạp và Ba Tư được sử dụng bến cảng, nhưng Alexander đã từ chối và cho quân tấn công, sau đó họ nhanh chóng chiếm được thành và bố trí lại phòng thủ, họ cho đội quyền vào chiếm bến cảng làm vô hiệu quá tránh quân Ba Tư đột kích lên đất liền, họ tiếp nhận thêm 1 số lính đánh thuê vào quân đội mình. Hải quân Ba Tư đóng trên đảo quấy rối nhưng do thiếu lương thực, nhu yếu phẩm nên gặp rất nhiều khó khăn, họ cần phải như được Alexander chiếu đấu trên biển nhưng bất thành nên đành rời đi sau đó.
Sau đó, ngài cho giải tán hạm đội thuyền của liên minh Hy Lạp do khong đủ tiền bạc để duy trì hạm đội này. Ngài chống lại hạm đội Ba Tư bằng cách kiểm soát các thành phố ven biển và các bến cảng làm hạm đội Ba Tư này không thể làm gì được. Sau khi giải quyết xong chuyện ở Miletus, ngài bắt đầu di chuyển tới Caria vì nhận được tin quân Ba Tư đang tập hợp quân đáng kể ở Halicarnassus, trên đường đi các thị trấn ven đường đều đầu hàng ngài mà không gặp phải sự kháng cự. Khi tới cách thị trấn Caria khoảng 1km, ngày bắt đầu dừng lại và bắt đầu bao vây thị trấn, tại đây, đã có hạm đội Ba Tư vào và rất nhiều tầu thuyền đã đỗ ở bến cảng. Ngài đánh thử đột kích vào thành nhưng bất thành và phải rút lui. Tiếp theo ngày thử ở thị trấn, đối diện với Myndus để tìm hướng tiếp cận dễ dàng hơn. 1 số người tại đó nói sẽ mở cổng thành đầu hàng ngài, nhưng khi ngài tiến vào gặp phải sự chống trả quyết liệt và phải rút lui khỏi thị trấn và quay lại bao vây Halicarnassus. Tại bên ngoài, ông cho đào hầm 14m chiều rộng và sâu 7m để dùng pháo binh và các súc gỗ nặng nhằm công phá thành. Việc công phá thành vẫn trì trệ, 1 vài ngày sau có 2 người lính uống rượu say đã thách đố nhau về lòng dũng cảm và cùng sông lên phá cổng thành, sau đó có sự tiếp ứng của quân Macedonia mà họ đã phá được 2 ụ cứ điểm quan trọng bảo vệ thành và tạo ra lối vào dễ dàng để tiến công vào thành sau đó. Các lính thủ thành sau đó phải rút về và xây dựng bức tường gạch bên trong thị trấn để cố thủ. Alexander đã trực tiếp chỉ huy cuộc đột kích mạnh mẽ và không rút lui và cuối cùng chọc thủng được sự phòng ngực của thành này, quân trong thành rút chạy và chết rất nhiều trong đợt rút quân, nhiều người cũng bị bỏ lại khi cổng thành đóng quá sớm và họ bị tàn sát dã man sau đó. Quân Halicarnassus thiệt hại khoảng 1.000 quân, trong khi Alexander thiệt hại khoảng 40 người. Tàn quân tại đây chạy ra cố thủ tại 1 vài vị trí, ông không tiếp tục bao vây các vị trí đó mà xây dựng đơn vị đồ trú gồm khoảng 3k bộ binh – lính đánh thuê và khoảng 2k kỵ binh để kiểm soát khu vực.
Sau đó, quân của ông tiếp tục tiến tới Phrygia. Trên đường đi có khoảng 30 các địa điểm ven biển đều đầu hàng mà không mất công tiến đánh. Trên đường đi này, ngài cũng phát hiện ra sự phản bội của 1 tướng lĩnh chỉ huy đội kỵ binh mạnh mẽ nhất của mình và đã cho bắt giam người này lại. Có khu vực đã xin ngài không chiếm đóng và hứa nộp ngựa + 50 talang nhưng lại sau đó phản bội, ngày kéo quân quay lại bao vây và người dân sau đó chịu đầu hàng với nộp ngựa + phạt lên 100 talang + triều công hàng năm…. Còn thiệt hại hơn nhiều so với ban đầu. Sua khi xong chuyện tại Perga, ngài lại dẫn quay tiếp tục tiến đên Phrygia là mục tiêu chính của cuộc chinh phạt tiếp theo.
Khu vựa này có người Telmissus rất thiện chiến và chiếm cứ được địa lợi cực tốt cho việc phòng thủ với đồi dốc và 2 sườn núi hẹp quân không thể tràn vào ồ ạt. Khi tới chân khen núi ông cho quân dừng lại đóng trại, quân địch sau khi theo dõi cả ngày 2 bên sườn núi không thấy động tĩnh nên chỉ để lại 1 lực lượng rất ít theo dõi còn lại đại đa số rút về thị trấn nghỉ ngơi. Ngay trong đêm Alexander cho bộ binh và cung thủ đột kích qua đường núi hẹp và tiêu diệt lựng lượng gác và kéo quân vào trong đó, lần đột kích này không sử dụng kỵ binh do không thuận tiện cho chiến đấu. Khi quân Alexander tiến lên, họ gặp phải sự chiến tranh du kích của những người trong thị trấn và có sự rói loạn, sau đó người trong thị trấn không chịu rút về mà trực tiếp đánh nhua giáp lá cà và thất bại thảm hại trước bộ binh hạng nặng của Macedonia. Người Pisidia thiệt hại khoảng 500 và tan vỡ, các tộc người khác quanh đó đều đầu hàng Alexander. Khu vực Phrygia sau đó cũng bị Alexander kiểm soát nhanh chóng, thành Celaenae đầu hàng,
2. Quyển 2
Sau khi hải quân Ba Tư rút lui sau trận chiến Melitus, họ đã đi chiếm lĩnh các hải đảo và các vùng ven biển để làm chệch hướng cuộc tấn công của Alexander nhưng nhìn chung không thật sự thành công dù họ vẫn kiểm soát được các vùng biển sau khi Alexander giải tán hải quân Hy Lạp từng đến Melitus. Quân Ba Tư bắt đầu xâm nhập các vùng biển của Hy Lạp và dự định tấn công vào đó để lôi kéo sự chú ý của Alexander trở lại Hy Lạp.
Trong thời gian đó, Alexander tại Gordium xứ Phrygia sau khi ổn định tình hình đã tiếp tục cuộc chiến của mình. Ông đã giải câu đố về nút thắt Gordium sau rất nhiều năm không ai giải được, trong đêm giải được câu đố nút thắt Gordium, sấm chớp nổi lên và được Alexander coi là điềm tốt cho cuộc viễn chinh của mình và sẽ làm chủ được châu Á (lúc đó người châu Âu coi các khu vực Ba Tư, Ấn Độ là châu Á). Sau đó, ông dẫn quâ tới Ancyra và dân ở đây nhanh chóng quy phục ông. Rồi tới Cappadocia họ cũng nhanh chóng chấp nhận đầu hàng. Các thành khác như Cilicia cũng nhanh chóng rơi vào tay ông khi quân thủ thành bỏ thành mà chạy. Thời gian này, do kiệt sức nên ông cũng mắc bệnh nặng và mất 1 thời gian để phục hồi lại nhờ sự giúp đỡ của thầy thuốc Philip trong quân ông. Alexander tỏ ra cực kỳ tin tưởng những người an hem, bạn bè của mình. Sau khi bình phục, ông tiếp tục tiến quân và chiếm dudowwcj thị trấn Anchialus là nơi rất phồn vinh trước đây của đế chế Assyria. Sau khi nghe tin vua Ba Tư đang ở khu vực Soli, ông đã tiếp tục cho quân lên đường tới đây. Mục tiêu là săn lùng vua Ba Tư. Trước khi tiến đến, ông cũng tổ chức lễ ăn mừng sau chiến thắng của 1 nhánh quân mình với chỉ huy Orontobates của Ba Tư, Orontobates đã bị đánh bại trong 1 trận chiến lớn, quân Ba Tư thiệt hại khoảng 700 quân bộ, 50 kỵ binh và ít nhất 1k người bị bắt làm tù binh. Dễ duyệt binh, lễ hội ăn mừng được tổ chức lớn tại Mallus.
Trong khi đó, vua Ba Tư là Darius đã thân chinh dẫn toàn bộ quân chủ lực tập trung tại Sochi, 1 nơi thuộc lãnh thổ đế chế Assyria cũ. Ông đã chọn khu vực rộng lớn để giàn quân đội khổng lồ của mình với địa lợi tốt. Nhưng sau đó, vì 1 số lý do nào đó mà ông đột ngột thay đổi chiến lược khi lại dồn quân lại khu vực vùng đất nhỏ hẹp hơn phía sau quân Alexander làm mất đi ưu thế quân đội lớn và kỵ binh hùng mạnh của Ba Tư. Trong khi đó Alexander lại đang cấp tốc tiến quân về phía Sochi khi nghe tin Darius đang giàn quân sẵn đợi quân Macedonia tại đó. Khi nghe tin quân Ba Tư di chuyển đến Issus, Alexander đã cho quân thám thính đi xem xét thực hư quân Ba Tư đã di chuyển đến khu vực phía sau mình hay không, sau khi xác định được chính xác, Alexander bắt đầu cho quân quay lại khu vực Issus. Trước trận chiến, ông cho họp mặt các tướng lĩnh và cổ vũ sỹ khí của họ rất mạnh, ai ai cũng hang hái thề chết chiến đấu đến cùng. Chỉ cần đánh thắng trận này, cơ bản Ba Tư sẽ sụp đổ vì toàn bộ quân tinh nhuệ, chủ lực và cả vua của họ cũng đã ở trận chiến này.
Trước khi xuất quân, ông cho quân lính ăn uống no nê và nghỉ ngơi đầy đủ. Sau đó bắt đầu tiến quân đến chiếm dãy núi là con đường độc đạo, sau khi đi qua con đường nhỏ hẹp này, quân Macedonia bắt đầu trải rộng ra 2 cánh và sắp xếp đội hình tiến công. Được tin Alexander đang tiến công, quân Ba Tư bắt đầu triển khai với việc đưa 3k kỵ binh và 20k bộ binh khinh giáp là lính đánh thuê làm quân tiên phong. Tổng số khoảng 30k lính đánh thuê Hy Lạp và khoảng 60k bộ binh hạng nặng Ba Tư,… nhiều nguồn tin nói tổng số quân Ba Tư khi đó vào khoảng 600k quân (có số là 400k, có số 250k) nhưng vẫn là con số quá lớn so với quân số của Alexander khi đó. Quân Alexander tiến quân tư từ chậm dãi, Alexander đi cuối hàng khích lệ quân lính trong khi quân Ba Tư đứng im tại chỗ giàn quân với các cọc gỗ phía trước làm phòng thủ tạm thời. Điều này càng làm quân Alexander nghĩ rằng quân Ba Tư rất hèn nhát và yếu đuối.
Khi quân đến bắt đầu tầm ngắm bắn của cung tên, Alexander bất ngờ cho toàn quân chạy nước kiệu lao xuống thần tốc băng qua sông vào quân Ba Tư, Alexander dẫn đầu đoàn quân của mình tiến thẳng vào quân Ba Tư đang ứng im tại chỗ. Quân Ba Tư đã sửng sốt trước hành động này của Alexander, và quân Ba Tư nhanh chóng bị tan vỡ tại khu vực Alexander tấn công vào tạo ra 1 chiến thắng cục bộ nhỏ. Nhưng tại trung quân, quân Macedonia tiến quân rất chậm chạp và có dấu hiệu trung quân ở giữa bị tan vỡ và mất kiểm soát. Trung quân Macedonia bị đẩy lùi, trong khi tại cánh trái, quân của Alexander trực tiếp chỉ huy lại chiến thắng như chẻ tre, quân Ba Tư bắt đầu dồn sang cứu cánh phải đang bị đánh bại của mình. Alexander không muốn bị mất danh hiệu bất bại của mình nên quyết không rút lui và tiếp tục đẩy mạnh tấn công từ cánh phải và cuộc chiến trở lên cực kỳ quyết liệt. Sau đó, Alexander tấn công vào trung lộ khu mà lính đánh thuê Hy Lạp đang chiến đấu căng thẳng với quân Macedonia và khi có Alexander gia nhập, trung quân của Ba Tư nhanh chóng bị đập tan và bỏ chạy. Tiếp theo, kỵ binh của Ba Tư tham gia cuộc chiến và đối đầu với kỵ binh Thessaly của Alexander. Vua của Ba Tư, Darius đã phải thân chinh dẫn quân gia nhập cuộc chiến, đây là đấu hiệu của sự thất bại toàn diện của người Ba Tư, binh lính chiến đấu trong hoảng loạn và tuyệt vọng để tìm đường sống. Nhận thấy quân đội của mình tan tác, vị vua Ba Tư Darius ở trên chiến xa đã hoảng loạn mà bỏ chạy. Vua Ba Tư sau đó bỏ lại chến xa, áo, mũ, áo bào, cung tên nhẩy lên ngựa và lợi dụng bóng đên chạy trốn. May mắn đã giúp vị vua Ba Tư này chạy thoát khỏi tay Alexander. Sau trận chiến, thống kê có khoảng 100k người thiệt mạng, trong đó có khoảng 10k kỵ binh, thây chất đầy các hẻm núi chủ yếu là quân Ba Tư.
Tổng hành dinh của Darius bị tấn công và chiếm giữ, mẹ, vợ, con của Darius đều bị bắt. Tại tổng hành dinh Alexander không chiếm được nhiều của cải do họ đã di chuyển phần lớn tới Damascus. Sau đó Damascus cũng bị Alexander sai Parmenio chiếm sau đó không lâu. Sau đó, Alexander đã thả cho mẹ, vợ, con cái của Darius đi, ông tuyên bố đây là cuộc chiến giành quyền kiểm soát châu Á chư không phải cuộc chiến diệt kẻ thù và không cần thiết phải diệt tộc ai cả.
Sau khi chạy thoát, Darius cùng 1 vài người thân cận tập hợp lại được khoảng 4k tàn quân Ba Tư và chạy về Thapsacus và Eupharates vì nơi đó có dòng song ngăn cách với Alexander ở bên này dòng sông. Sau đó Darius cử sứ giả đến gặp Alexander để nhắc về mối liên minh giữa các đời trước của Ba Tư và Macedonia ở thế hệ trước là vua Phillip bố Alexander và đề nghị chấm dứt cuộc chiến cùng với các đền bù xứng đáng cho Alexander và đề nghị ông thả mẹ, vợ, và con Darius ra. Trong thư trả lời vua Darius, Alexander trả lời quân đội Ba Tư đã từng xâm chiếm phá hủy Hy Lạp, Macedonia và rêu rao đã đầu độc vua Phillip, mua chuộc các vùng phụ thuộc của Macedonia để nỏi loạn liên tục gây rối cho Alexander. Ông đến để trừng phạt Ba Tư, và yêu cầu Darius phải đầu hàng và cầu xin ông với tư cách Alexander và vị vua tối cao của châu Á, Darius từ nay chỉ là 1 người phục thuộc và muốn gì phải xin ông chứ không được phép ngang hàng với ông. Quân của Darius bỏ chạy hướng về phía Ai Cập nhằm trốn chạy Alexander.
Sau đó, quân Macedonia tiếp tục tiến công chiếm được các vị trí trọng yếu, các sứ thần tại các nước trong Hy Lạp đến gặp quân Ba Tư cũng bị bắt và với sự khoan dung rộng lượng Alexander cơ bản đểu thả hết họ về sau. Các thành bang trên đường Alexander tiến quân sau đó đều đều hàng và nghe lệnh ông, có thành bang căm ghét Darius còn tổ chức ăn mừng chào đón ông đến giải phóng họ. Quân Macedonia tiến vào vùng Phoenicia, trên đường đi họ gặp người Tyre, những người thờ Heracles cổ xưa nhất nhưng theo phong tục Ai Cập. Người Tyre đồng ý đầu hàng nhưng lại đòi giữ trung lập không cho người Macedonia hay người Ba Tư vào thành, Alexander đã rất giận dữ và quyết định tấn công thành để răn đe các vùng khác đòi trung lập. Ông lo lắng việc quân viễn chinh ngày càng xa, khi họ tiến tới Ai Cập, Babylon sẽ lo ngại người Ba Tư chiếm lại các vùng Phoenicia và gây rối tại phía sau. Ông cần đập tan mọi sự chống đối ở phía sau, chiếm lấy hải quân Phoenicia để sử dụng, tiến quân đánh người Cyprus, và Ai Cập nơi những người Ba Tư vẫn đang kiểm soát và chống đối lại Alexander.
Tyre là 1 hòn đảo với tường cao và rất khó khăn cho quân Macedonia tấn công. Quân Ba Tư và hạm đội Tyre vẫn kiểm soát trên biển nên cuộc chiến này cực kỳ cam go. Sau khi khảo sát kỹ lưỡng, ngài bắt đầu cho quân đào các con đê chắn sóng ven thành và xây thành lũy để bảo vệ, nhưng khi đến gần thành thì lực lượng trong thành bắt đầu bắn trả và quấy rối làm việc xây dựng đê chắn sóng gặp nhiều khó khăn và tiến độ chậm chạp. Thi thoảng lực lượng của ngài bị quân trong thành ra đột kích và phá hủy các cơ sở đang xây dựng nhằm công thành.
Trong thời gian này, nhiều người Cyprus đã đưa thuyền đến phục vụ Alexander để tỏ sự trung thành với ông và xin ông tha thứ vì trước đây đã bị quân Ba Tư ép chống lại ông. Ông đã huy động được khoảng 120 tầu và bắt đầu tìm hướng tấn công từ đường biển vào. Trong lúc chờ đợi hạm đội sẵn sàng ra trận, Alexander đã dẫn quân tới chiếm đóng ngọn Antilibanus ở Ả Rập và nhận thêm 4k lính đánh thuê Hy Lạp mới đến để sáp nhập vào đội quân của mình. Khi hạm đội của ông tới, số lượng tầu quá nhiều vượt quá dự tính của người Tyre nên họ chuyển từ thế chuẩn bị tấn công trên biển sang co cụm phòng thủ. Họ đưa tầu về chiếm hết các vị trí và quân của Alexander không thể đổ bộ lên đảo được. Các bãi biển có đê chắn sóng của quân Macedonia sau khi được dọn dẹp hết đá đã cho thuyền vào được và bắt đầu uy hiếp đến thành trì trên đảo. Nhằm khai thông bế tắc, quân Tyre quyết định tấn công thuyền của người Cyprus đang đậu bên ngoài cảng biển của họ khi các thuyền này mất cảnh giác. Ngay khi quân Tyre lên thuyền ra ngoài biển đột kích, thuyền của Alexander đã ngay lập tức đến chiếm vị trí đỗ tại bến tầu và giành lại lợi thế khi khai thông được bến cảng cho quân đội tiếp cận được. Bộ binh của Macedonia bắt đầu được sư dụng để tấn công vào thành, trong khi hải quân Cyprus nhanh chóng chiếm được bến cảng và tấn công vào thành. Quân trong thành chạy toán loạn khi gặp bộ binh hạng nặng Macedonia và bỏ chạy đến cố thủ tại điện thờ Agenor. Quân Macedonia quá chán nản với việc bao vây quá lâu thành đã tiến hành tàn sát dã man dân thành Tyre. Cuộc vây chiếm diễn ta tới 7 tháng từ tháng 1-8/332 TCN (Trước Công Nguyên). Quân Tyre thiệt hại khoảng 8k, trong khi quân Macedonia khoảng 400 người. 1 số lãnh đạo người Tyre được tha thứ và phải đền bù bằng tiền ạc, còn lại khoảng 30k người Tyre bị bán làm nô lệ. Sau chiến thắng ông tổ chức lệ hiến tế thần Heracles và 1 lễ duyệt binh lớn để tạ ơn thần và cổ động sỹ khí quân đội trước khi tiếp tục lên đường.
Mục tiêu tiếp theo là An Cập nơi mà ông nhận được tin quân của Darius đang chạy đến đó. Trên đường đi, các khu vực Palestine của người Syria đều đầu hàng chỉ có thành Gaza của 1 hoạn quan là Batis là từ chối đầu hàng do ỉ vào tường thành dễ thủ khó công. Ông ta cũng xây dựng quân đội, dự trữ lương thực, các vật phẩm thù thành và nghĩ rằng Alexander đang mải đi tìm Darius sẽ không lãng phí thời gian và quân lính để tấn công ông. Ông cho xây công sự bằng đất cao và đặt các vật dụng công thành trên đó để tấn công vào thành từ phía Nam, nơi được cho là dễ tấn công hơn các mặt khác. Khi cuộc chiến nổ ra, quân trong thành đã đánh ra phá vây mạnh mẽ, họ cố gắng phong tỏa và phá hủy các công cụ vây thành và đẩy lùi quân Macedonia về phía công sự đã xây trước đó. Chứng kiến thất bại này, Alexander quên đi lời tiên tri rằng ông có thể bị nguy hiểm tới tính mạng vẫn xuất quân tiến đánh đẩy lùi quân thủ thành vào trong thành, nhưng ông cũng bị thương ở vai trong trận này. Chỉ bị thương và tin vào sự linh nghiệm lời tiên tri rằng sẽ chiến thắng, ông tiến tục tấn công thành Gaza khi pháo binh từ thành Tyre đã chuyển tới thành Gaza bằng đường biển. Hàng loạt các vật phẩm công thành trút vào thành Gaza và thành này bị mở toang ra cho bộ binh hạng nặng của Alexander đột kích vào thành, Tường thành nhanh chóng bị phá tan, khoảng 10k quân thủ thành Gaza bị giết, còn lại bị bắt làm tù binh và bán làm nô lệ.
3. Quyển 3
Sau khi đánh chiếm Gaza, ngài tới Pelusium nơi có hạm đội đi từ Phoenicia hộ tống đã chờ sẵn ở đó. Sau đó ngài đến Ai Cập và quan quản lý Ai Cập đã trực tiếp đầu hàng mà không có sự chống trả nào. Sau khi đặt đơn vị thường trú tại Pelusium, ngài vượt sông Nile tới Memphis, rồi vượt sa mạc tới Heliopolis và không gặp sự chống trả nào trên đường. Tại Memphis, ngài tổ chức lễ hiến tế thần Apis, tổ chức lễ hội thể thao, thi ca, nhạc học, văn học. Rồi sau đó ngài lập ra thành phố mới mà ngày nay là thành phố Alexandria mang tên ngài.
Sau đó, ngày dẫn theo quân vượt sa mạc dù có đi lạc đường để đến đề thờ thần Ammon ở Libya. Ngài tin tưởng rằng mình mang trong người dòng máu cao quý của thần Zeus, cũng giống như 2 vị thần Perseus và Heracles. Sau khi đến được ngôi đền, được gặp nhà tiên tri và hài lòng với những điều nhà tiên tri nói, ngài (hoặc phụ tá) đã đi tuyên truyền về ngài như là con 1 vị thần và mang trong mình dòng dõi thần linh. Sau đó ngài quay lại Ai Cập, tổ chức lễ duyệt binh, hiến tế thần Zeus để cảm tạ, tổ chức lễ hội thể thao, văn hóa, và tái cơ cấu hoạt động quân sự chính trị tại Ai Cập vì ngài nhận ra đất nước này rất hùng mạnh và không thể để ai 1 mình chiếm đóng nó, họ sẽ rất dễ làm phản nếu kiểm soát cả Ai Cập rộng lớn và giầu có này. Và về sau, đế chế La Mã cũng học hỏi ngài để cai trị đất nước Ai Cập. Tại đây ông được người dân phong là Pharaoh
Tiếp theo, ngài bắt đầu tiến quân sâu vào nội địa Ba Tư, tới Thapsacus và Euphrates. Trước đó ông khôi phục lại vị trí cho rất nhiều thân tín của mình khi những người này phải chạy khỏi Macedonia khi ông và mẹ chạy khỏi đất nước mình. Khi tơi nơi, các nhóm quân được lệnh bảo vệ bờ sông là lính đánh thuê Hy Lạp đã bỏ chạy khi nghe tin Alexander tiến đến. Trên đường hành quân, ngài bắt được 1 số binh lính của Darius cử đi trinh thám và họ khai Darius đang tập hợp binh lính tại 1 cứ điểm ở Tigris và có ý định phản công lại Alexander. Ông cũng nhận được tin tình báo rằng lực lượng Darius đang có lớn hơn rất nhiều so với lực lượng của Alexander hiện tại. Tuy nhiên, khi tới Tigris ông không gặp được ai cả, ông cho quân đi thám thính và gặp 1 toán kỵ binh của Darius, sau khi bắt được 1 số tù binh ông đã khai thác ra được vị trí Darius đang giàn quân sẵn đợi Alexander. Rút kinh nghiệm trong trận thua Issus, Darius đã tập hợp quân trên 1 khu vực đất rộng và bằng phẳng đợi Alexander kéo đến. Quân của Darius được dự đoán vào khoảng 40k kỵ binh và 1 triệu bộ binh, cùng 200 chiến xa và 15 voi chiến (tuy nhiên, đây có thể con số thổi phồng để nâng cao chiến thắng của Alexander, có con số chỉ ra là Darius có khoảng 200k bộ binh, và khoảng 34-45k kỵ binh). Quân số của Darius dù sao cũng rất hùng hậu so với số quân Alexander. Khi nhận được tin, Alexander đã dừng chân 4 ngày, củng cố chỗ đóng quân và bắt đầu để lại những người già và gia súc, còn lại tragng bị nhẹ và lập tức lên đường tiến tới khu vực Darius đang đóng. Khi cách quân Darius khoảng 6km, Alexander bắt đầu hạ trại và bàn bạc tiến quân, 1 số ý kiến đưa ra đánh úp trong đêm nhưng Alexander từ chối phương án này mà cho quân ăn uống và nghỉ ngơi để chuẩn bị quyết chiến vào hôm sau. Trong khi quân Darius cả đêm mất ngủ, giữu vững vị trí đợi quân Alexander và ngày hôm sau rất mệt mỏi và lo sợ.
Trận chiến nổ ra khi quân Alexander chủ động tiến công với 1 lực lượng khoảng 7k kỵ binh và 40k bộ binh. Các chiến xa của quân Ba Tư đi đầu nhanh chóng mất đi hiệu quả khi quân Macedonia rất giỏi việc này và nhanh chóng phá được quân tiên phong Ba Tư. Sau đó bộ binh của Ba Tư bắt đầu gia nhập trận chiến, quân Ba Tư cố gắng bao vây cánh phải của quân Macedonia và để lộ ra 1 khoảng trống, ngay lập tức Alexander dẫn toàn quân chiến hữu và bộ binh hạng nặng Macedonia di chuyển theo mũi nhọn vào lấp khoảng trống này và xé toạc quân Ba Tư ra và tiến thẳng tới khu vực Darius đang đứng trên chiến xa. Lính bộ binh hạng nặng Macedonia dùng giáo dài hơn hẳn vũ khí quân Ba Tư nhanh chóng khoét sâu và đánh tan mọi nỗ lực của quân Ba Tư và tiến thẳng tới vị vua của họ. Vua Darius là người đầu tiên bỏ chạy khi quân Macedonia tiến tới càng lúc càng gần, quân Ba Tư sau đó nhanh chóng tan vỡ và bỏ chạy tứ tán, trong khi đuổi theo truy sát, ông lại nhận được cầu cứu từ phái cánh trái khi quân Macedonia đang bị quân Ba Tư đánh cho phải rút lui, nhờ sự quay lại giúp sức mới giúp cánh quân phía trái không bị sụp đổ và giành lại thắng lợi, quân Ba Tư bỏ chạy tứ tán khắp nơi sau trận chiến. Tối đến, Alexander cho quân nghỉ ngơi 1 tối, sáng hôm sau dẫn quân đến thu giữ kho tàng và chiến lợi phẩm, trong khi Darius đã chạy mất không thể bắt được. Quân Ba Tư bị cho là thiệt hại khoảng 300k quân (các con số khác là 40k hoặc 90k quân), trong khi quân Macedonia lại bị thổi phòng thiệt hại rất ít là 100 người và 1k ngựa).
Sau trận chiến, Darius cùng kỵ binh Bactria chạy đến thành Media và dự báo Alexander sẽ đến tiếp quản Babylon và Susa trước khi nghĩ tới truy tìm mình và quả thực Alexander đã làm vậy. Alexander đã đi thẳng tới tiếp quản Babylon và thu giữ các kho tàn tại đây, tại Susa ngài chiếm được kho tàng lớn lên tới 50k talang. Tại Susa, ông tổ chức lễ hiến tế lớn và tổ chức lễ hội và 1 cuộc chạy rước đuốc.
Sau khi xong việc tại Susa, ngài tiếp tục tiến quân tới khu vực của Ba Tư, ngài chạm trán với người Uxia cứng đầu do quản lý các con đường độc đạo và khó đi qua. Họ yêu cầu ngài trả tiền mới cho đi qua, và ngài chấp nhận, trong đêm ngài đã đi qua và giành quyền kiểm soát con đường rồi dùng bộ binh hạng nặng đột kích tấn công người Uxia khi họ mất cảnh giác và không nghĩ tới ngài sẽ tấn công họ, người Uxia thất bại và phải đầu hàng cùng triều cống hàng năm và coi đây là 1 hình phạt cho việc chống đối ngài.
Tiếp theo ngài tiến quân vào Ba Tư với đầy đủ quân, tại thành Ba Tư, quan thủ thành có khoảng 700 kỵ binh và khoảng 40k bộ binh thủ thành rất chắc chắn. Thành rất cao, hào sâu và 1 vài thử nghiệm tiến công đều không hiệu quả và bị thiệt hại lớn. Sau đó, các tù binh Ba Tư chỉ cho ngài 1 con đường vòng khác đi vòng qua thành để tấn công từ phia sau. Ngài cho khoảng 500 kỵ binh ở lại tấn công mặt trước kiềm chế và đánh lạc hướng, trong khi đại đa số vượt qua con đường nhỏ khoảng 20km tiến về phía sau và tấn công từ phía sau thành phố. Sau đó nhờ quân đội mạnh ngài nhanh chóng chiếm được thủ đô Ba Tư, ngài cho đốt cung điện của vua Ba Tư và chiếm kho tang của vua Cyprus đại đế.
Sau khi đánh Ba Tư, được tin vua Darius đang ở Media, Alexander lại cho quân tiến đến vùng đất đó để truy đuổi vua Darius, vua Darius không nhận được quân cứu viện lên đã bỏ chạy khỏi thành phố. Darius đã chạy rất nhanh và không nghỉ suốt thời gian bỏ chạy khi bị Alexander truy đuổi. Đến đây cơ bản quân Ba Tư đã sụp đổ hầu như không còn đội quân nào lớn, Alexander cho giải tán đội quân đồng minh và trả các phần thưởng theo cam kết cho họ. Còn ai muốn tiếp tục chiến đấu với ông ông sẽ đưa vào đội quân lính đánh thuê. Sau đó ông tiếp tục lên đường truy đuổi Darius. Trên đường bỏ trốn, rất nhiều lính Ba Tư đã trốn khỏi quân ngũ về nhà hoặc sang đầu hàng Alexander. Alexander biết 1 vị tướng của Darius là Besus đã đảo chính và bắt giam Darius. Nhóm của họ vẫn liên tục di chuyển chạy về phía biên giới với Ấn Độ, Alexander bỏ lại các đội bộ binh và chỉ dùng kỵ binh để truy đuổi tới cùng, sau đó Bessus đã phải từ bỏ Darius để dẫn theo kỵ binh Bactria của mình bỏ chạy. Darius chết do vết thương tái phát trước khi Alexander bắt được ông ta. Ông ta được đưa về Ba Tư chôn cất trong khu mộ hoàng gia. Sau đó ngài tiếp tục càn quyét các khu vực có các đội quân còn chống đối ngài và nhanh chóng loại bỏ hết các thành phần đó. Khi ở Hyrcania tổ chức lễ tế thần, ngài nhận được tin Bessus tại Bactria đã tự xưng là vua của châu Á và quyết chống lại mình. Ngay lập tức, Alexander lại xuất quân tiến đánh Bessus. Nhưng đương tới Bactria quá hà khắc đã làm ông thiệt hại lớn trên đường đi này. Các cánh quân Ba Tư còn lại tại Bactria khi nghe tin Alexander tới đều bỏ chạy, và chạy sang tận khu vực Ấn Độ, ngài quyết đuổi theo tới cùng nhóm quân tàn dư này để tiêu diệt triệt để. Mặc dù khí hậu Ấn Độ quá khắc nghiệp nhưng ngài vẫn kiên trì đeo bám và cuối cùng các quân lính của Bassus đã phải bắt giữ ông này để đầu hàng Alexander. Sau đó Bassus bị xử tử và bị đưa về Bactria. Sau đó, người Aria lại nổi dậy và ông lại đến dẹp tan cuộc nổi dậy này, ông cũng thanh trừng nội bộ lão tướng Parmenio và các con của ông này do nghi ngờ âm mưu phản loạn ám sát ngài.
4. Quyển 4
Các bộ tộc bản địa ven sông Tanais lại nổi dậy chống lại Alexander với 7 thành liên kết với nhau cùng tấn công lại lính bản bộ đóng tại thành và chiếm thành. Khi quân Alexander tới nơi các thành này đều đóng cửa và cố thủ trong thành. Ông chia quân ra tấn công cả 7 thành và nhanh chóng phá tan đám nổi loạn. Những người đàn ông bị giết sạch, phụ nữ và trẻ em bị bắt làm nô lệ và bị bán đi. Nhưng những người Scythia ở bên bờ sông Tanais vẫn rêu rao rằng ngài sẽ không dám làm gì họ, và nếu dám động vào họ họ sẽ cho ngài thấy họ không phải như các dân châu Á quê mùa mà ngày đã chinh phục được. Quá tức giân, Alexander cho tập hợp quân, máy bắn đá và đóng bè vượt sông tân công người Scythia, họ dùng máy bắn đá và tên đẩy lùi những người ven sông và giàn quân sang bờ bên kia rồi cho bộ binh hạng nặng làm chủ lực tấn công, các quân khác tập trung đánh và chẳng mấy chốc đánh tan quân Scythia, và quy đuổi đám quân này, đám quân Scythia gần như bị diệt sạch, nhưng quá khát họ đã uống nước không được sạch và ngài bị kiết lỵ nặng, quân phải đem ngài về doanh trại và người Scythia tránh được cảnh toàn quân bị diệt trong trận đó. Sau đó vua Scythia đến xin cầu hòa và giải thích rằng đó là đám quân phổ phỉ ngoài pháp luật chứ không đại diện cho vua Scythia.
Tại thị trấn Marakanda, quân nổi dậy đã chiếm được thành và chiến đấu rất quyết liệt với quân Macedonia, sau đó họ còn nhận được sự tiếp viện của 600 kỵ binh Scythia nên quay lại phản công tấn công dữ dội và gần như tiêu diệt toàn bộ quân Macedonia tại khu vực. Tức giân, Alexander đã thân chính dẫn quân trong vòng 5 ngày vượt qua 300km tiến đánh Marakanda, quân trong thành nghe tin bỏ thày chạy trốn, Alexander truy đuổi rất sát sao, băng qua mọi trở ngại để đuổi giết quân phản loạn. Ông tài sát tất cả những người bản địa chạy trốn.
Trong bữa tiệc cảm tạ thần Dionysus, khi đã rượu say vào bản năng sau sa dã man của Alexander bộc lộ ra rõ ràng. Trong tiệc rượu, ông ưa thích sử dụng trang phục và lễ nghi Ba Tư vào Macedonia, và các nịnh thần thì hết lời ca tụng ông. Trong khi chiến hữu của ông, Cleitus lại phản đối và cũng trong cơn say, ông này đã liên tục mắng nhiếc Alexander, rõ ràng lúc say nói thì Cleitus cũng không thật sự khôn ngoan, nhưng Cleitus đã làm Alexander nổi điên lên và không làm chủ được mình nên đã lấy vũ khí giết chết ông tại bữa tiệc. Hành động này của Alexander cũng thể hiện mặt tối trong việc không kiềm chế được bản thân, bị rượu và sự tức giận kiểm soát tâm trí. Sự việc xảy ra, Alexander rất hối lỗi và nhận trách nhiệm về mình không né tránh. Nhưng nỗ lực đưa lễ phục, lễ nghi Ba Tư vào triều đình Macedonia có thể là nỗ lực chính trị để 2 đất nước này có thể hòa đồng chung sống với nhau của ngài. Nhưng điều đó với người Macedonia lại rất khó được chấp nhận. Alexander cũng muốn hướng dư luận và người dân theo hướng ngài mang dòng máu của thần Heracle, và chiến công của ngài còn vĩ đại hơn các vị thần trước đó, và khi ngài qua đời, ngài cần được người dân tôn kính như 1 vị thần trên núi Olympus.
Phong tục quỳ lậy được thực hiện ở Ba Tư nhưng với người Hy Lạp, người Macedonia lại rất khác biệt, họ chỉ làm việc đó trước thần chứ không làm trước vua. Người viết sử cho Alexander và cũng là triết gia, học trò của Aristole Callisthenes đã phản đối dữ đội điều này, ông ta còn kích động 1 số quý tộc trẻ theo hầu Alexander giết vua nhưng vụ việc bất thành và cả nhóm bị xử tử kể cả Callisthenes.
Sau đó, Alexander vẫn ôm mộng tấn công Ấn Độ để hoàn toàn làm chủ khu vực châu Á. Trước tiên, ngài cho quân tiến tới dọc xông Oxus nơi có 1 số tộc người chống lại ngài và phản loạn gần đây. Các pháo đài đá hiểm trở ở Bactria đã cản trở Alexander rất nhiều trong việc giải quyết các nhóm người địa phương chống đối nhưng đều thành công tốt đẹp.
Cuối mùa xuân năm 327 TCN, Alexander bắt đầu hành quân tới Ấn Độ, ngài đã băng qua Caucasus, rồi trong 10 ngày tới vùng đấ Alexandria, vùng đất ngài đặt tên trong cuộc viễn chinh lần thứ nhất. 1 số người Ấn Độ đã đầu hàng Alexander và cũng bắt đầu cống nạp và đi cùng ông trong chiến dịch chinh phục Ấn Độ. Quân của ông tiến đến sông Ấn và vượt sông để chinh phục các vùng đất. Người dân địa phương đã chiếm cứ các vị trí dễ thủ khó công để tổ chức chống lại quân của ngài dọc đường đi, nhưng quân địa phương không chống trả lại được và biệt diết rất nhiều, còn lại đại đa số bỏ chạy lên các ngọn đồi và ngọn núi trốn thoát. Nhiều người đốt bỏ nhà cửa ruộng vườn và bỏ chạy để không cho quân Macedonia có lương thực trên đường hành quân.
Sau đó, ngài nhận được tin quân các địa phương đang tập trung lại 1 khu vực và đốt lửa trại rất lớn, và có vẻ quân số đông hơn quân Macedonia. Ngài cho rằng đó là mưu mẹo lừa bịp và quyết định tấn công ngay vào khu vực này. Ngài chia lực lượng làm 3 phần tiến đánh. Quân Ấn Độ với lực lượng áp đảo đã tỏ ra kinh thường quân Macedonia vì số lượng thua kém của họ nên đã bỏ các vị trí cao cố thủ mà xuống tiến đánh giáp chiến. Trận chiến thắng lợi với số tù binh lên tới 40k người, và có khoảng 230k con bò đực bị bắt làm chiến lợi phẩm sau cuộc chiến.
Sau đó, ngài tiếp tục đưa quân tới lãnh thổ của người Assacenia, những người theo báo cáo đang chuẩn bị 1 lực lượng gồm 2k kỵ binh và 30k bộ binh, cùng 30 voi chiến. Trận chiến ban đầu nổ ra tại thành Masaga với 7k quân thủ thành. Ngài cho đánh rồi giả thua để nhử quân trong thành ra ngoài và họ đã mắc bẫy khi rời thành truy đuổi quân Macedonia tới vị trí cách thành tới gần 2km, quân Ấn Độ bị cung thủ tấn công bất ngờ hoảng sợ bỏ chạy về thành. Hôm sau quân Macedonia dùng máy bắn đá phá thủng 1 lỗ và xâm nhập nhưng bị sự ngoan cường của quân thủ thành đánh bật ra ngoài. Tới ngày thứ, Alexander chuẩn bị chu toàn hơn vưới các pháo đài ngỗ, và bộ binh kết hợp tấn công vào các lỗ hổng trên tường thành nhưng quân quá lớn làm gẫy cầu và cuộc tấn công thất bại. Quân Ấn Độ chiến đấu rất ngoan cường nếu thủ lĩnh của họ vẫn còn sống. Nhưng khi vị thủ lĩnh này chết, quân sỹ lập tức mất nhuệ khí chiến đấu và xin đầu hàng. Các sứ giả đi đến các thành để yêu cầu đầu hàng đều thất bại, các thành trì tại Ấn Độ đều kiên quyết chiến đấu tới cùng mà không chịu đầu hàng ông, 1 phần nhờ ưu thế địa hình họ có được.
Tiếp theo, quân Alexander tiến đến thành Bazira, tại đây ông không tấn công mà lập 1 đơn vị đồn trú để ngăn cản người trong thị trấn ra ngoài và tiến quân tới Ora. Người thị trấn thấy quân Alexander kéo đi thì tự mãn ra ngoài thành và đụng độ với quân đồn trú, họ bị tổn thất nặng nề và lại phải kéo về cố thủ trong thành. Cuộc đột kích Ora lại khá dễ dàng khi ngay trong lần đột kích đầu tiên ông đã chiếm được thành này. Người dân tại Bazira sau khi nghe tin tuyệt vọng đã bỏ thành chạy trốn. Rất nhiều thành bỏ chạy và họ đều chạy về pháo đà đá của Aornos. Pháo đài này ở độ cao hơn 2.4k m với đương lên độc đạo rất khó đi và rất khó bị công phá, truyền thuyết kể Heracle cũng thất bại khi muốn hạ pháo đài này. Ngài kiểm soát các thị trấn lớn như Ora, Masage, Bazira để kiểm soát cả khu vực, trên đường hành quân tới pháo đài Aornos ngài cũng chiếm thêm các thị trấn nhỏ trên đường đi. 1 số người Ấn Độ đến đầu hàng và hướng dẫn ngài đến các vị trí có thể tấn công pháo đài dễ dàng nhất có thể. Quân của Ptolemy thiết lập được 1 cứ điểm ở trên núi, trong khi quân Alexander tiến triển chậm chạp và chưa đi tới đâu. Hôm sau, cả 2 cánh quân này cùng phát động tấn công và tạo ra gọng kìm kẹp quân Ấn vào giữa. Sau khi 2 đội quân gặp nhau quanh pháo đào, các cuộc đột kích không thành công. Ngài bắt đàu cho đào các công sự quanh đó để đưa quân canh gác vào tầm ngắm của cung thủ và máy bắn đá. Sau đó, quân Alexander chiếm được công sự là 1 đỉnh núi có chiều cao ngang pháo đài và bắt đầu lắp đặt các máy bắn đá để tấn công. Quân thủ thành nhìn thấy điều này hoàn toàn sụp đổ và xin đầu hàng. Nhưng nọ cũng định câu giờ để bỏ chạy trong đêm, ông đã giết rất nhiều người bỏ trốn khỏi pháo đài và dễ dàng hạ được pháo đài kih quân Ấn đang bỏ chạy khỏi đó.
Rời khỏi Aornos, Alexander đặt chân tới vùng lãnh thổ của người Asacenia, ông nhận được tin người ở đây đang chuẩn bị 1 lực lượng quân sỹ để chống lại ngài. Những người này đã chạy trốn đến Abisares và bỏ lại cả voi chiến bên bờ hồ.
5. Quyển 5
Alexander tiếp tục tiến tới thành Nysa, tương truyền do thần Dionysus sáng lập ra khi ông chinh phục Ấn Độ. Người dân thành đã đến cầu xin Alexander để thành được tự do và không tấn công họ với lòng thành kính với thần Dionysus. Alexander đã chấp thuận và tiếp tục cuộc chinh phạt của mình để găng so về sự thành công so với vị thần này. Ông yêu cầu người cai trị thành đưa ra thêm 400 người đi cùng ông để đi chiến đấu vượt sông Ấn đến các vùng đất mới. Lúc đó, Sông Ấn là con sống lớn nhất mà Alexander từng đi qua. Sau khi chuẩn bị đầy đủ và được sự gia nhập thêm của các thế lực Ấn Độ đã đầu hàng, quân Alexander đã vượt sông Ấn và tiến sâu vào lãnh thổ Ấn Độ. Lúc đó, người Ấn Độ rất nghèo và sống ở vùng khô cần, ở đó không có nhiều vàng như người ta truyền tai nhau. Dân Ấn Độ rất cao lớn và khỏe mạnh, Alexander hầu như đã đi hết Ấn Độ mà không thu được nhiều của cải cho lắm.
Ông thu thập các con thuyền, sau đó đặt mũi về phía trước và đuôi về phía sau, dùng neo đá neo cố định con thuyền lại, rồi cho con thuyền tiếp theo ở cạnh và cũn neo tương tự, sau đó đặt các tấm gỗ lên trên các con thuyền và tạo thành 1 phao nổi để vượt sông. Sau khi vượt sông, quân của Alexander kéo tới thị trấn Taxila, thị trấn phồng vinh nhất ở giữa sông Ấn và sông Hydaspes và tại đây ông được đón tiếp nồng hậu mà không gặp sự chống đối nào. Sau khi rời Taxila, ông chuẩn bị tiến đến sông Hydaspes thì gặp sự kháng cự của Porus, vị vua này đã tập hợp quân lính để ngắn chặn Alexander vượt sông. Ông cho di chuyển các con thuyền đã giúp ông vượt sông Ấn đến sông Hydaspes. Ngài mang theo toàn bộ quân và khoảng 5k quân Ấn đi cùng, phía bên kia bờ sông, Porus đã bố trí lực lượng để ngăn chặn Alexander vượt sông. Alexander chia quân nhỏ ra đi khắp bờ bên này tìm kiếm địa điểm thích hợp để vượt sông và chờ đợi cơ hội để vượt sông, trong khi Porus liên tục phải cảnh giác và canh gác mọi vị trí trên bờ sông, các con ngựa của ngài sẽ rất khó vượt sông an toàn khi voi chiến gầm lên làm chúng hoảng sợ. Sẽ rất khó vượt sông vì quân Porus canh phòng cẩn thận và sẵn sàng đánh tả nếu ông cố vượt sông. Thay vì chờ đợi, hàng đêm ông đều cho tín hiệu giả vượt sông làm quân Porus luôn cẳng thẳng cảnh giác, sau đó Porus không kéo quân đi tới các khu vực có hò reo nữa mà đóng tại chỗ, cùng bố trí các trạm gác dọc bờ sông, và ông nghĩ Alexander sẽ không bất ngờ vượt sông nữa. Cuối cùng, Alexander chọn được 1 vị trí cách vị trí đóng quân khoảng 29km, ở đó có 1 đảo ở giữa sông thuận tiện cho việc vượt sông. Trong 1 đêm mữa, Alexander đã an toàn tới hòn đảo giữ sông, rồi từ đó tát nước đi và sang bờ bên kia thuận lợi. Lính canh gác đã ngay lập tức báo cho Porus về việc Alexander đã vượt sông. Con trai của Porus dẫn quân ngăn cản nhưng khi thấy lực lượng vượt sông hùng hậu quân Ấn đã bỏ chạy và con của Porus tử trận.
Quân Alexander lúc đó đã tập hợp được khoảng 6k bộ binh và 5k kỵ binh, Ngài hi vọng nếu Porus tiến đánh với lực lượng nòng cốt là kỵ binh sẽ đáp trả thích đáng, nếu quân Ấn Độ bỏ chạy ngài sẽ truy kích họ 1 cách nhẹ nhàng. Porus sau khi nghe tin đã để lại 1 phần nhỏ quân theo dõi quân Macedonia bên kia sông, còn lại Porus dẫn theo 4k kỵ binh, 300 chiến xa, 200 voi chiến và 30k bộ binh tổng tấn công cánh quân Alexander đã vượt sông. Quân Porus sắp xếp với voi chiến và bộ binh hạng nặng phía trước, điều này đã ngăn cản việc tiến đánh vào trung quân của Alexander do voi chiến sẽ làm ngựa chiến hoảng sợ và làm bộ binh mất dần nhuệ khí khi đối mặt. Alexander chọn tấn công vào cánh trái của quân Ấn để tránh mặt trước có voi chiến, điều này làm quân Ấn phải di chuyển kỵ binh tới chống đỡ, thì quân Macedonia lại tấn công từ phía sau làm họ phải chia kỵ binh ra chống đỡ ở cả 2 mặt. Alexander cho quân tổng tấn công vào cánh trái, kỵ binh Ấn rút lui vào sau vòng tuyến voi chiến. Kỵ binh Macedonia chiến đấu với voi chiến, trong khi bộ binh thì bắn hạ nhưng người điều khiển voi chiến. Đội hình phalanx của quân Macedonia bị tan vỡ, nhưng quân Ấn Độ quá non kém kinh nghiệm không tân jdungj được và thua kém về sức mạnh nên bị đầy lùi liên tục. Đàn voi chiến bị lùa vào 1 không gian hẹp và bắt đầu giẫm đạp hoảng loạn, các bộ binh Ấn đi cùng voi chiến là nhóm bị thiệt hại nặng nề nhất trong trận hỗn loạn này. Sau cơn hoảng loạn do voi chiến, bộ binh hạng nặng Macedonia với khiêng và giáo dài áp sát và tiêu diệt tiếp tục bộ binh Ấn Độ, quân Ấn bỏ chạy thục mạng. gần 20k bộ binh Ấn Độ và khoảng 3k kỵ binh bỏ mạng trong trận chiến này. Quân Macedonia chỉ bị thiệt hại khoảng 80 bộ binh, 10 cung thủ, 20 kỵ binh chiến hữu, và 200 kỵ binh khác. Porus chiến đấu rất dũng cảm như 1 vị anh hùng, khi thất bại ông bắt đầu cho quân rút lui trong trật tự. Sau đó Alexander cho người Ấn gặp ông để nói muốn ông đầu hàng mà không muốn giết, Porus đồng ý và được Alexander trả lại cho quyền lực tiếp tục cai trị vương quốc của mình. Sau chiến thắng, Alexander thiết lập 2 thành phố và tổ chức lễ hiến tế rồi tiếp tục lên đường dọc biên giới của vương quốc của Porus. Khoảng 37 thị trấn bị hạ và sau đó ông giao chúng lại cho Porus quản lý, ngại cũng giải quyết mối bất hòa giữa Porus và Taxiles, cũng như tiếp nhận sự đầu hàng của nhiều vương quốc khác trên đường đi.
Trên đường truy đuổi 1 vị vua đã đầu hàng sau đó lại phản bội, Alexander tiến tới sông Hydraotes, sau đó ông vượt sông và nhận được tin bộ tộc Cathaei đang tập hợp quân tại Sangala và đang kêu gọi người tụ tập để chống lại cuộc xâm lược của Alexander. Quân Cathaei đã tập hợp và dùng xe ngựa tạo 3 vòng quây quanh thị trấn để phòng thủ. Ban đầu ngài dùng cung thủ cưỡi ngựa tấn công nhưng không đạt được mấy hiệu quả. Sau đó ngài xuống ngựa sử dụng bộ binh để đột kích, họ dễ dàng phá được vòng ngoài cùng, sau đó cũng đột phá được vòng phòng thủ thứ 2 1 cách khó khăn, tới vòng phòng thủ thứ 3 thì quân Ấ Độ hoảng sợ đã chạy vào trong thị trấn và đóng cửa thành. Bên ngoài thành, có 1 hồ nước là khe hở bao vây, ngài đã không bao vây toàn bộ thành mà phục kích tại đó, nửa đêm quân Ấn Độ hầu hết đã rời thành để trốn đi trong đêm và gặp phục kích bị tấn công thiệt hại rất nặng, những người còn lại vội vàng bỏ chạy về lại thành cố thủ. Lần phá vòng vây thứ 2 trong đêm cũng tại hồ vẫn thất bại và quân thủ thành tiếp tục bị giết thêm hàng loạt. Sau đó, 5k lính Ấn Độ đến tiếp viện và Alexander sau đó tấn công phá được thành, 17k người Ấn Độ bị giết, 70k người bị bắt làm tù binh, 500 kỵ binh và 300 chiến xa bị bắt giữ. Sau đó cài đốt thị trấn do dân trong thành thù địch bỏ trốn. Ngài trao quyền cai quản lại cho Porus để thiết lập các đơn vị đồn trú và thành phố mới tại đây.
Ngài tiếp tục di chuyển và tím kiếm các tín hiệu thù địch, bất kỳ nơi đâu ngài tìm thấy sự chống đống sẽ dẫn quân tới đập tan mọi sự chống đối này, ngài muốn cả đất nước Ấn Độ đều phải nghe theo lệnh ngài và phải phục tùng ngài. Ngài định tiếp tục tấn công tới khu vực giầu có lưu vực sông Hyphasis, nhưng các tướng lĩnh và quân đội của ngài lại quá mệt mỏi trong các cuộc chiến liên tục nên bắt đầu nản lòng thoái chí và muốn dừng lại. Alexander đã hùng biện để tiếp tục cuộc chiến nhưng các tướng lĩnh của ông đều im lặng muốn về nhà, ngài vẫn định quyết tâm tiếp tục nhưng khi lễ hiến tế thực hiện nhiều dấu hiệu tiên tri phản đối điều đó nên ngài chấp nhận dừng lại và rút quân.
6. Quyển 6
Ngài chuẩn bị các thuyền để vượt biển nhằm quay về nhà. Trước khi rời đi, Alexander phong Porus là vua của Ấn Độ và cai trị toàn cõi Ấn Độ mà ông đã chinh phục được với 7 vương quốc và khoảng 2.000 thị trấn. Các chiến thuyền chở quân của Alexander nhổ leo vào theo dòng Hydaspes với khoảng 120k lính tổ chức thành 3 sư đoàn. Quân của ông tiến tới vùng đất của người Malli và Oxydracae là những người thiện chiến và giầu có nhất tại quanh khu vực này. Trên đường đi, quân của ngài đã đột phá quân Malli gây thiệt hại lớn cho quân Malli (khoảng 50-90k bộ binh và khoảng 10k kỵ binh), họ bỏ chạy và Alexander tiếp tục tiến đến bằng con đường khó đi và đột kích họ tại 1 thị trấn nơi họ không được trang bị kỹ càng. Quân Malli tiếp tục tập hợp quân phòng vệ tại 1 thị trấn của người Bà la Môn, ông ngay lập tức kéo quân tới khu vực đó để đập tan sự chống đối này. Quân Macedonia nhanh chóng bao vây và tấn công thành này, Alexander tiến lên trấn giữ vị trí thành bị thủng do quân của ngài mất nhuệ khí từ trước mà không muốn đánh, sau đó quân lính của ngày cũng tiến lên đánh và chiếm được cứ điểm của người Malli này. Quân Malli tập hợp khoảng 50k người nhưng cũng nhanh chóng bỏ chạy khi Alexander kéo đến. Sau khi xâm nhập vào thành, quân lính của ngài đã kinh địch khi không mang theo thang dây leo thành trong khi quân trong thành vẫn cổ thủ ở trong, quá nóng lòng, Alexander đã tự chèo lên thành tấn công vào, hàng loạt người trèo theo nhưng sức nặng quá lớn thagn dây đứt, 1 mình Alexander ở trên tường thành và thành mục tiêu ngắm bắn, suy nghĩ chốc lát ngài nhẩy xuống tường thành vào trong nội thành để chiến đấu. Binh lính bên ngoài hoảng loạn khi thấy vị vua của họ 1 mình xâm nhập, họ đi lấy thang dây, phá cửa thành để vào cứu vị vua của mình. Ngài chiến đấu rất anh dũng, nưng cũng trúng 1 mũi tên bị thương rất nặng, cuối cùng quân lính cũng kịp vào cứu ngài ra trong tình trạng nguy kịch. Sau khi phá được thành, họ đã thảm sát toàn thành để trả thù cho vị vua của mình. Ngài phải nằm im để điều trị vết thương 1 thời gian dài, trong khi đó quân lính loan tin đồn ngài tử trận và họ cực kỳ hoang mang lo sợ vì họ đang ở khu vực toàn các tộc thiện chiến dã man và nếu tin Alexander qua đời, chắc chắn họ sẽ nổi loạn để giành lại độc lập. Kẻ thù của họ quá nhiều vào bao vây quanh họ. Sau khi quân lính của ngài lên tầu và tiếp tục xuôi theo dòng, cuối cùng ngài cũng tỉnh và ra chào quân sỹ, quân sỹ hoan hô dậy trời và cảm tạ vì vị thống soái của họ vẫn bình an. Các chiến hữu đã trách móc ông rất nhiều vì sự liều lĩnh chiến đấu của ông gây nguy hiểm cho toàn quân. Những người Malli còn lại đến xin đầu hàng và được chấp thuận.
Sau đó, Alexander cử người đến gặp quốc vương của Musicanus, được coi là người giầu nhất Ấn Độ, nhưng ông này đã không trả lời việc có tiếp kiến hay đầu hàng hay không. Alexander cho quân thần tốc tiến tới và quân ông tới Musicanus vị quốc vương này mới biết và nhanh chóng đến gặp Alexander cùng cống phẩm của mình.
Trong khi đó, người Oxydracae vẫn giữ thái độ im lặng với yêu cầu của ngài, ngài đã dân quân tới tấn công người Oxydracae. 2 thị trấn lớn của người dân tịa đây bị phá dễ dàng và người Oxydracae bị phá vỡ nhanh chóng 1 cách đơn giản. Không tộc nào dám chống lại ông trước chuỗi chiến thắng liên tục đáng kinh ngạc và bất bại của ông.
Tiếp theo, quân của Alexander tiến đến Sambus, người tự phong mình là thủ lĩnh của các bộ tộc Ấn Độ vùng cao. Thủ lĩnh tộc này đã bỏ chạy khỏi thị trấn và ngài dễ dàng chiếm được nó. Trong khi đó, Musicanus lại phản bổi và nổi dậy và bị đàn áp và bị bắt tới trị tội và Alexander đã giết rất nhiều người Bà La Môn vì bị quy cho đã xúi giục những người Ấn Độ làm phản chống lại ông. Sau đó ông tiếp tục theo dòng sông Ấn ra tới Ấn Độ Dương và bắt đầu dong thuyền đi tới vịnh Ba Tư. Xong việc, ngài lại từ Ba Tư quay trở lại Pattala, nơi quân Macedonia đang xây dựng pháo đài. Sau đó ngài thực hiện chuyến hải hành thứ 2 từ 1 nhánh của sông Ấn. Chuyến hải hành này tấn công vào tộc người Oreitae đang tỏ ra thù địch với quân của ngài. Những người này biết rằng mình không chống lại được nhưng quyết không đầu hàng, ngài dẫn quân tới và chia nhỏ quân ra các khu vực và kiểm soát cả vùng đất, giết chết những kẻ cứng đầu chống lại ngài. Sau đó người Oreitae định chống lại tiếp nhưng không chống lại được nên chấp nhận đầu hàng ngài. Ngài tiếp tục chinh phạt các bộ tộc người khác và đưa họ vào dưới quyền kiểm soát. Tiếp theo ngài cho quân tấn công người Gedrosia, ông lại chọn con đường quá gian khổ để đi, con đường này trước đây hầu như các cánh quân đều thất bại khi di chuyển, ông muốn chứng minh mình giỏi hơn những người khác nên quyết tâm đi con đường cực kỳ khó khăn khắc nghiệt này. Binh lính kiệt sức, thiếu nước, lương thực trầm trọng do cái nắng khủng khiếp, gia súc chết, binh lính giết gia súc, ngựa để ăn vì không chúng cũng chết đi,.. kỷ luật quân đội đi xuống trầm trọng. Quân Alexander đã thiệt hại lớn trên đường tới Gedrosia. Sau khi tới nơi ông cũng thành công chiếm nơi này, rồi từ đây ông lại tiếp tục di chuyển tới Carmania, sau khi chỉnh đốn lại các thống đốc địa phương, ông tiếp tục di chuyển đến Ba Tư và xử lý các vấn đề trong quản lý hành chính tại địa phương này cũng như các vấn đề quan chức địa phương gây rối loạn.
7. Quyển 7
Tới khu vực ngài chiếm đóng, ngài lại tiếp tục tiến tới Tigris, rồi vịnh Ba Tư. Rồi ngài tiếp tục khám phá khu vực như khi khám phá sông Ấn. Ngài đã là chủ của hầu như cả đại lục Á – Âu và chiếm đóng nhiều hơn rất nhiều so với các đế quốc khác như Media hay Ba Tư từng làm được. Nhưng ngài luôn không thỏa mãn với điều đó, dòng máu trong ngài luôn thôi thúc ngài phải đi chinh phục tiếp các vùng đất mới, khám phá nó. Trong khi những tướng lĩnh của ngài thì lại thấy hài lòng với những gì đã có và muốn được hưởng thụ nó thay vì tiếp tục chiến đấu cật lực và gian khổ cho ngài.
Ngài ra sức củng cố đế chế của mình và sẵn sàng chuẩn bị cho việc trở thành nhà cai trị vĩ đại. Ngài cũng tổ chức hôn lễ với những cô gái mà ngài đã chọn, ngài cũng lựa chọn hôn lễ tập thể cho hàng chục ngàn binh sỹ người Macedonia với các dân tộc Châu Á và theo tục lệ Ba Tư. Ngài cũng tổ chức xóa nợ cho nhiều lính và ban thưởng lớn cho những người trung thành đi theo ngài trong các trận chiến chinh phục trước đó. Tuy nhiên, các phong tục ngày áp dụng chủ yếu lại theo phong tục người Ba Tư và Media dẫn tới sự bất mạn của nhiều thành phần người Macedonia và Hy Lạp vốn coi trọng phong tục Hy Lạp và coi các phong tục Ba Tư là lạc hậu và thấp kém. Ngài cũng bổ sung nhiều binh linh phương đông vào các đội kỵ binh của mình và lính Macedonia cũng giảm dần, trang bị tiêu chuẩn Macedonia cho các đạo quân toàn lính phương Đông cũng làm mâu thuẫn giữa người Macedonia mang trong mình dòng máu tự hào của kẻ chiến thắng trở lên tức giận với những người gốc Châu Á thất trận. Người châu Á ngày càng có số lượng áp đảo vào chiếm nhiều vị trí cao hơn so với những người Macedonia và càng khoét sâu hơn mối bất hòa chủng tộc trong người Macedonia.
Sau 1 bài phát biểu dài đầy súc động ở Susa, các quân sỹ của ngài đã hồi tâm chuyển ý và tiếp tục đi theo ngài cũng như dần chấp nhận người Ba Tư trong quân đội. Cách ngài đưa quân Ba Tư vào quân mình chủ yếu là mục tiêu chính trị để có thể cai trị được đế chế Á – Âu rộng lớn và đa dạng về mặt văn hóa, chủng tộc của mình. Sau đó khoảng 10k quân Macedonia đã già yếu hồi hương về quê nhà khi đã không còn đủ sức khỏe để làm việc với những khoản trợ cấp và đền bù lớn cho họ, họ trở về như những vị anh hùng sau chiến thắng.
Các vấn đề cai trị là các chủ đề tiếp theo của ngài, cơ cấu lại thể chế, quân đội, hòa đối mối văn hóa, sắc tộc trong 1 đế quốc rộng lớn của ngài. Bên cạnh đó, cái chết của chỉ huy đội kỵ binh Chiến hữu Hephaestion cũng làm ngài rất đau khổ 1 thời gian và đổi tên cả đội kỵ binh chiến hữu sang tên Hephaestion. Sau khi vượt qua nỗi đau này, ngài lại suất quân tiến đánh người Cosaea là những người thân cận với người Uxia. Dân tộc này khi thấy có quân tiến đánh sẽ bỏ chạy và khi đạo quân đi họ sẽ lại quay trở lại cướp bóc, nhưng rồi Alexander cũng diệt được những người này,
Trên đường hành quân trở về Babylon, ngài gặp những nhà tiên tri và khuyên ngài nên đi về phía tây thay vì tiếp tục đi về phía đông. Nhưng có lẽ ngài quá buồn với cái chết của người bạn Hephaestion nên ngài đã không nghe theo những lời tiên tri mà tiếp tục lên đường hướng về phía Đông. Sau khi về Babylon, ngài tiếp các sứ thần đến chúc tụng và tôn vinh ngài vì thành công rực rỡ chinh phục châu Á. Sau đó ngài sắp xếp xây dựng lại lực lượng hải quân để có thể tiếp tục chinh phạt các nước mà không gửi sứ thần đến chúc mừng ngài, đây là động lực mảnh mẽ thúc đẩy ngài.
Xứ Ả Rập là nơi ngài dự kiến sẽ chinh phục tiếp theo, ngài muốn họ thờ phục ngài như 1 vị thần bên cạnh 2 vị thần mà họ đang thờ phụng là thần Uranus và thần Dionysus. Ngài cũng cho nhiều nhà thám hiểu hàng hải đi khảo sát các khu vực và đặc biệt bán đảo Ả Rập trước để tìm kiếm mục tiêu chinh phục tiếp theo. Sau khi ở Babylon 1 thời gian khá lâu mà các lời tiên tri về vận rủi của ngày không thành hiện thực, Alexander lại trở lại tự tin và bắt đầu hừng hực khí thế chinh phục mới.
Các điều rủi tiếp tục xảy ra với Alexander khi có người chạy đến ngồi lên ngai vàng của ngài. Sau đó ngài tiếp tục tổ chức lễ hôi, ăn uống, tắm rồi uống rượu liên tục. Ngài bị sốt nhưng vẫn ra chuẩn bị xuất quân, thực hiện các lễ nghi tôn giáo. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, nhưng ngài vẫn duy trì họp bộ tham mưu, thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Liên tục nhiều ngày và sức khỏe ngày càng trở lên tuyệt vọng hơn. Sau đó ngài qua đời với lời dặn để lại ngai vàng cho “người giỏi nhất”. Alexander mất vào 10/6//323 TCN, hưởng họ 32 tuổi 8 tháng, ông trị vì thời gian 12 năm 8 tháng. Ngài là người có vẻ ngoài rất điển trai, có sực chịu đựng phi thường, và 1 trí tuệ sắc sảo, ngài dũng cảm, ưa mạo hiểm, nghiêm chỉnh tuân theo các nghĩa vụ tôn giáo của mình và luôn khát khao danh vọng. Ngài rất kiềm chế các nhu cầu xác thịt, ngài chỉ có đam mê vinh quang là khôn cùng. Ngài có tài năng tháo gỡ khso khăn và giải quyết các tình huống mâu thuẫn. Ngài tìm thấy niềm vui trong việc đưa ra các suy luận từ việc quan sát thực tế. Alexander là 1 bậc thầy về khả năng quân sự, truyền cảm hứng cho binh lính, khiến họ tràn ngập trong kiêu hãnh, lúc nguy hiểm ngài quyét sạch nỗi sợ hãi trong họ bằng cách cho thấy sự dũng cảm của ngài. Khi găp tình huống mạo hiểm, Alexander dẫn dắt toàn quân với sự táo bạo phi thường và khả năng nắm bắt thời khắc 1 cách nhanh nhạy trước khi quân địch kịp băn khoăn xem điều gì đang diễn ra.



















