Ngũ luân thư (Gorin No Sho) – Miyamoto Musashi
Miyamoto Musashi sinh ra trong 1 gia đình samurai truyền thống nhưng bị mất cha mẹ từ khi lên 7. Sau đó ông trải qua hơn 60 trận quyết đấu và chiến thắng mọi đối thủ và trở thành kiếm thánh đệ nhất Nhật Bản khi 30 tuổi. Trong quá trình này ông đã trải qua trận chiến tranh khốc liệt nhất lịch sử Nhật Bản từ cổ đại tới cận đại là trận Sekigahara, mà ngày nay gọi là tử địa Sekigahara khi mà có khoảng 70k quân đã chết tại đây giữa 2 phe Tây quân và Đông quân mà Miyamoto ở bên thua cuộc Tây quân và đã sống sót để ra khỏi tử địa cũng như chuỗi ngày gian nan bị truy đuổi tàn sát của bên thắng cuộc là Đông quân.
Ngũ luân thư được ông viết vào cuối đời khi ẩn cư ở 1 hang động. Trước đó sau khi từ giã đấu kiếm ở tuổi 30, ông đã có hơn 20 năm sau đó ông chỉ luyện kiếm, dậy kiếm, phát triển kiếm pháp, thực hành chiêm nghiệm thiền đạo và kiếm đạo, rèn luyện thư pháp, tranh thủ mặc, tranh khắc gỗ,… ông cũng sáng tạo ra trường phái song kiếm (nhị thiên nhất lưu) được sử dụng mãi về sau này.
- Địa chi quyển
Binh pháp là nghề của binh gia, tướng phải biết áp dụng binh pháp và binh thì phải hiểu được nó. Đạo của binh gia là sự kết hợp kỳ diệu của bút đạo và kiếm đạo, và kẻ là võ sĩ nên tinh thông văn võ. Bất kỳ ai cũng có thể trở thành binh gia bằng cách kiêm tâm theo đuổi cả 2 lĩnh vực đó.
Đạo của võ sĩ là bất khuất, sẵn sàng chấp nhận cái chết. Họ nghiên cứu binh pháp để vượt lên mọi giới hạn của con người. Chiến thắng bằng so kiếm trong các trận thư hùng đơn độc hoặc bằng chách dấn thân vào các trận hỗn chiến giữa chốn 3 qân, ta có thể mang lại danh tiếng và quyền lực cho lãnh chúa của mình và cho bản thân mình. Đây là ý nghãi thâm thúy của binh pháp.
- Đạo của binh pháp
Có rất nhiều người tự nhân hoặc được tôn xưng là các binh pháp gia, nhưng thực ra họ chỉ là các kiếm sĩ kiếm sống bằng dậy kiếm thuật cơ bản. Thời xưa, bình pháp được liệt vào thập nghệ và thất kỹ. Các binh pháp gia luôn phát dương cái lợi và tính thực dụng của nó. Nó quả là 1 nghệ thuật, nhưng với tư cách là 1 pháp tu luyện bổ ích và không chỉ giới hạn ở kiếm thuạt. Chân giá trị của binh pháp không thể khu trú chỉ trong giới hạn của kiếm thuật.
Có 4 đạo làm người trong đời: sĩ – nông – công -thương.
- Đạo của nông thu: anh ta sử udngj đủ loại nông cụ, dùng cả đời mình để quan sát sự chuyển tiếp của 4 mùa và sự biến đổi của mùa vụ
- Đạo của thương nhân: người làm rượu duy trì sinh kế bằng cách thu thập các nguyên liệu và lên men thành rượu. Cách sống của thương nhân là luôn luôn mưu cầu lợi nhuận. Đó là đạo của kè làm ăn buôn bán
- Đạo của võ sĩ: mang theo bên mình vũ khí hành đạo. Đọa của người võ sĩ là phải biết thấu hiểu đặc tính và cách sử dụng các vũ khí mình mang theo. Nếu coi thường binh khí, võ sĩ sẽ không quý trọng cái lợi ích của vũ khí, cho nên niềm yêu thích vũ khí là điều rất cần cho binh gia.
- Đạo của nghệ nhân: đạo của người thợ mộc là trở nên thành thạo trong việc sử dụng các công cụ nghề mộng, trước tiên là thước tất chính xác và tiếp đó là triển khai công việc theo đúng bản vẽ. Và anh ta sống như thế cho đến hết cuộc đời của mình.
- So sánh đạo của người thợ mộc và binh pháp
Phép so sánh trong nghề mộc được thực hiện thông qua các ngôi nhà, lâu đài của hàng quý tộc, phòng ốc của võ sĩ, tứ đại danh gia, nhà của 4 giới, các phế tính hưn vong, sự trùng tu, phong cách, tập quán và tên gọi của ngôi nhà. Người thợ mộc dùng bản vẽ lớn để dựng nhà. Binh phấp cũng tương tự, vì cũng cần 1 bản kế hoạch để chiến đấu.
Trong làm mộc, người thợ cả đứng đầu nhóm thợ phải hiểu được quy luật của thiên nhiên, pháp luật của đất nước, gia quy của các danh gia vọng tộc. Đó là cái đạo của người thợ cả. Người thợ cả phải học thuộc lòng phép đo các đền đài, bản vẽ những lâu đài và cách xây từng ngôi nhà cho người ở. Phải biết sử dụng người để xây nhà. Cái đạo của người thợ cả tương tự như cái đạo của người chỉ huy các gia tướng.
Người thợ cả phải biết ghi nhận tài năng và hạn chế của đám thợ. Anh sâu sát với họ và không bao giờ đưa ra cho họ những đòi hỏi vô căn cứ. Anh thiếu hiểu được tinh thần và tâm tư của họ, và khích lệ họ khi cần thiết. Điều này cũng tương tự như nguyên lý của binh pháp.
- Tâm đắc của sĩ tốt về đạo của binh pháp
Như 1 chiến binh, người thợ mộc mài giũa đồ nghề của mình. Anh ta mang theo dụng của của mình trong hộp đồ nghề và lao động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của thợ cả. Anh ta làm cột trụ và dầm bằng cây rìu, đẽo gọt ván sàn và kệ sách bằng cái bào, anh ta cưa cắt chạm trổ tỉ mỉ,..khi tay nghề của người thợ mộc trở nên nhuần nhuyễn, học được các phép đo và hiểu được bản vẽ, anh ta có thể trở thành thợ cả.
Sự thành đạt của người thợ mộc là nhờ những dụng cụ chính xác và sắc bén. Đây là các phương pháp chuyên nghiệp của người thợ mộc. Sự thể cũng tương tự đối với người chiến binh. Cái đạt của người thợ mộc là công trình của mình trung thành với bản thiết kế, không bị cong vênh, lệch lạc, chứ không phải chỉ hoàn tát trong từng phần. Đây là điểm thiết yếu.
- Khái lược nội dung của ngũ quyển
Đạo của người võ sĩ được trình bầy trong quyển sách được chia làm 5 quyển: địa – thủy – hỏa – phong – không.
Địa chi quyển: sẽ diễn giải phần chính của đạo binh pháp theo quan điểm nhất lưu. Cần phải hiểu những việc nhỏ nhặt nhất và lớn trọng nhất, những điều nông cạn nhất và sâu sắc nhất. Như 1 con lộ thẳng được vạch ra rõ ràng trên mặt đất mênh mông.
Thủy chi quyền: lấy nước làm căn bản thì tinh thần trở thành như nước. Tinh thần của con người phải giống như nước, nước có thể thay đổi bản thân để thích ứng với vật đựng nó, khi thì chảy róc rách như 1 dòng suối nhỏ, lúc lại thét gào như 1 vùng biển sóng gió. Như nước có màu xanh trong vắt, thủy chi quyển sẽ trình bày đặc tính trong vắt như nước của môn phái nhất lưu. Ta nếu đánh thắng được 1 người thì sẽ có thể đánh được vạn người. Nắm được 1 điều thì suy ra được vạn sự.
Hỏa chi quyển: đề cập đến đấu kiếm. Đặc tính của lửa là hung bạo, dù ngon lửa nhỏ hay lớn, điều này phù hợp với các trận đánh. Cái đạo của chiến trận cho những trận thư hùng giữa 2 người cũng giống như cho những trận chiến với hàng vạn người mỗi bên. Binh đoàn của địch càng lớn thì dễ quan sát thấy, càng khó di chuyển đội hình, do đó ta có thể dễ dàng tiên đoán được các chuyển động của nó. 1 cá nhân có thể thay đổi tâm ý 1 cách dễ dàng, vì vậ, hành tung của y khó có thể tiên liệu. Vì vậy, ta phải rèn luyện ngày đêm mưu lược thành 1 phần của cuộc sống thường nhật.
Phong chi quyển: quyển này không chỉ nói về bôn môn là nhị thập nhất lưu mà còn đề cập đến các môn phái khác. Chữ phong ở đây là cổ phong, các truyền thống thời nay và các binh pháp của các đại gia tộc. Ta cần hiểu rõ các binh pháp trong thiên hạ, và hiểu được sự khác biệt của nhị thiên nhất lưu với các môn phái khác trong thiên hạ.
Không chi quyển: không ở đây có nghĩa là vô thủy vô chung, tức là không có bắt đầu cũng không có kết thúc. Ngộ đạo tức phi ngộ đạo. Đạt nguyên lý này có nghĩa là không đạt nguyên lý nào. Đạo của binh pháp là cái đạo của thiên nhiên. Khi người coi trọng sức mạnh cảu tự nhiên, ngươi sẽ cảm nhận được nhịp điệu của mọi tình huống, ngươi sẽ có thể ra đòn 1 cách tự nhiên và đánh trúng đối thủ 1 cách tự nhiên. Tất cả những điều này đều là đạo của không.
- Danh xưng “nhị thiên nhất lưu”
Các võ sĩ, từ tướng quân đến binh sĩ, đều mang 2 thanh kiếm nơi đai. Chúng được gọi là kiếm và đoản kiếm. Các võ sĩ đều mang 2 kiếm ở thắt lưng. Đây la Đạo của võ sĩ.
Môn sinh của binh pháp nhị thiên nhất lưu phải bắt đầu luyện tập với đoản kiếm và trường kiếm trong 2 tay. Khi phải chấp nhận hy sinh tính mạng, ngươi buộc phải tận dụng hết khả năng vũ khí của mình. Chết mà chưa tuốt gươm ra là điều đáng tiếc nhất.
Việc cầm kiếm bằng 2 tay sẽ làm ta khó lòng sử dụng 1 cách thuận tiện. Nên phương pháp của nhị thiên nhất lưu là câm kiếm bằng 1 tay. Điều này không dùng cho các vũ khí cỡ lớn như thương và kích. Cầm kiếm bằng cả 2 tay sẽ khiến ta bị lúng túng khi cưỡi ngựa phi, khi chạy trên đường gập ghềnh, hay qua vùng lầy lội, trên đường núi sỏi đá hay giữa đám đông chen chúc. Lúc cần thiến có thể dùng 2 tay nhưng về cơ bản thì cần sử dụng mỗi tay 1 kiếm.
Việc rèn luyện cầm kiếm bằng 1 tay thoạt tiên có vẻ khó khăn, nhưng việc rèn luyện hàng ngày sẽ giúp điều này trôi chảy và thuận tiện. Không có cách nào học cấp tốc kỹ thuật múa trường kiếm. Trường kiếm phải được loang 1 cách khoáng đạt và đoản kiếm thì phải vung 1 cách sít sao. Đây là điều trước tiên phải nhận thức.
Vận dụng binh pháp của Nhị Thiên Nhất Lưu, ta có thể chiến thắng với 1 thanh kiếm dài và cũng có thể chiến thắng với 1 thanh kiếm ngắn hơn. Cái đạo của Nhị Thiên Nhất Lưu là tất thắng, bất kể là dùng loại vũ khí nào và dài ngắn ra sao.
Khi giao đấu với 1 đám đông, sử dụng song kiếm có ưu thế hơn đơn kiếm, đặc biệt khi cần bắt tù binh. Khi đã lĩnh ngộ được binh pháp, không có điều gì mà ta không thông suốt được. Ta cần phải công phu miệt mài rèn luyện.
- Thấu triệt được lợi ích của binh pháp
Các bậc thầy của trường kiếm được gọi là binh pháp gia. Các loại binh khí khác như cung, pháo, thương, kích là 1 phần vũ khí của mọi võ sĩ. Làm chủ được thanh trường kiếm là làm chủ được thế giới và làm chủ được bản thân mình.
Vì vậy, trường kiếm là nền tảng của binh pháp. Đây là nguyên lý dùng trường kiếm đạt binh pháp. Nếu 1 võ sĩ đạt được cahan ý của trường kiếm thì có thể lấy 1 thắng mười. Cũng như 100 người như thế có thể đánh bại 1.000 người và 1.000 người có thể hạ được 1 vạn người. Đạo tồn tại trong mọi sự. Ta phải trau dồi, hoàn thiện đạo riêng của mình.
- Lợi ích của vũ khí trong binh pháp
Ở nơi chật hẹp, hoặc ở vào thế cận chiến với 1 đối thủ thì sử dụng đoản kiếm là tốt nhất. Còn trường kiếm có thể sử dụng hữu hiệu trong mọi tình huống.
Đại dao kém hơn so với thương trên chiến trường. Với cây thương có thể chiếm thượng phong, đại đao là vũ khí có tính phòng ngự. Trong trận chiến giữa 2 người thì người cầm thương thường có ưu thế hơn người cầm đại đao. Cả thương và đại đao đều không tiện dụng ở nơi địa thế chật hẹp.
Cung chiếm ưu thế lúc khởi đầu 1 trận đánh, nhất là các trận chiến trên các cánh đồng, có thể nhanh chóng nhắm bắn vào giữa đám binh sĩ cầm thương. Tuy nhiên, nó không đáp ứng được yêu cầu của các trận công thành hoặc khi kẻ địch ở xa hơn 40 trượng. Ngày nay rất ít trường phái cung thuật cổ điển còn tồn tại. Nó không còn đất dụng võ nữa.
Bên trong thành quách, không vũ khí nào bằng được súng hỏa mai. Nó là vũ khí ưu việt nhất trên chiến địa trước khi các hàng quân giao tranh trực tiếp với nhau. Nhưng khi cận chiến thì súng lại trở nên vô dụng.
Khi sử dụng, Cung có thể nhìn được đường ngắm bay trong khi đường đạn thì ta không nhìn được. ngựa thì phi nước đại, còn kiếm và đoản kiếm cũng phải đâm chém như vũ bão. Thương và đại đao phải chịu được sức tấn công, cung và súng phải cứng cáp. Vũ khí phải mạnh mẽ hơn là tính trang trí. Ta cũng không được chỉ tập trung sử dụng 1 loại vũ khí sở trường mà bỏ qua sử dụng các loại vũ khí khác.
- “Phách” trong binh pháp
Làm bất cứ việc gì cũng phải đúng “phách”, không khổ công thì không thể nắm bắt được thời cơ nhịp điệu, diễn biến trong binh pháp. Trong vũ đạo và diễn tấu âm nhạc, nắm bắt đúng nhịp phách là vô cùng quan trọng, vì chúng chỉ có nhịp điệu khi thời gian được tính đúng. Tính đúng thời gian và nhịp điệu cũng liên hệ đến các môn võ nghệ, bắn cung và bắn súng cũng như môn cưỡi ngựa. Mọi kỹ nghệ và khả năng đều có thời điểm.
Chữ phách tồn tại trong suốt cuộc đời của người võ sĩ, bất kể là khi đang lên hay lúc suy vi, khi hòa hợp cũng như lúc bất đồng,… Tương tự, trong cái đạo của thương nhân cũng có thời cơ, lúc lãi thêm vốn hay lúc lỗ đi. Mọi chuyện thịnh vượng và lúc suy vong, mọi chuyện đều bị phách nhịp khống chế. Ta phải có phân idnhj được điều đó. Trong binh pháp, có rất nhiều thời cơ cần phải suy tính. Ngay từ khởi thủy, ta phải biết được thời điểm thích hợp và thời điểm không thích hợp, tìm ra thời cơ liên quan trong mọi việc lớn hay nhỏ, nhanh hay chậm, trước tiên phải quan sát thời cơ của khoảng cách và thời cơ của bối cảnh. Thời cơ của bối cảnh đặc biệt quan trọng, nếu không binh pháp của ta sẽ trở nên bất định. Biết thời cơ của kẻ thù và nắm bắt được thời cơ thích hợp của chính mình.
- Lời bạt cho địa chi quyển
Nếu ngày đêm rèn luyện Nhị Thập Nhất Lưu, tinh thần của ta sẽ tự nhiên mở ra. Lý thuyết kiếm đạo được lưu trong địa, thủy, hỏa, phong và không.
- Không suy nghĩ lệch lạc
- Tập luyện là con đường ngộ đạo
- Tinh thông bách nghệ
- Biết cái đạo của bách nghệ
- Phân định sự được – mất trên thế gian
- Nuôi dưỡng khả năng thấu hiểu mọi việc
- Thấu hiểu các việc mà mắt trần không thấy được
- Lưu tâm các chi tiết nhỏ
- Không làm điều vô ích
Khi bắt đầu tu luyện, nhất định phải khắc cốt ghi tâm các nguyên tắc trên. Nhìn nó bằng nhãn quang rộng lớn, nắm bắt được binh pháp sẽ đối phó được với kẻ thù đông gấp bội và vô địch thiên ha. Sử dụng binh pháp, cao nhân khéo léo thống lĩnh rất nhiều thuộc hạ, bản thân hành xử đúng đắn, quản lý lãnh đạo và thu phục nhân tâm, bảo toàn luật của lãnh chúa. Đọa giữa cho tinh thần bất bại, củng cố bản thân và đạt được danh vọng đó là đạo của binh pháp.
- Thủy chi quyển
Tinh thần binh pháp của môn phái Nhị Thiên Nhất Lưu là tinh thần của thủy. Thủy chi quyển giảng về các phương pháp chiến thắng với kiếm pháp của Nhị Thiên Nhất Lưu. Ta cần lĩnh hội đạo bằng trực giác. Nghiên cứu cuôn sách này, đọc từng chữ và suy ngẫm.
Các nguyên lý về binh pháp được viết ra đây dưới dạng các cuộc tỷ thí cá nhân, nhưng ta suy rộng ra và nhờ đó hiểu được chiến lược của các trận chiến có hàng vạn người mỗi phe.
- Tâm thế trong binh pháp
Nên giữ cho mình 1 tâm thế bình thản, bất kể lúc lâm trận hay trong cuộc sống thường ngày, ta phải bình tĩnh lạnh lùng. Khi gặp tình huống, người mới không căng thẳng hay dao động bởi chính tâm thế của mình. Dù tinh thần có thanh thản thì cũng đừng thư giãn thể xác, dù thả lỏng thể xác thì cũng không được để tinh thần trở nên uể oải. Đừng để thể xác ảnh huwongr tới tinh thần, cũng đừng để tinh thần chế ngự thể xác. Không nên quá sung hay quá xìu. 1 tinh thần bị kích động sẽ trở nên yếu đuối, và 1 tinh thần chậm chạp cũng vậy. Đừng để đối phương nhìn ra tinh thần của ta. Tâm thế của kẻ thấp bé cũng phải như 1 tráng sĩ, tâm thế của 1 tráng sĩ cũng phải giống 1 kẻ thấp bé. Dù vóc dáng ngươi như thế nào, người đừng bị dẫn dắt sai lâm bởi các phản ứng của cơ thể. Với tinh thần cởi mở và thoải mái, ta hãy suy ngẫm mọi sự từ góc nhìn cao hơn. Phải trau dồi trí tuệ và tinh thần của ta để phân định: công bình, chính tà để thông hiểu Đạo của từng nghề trong bách nghệ. Khi ta không thể bị ngườ ta lừa gạt, đó là lúc ta đã đạt được sự khôn ngoan mà binh pháp gọi là “Trí”.
Ngay cả khi bị tấn công dồn ép trên chiến trường, ta cũng không ngừng nghiên cứu các nguyên lý của binh pháp, thấu triệu đạo lý của nó từ đó ta mới có được 1 ý chí kiên định.
- Tư thế trong binh pháp
Vào thế thủ với đầu thẳng, mắt nhìn thẳng phía trước, không cúi xuống cũng không ngước lên, càng không quay trái, sang phải. Ấn đường không nhíu lại. Mắt không được đảo vòng quanh hay chớp mà khép hờ. Với vẻ mặt điềm tĩnh, ta phải giữa thẳng đường sống mũi, cánh mũi hơi phồng.
Giữ gáy cho thẳng, dồn lực vào đường chân tóc cũng như từ vai xuống khắp châu thâu. 2 vai hạ thấp, 2 mông thu gọn, ta dồn lực vào phần bắp chân tính từ đầu gối đến gót chân. Dồn lực vào bụng dưới để thót hông. Gài đoản kiếm vào đai sát bụng dưới, nhờ đó đai của ngươi không bị lỏng lẻo.
Việc duy trì tư thế chiến đấu trong cuộc sống hàng ngày và biến tư thế thường nhật của ta thành 1 tư thế chiến đấu là vô cùng cần thiết. Ta cần nghiêm túc nghiên cứu và thực hành hàng ngày.
- Nhãn pháp
Tầm mắt nhìn phải rộng và bao quát. Đâ là cách nhìn “quan” và “kiến”. Quang thì mạnh còn kiến thì yếu.
Trong binh pháp, điều quan trọng là phải nhìn các sự vật ở nơi xa như thể đang ở gần và nhìn sự vật ở gần với 1 khoảng cách xa. Phải hiểu được kiếm của đối thủ và khong bị chi phối bởi những chuyển động vô nghĩa của thanh kiếm đó. Đây là cốt tủy của binh pháp, ta phải nghiền ngẫm cho kỹ càng. Nhãn pháp là giống nhau cả trong quyết đấu cá nhân lẫn binh pháp của 1 trận đánh lớn. Trong binh pháp, phải nhìn được cả 2 phía mà không cần phải đảo mắt. Ta có thể không nắm bắt được khả năng này 1 cách nhanh chóng. Hằng ngày hãy tập nhãn pháp được viết ra ở trên và đừng thay đổi dù trước mắt xảy ra bất cứ chuyện gì.
- Thủ pháp với trường kiếm
Hãy nắm trường kiếm với 1 cảm giấc thoáng rộng và thoải mái trong ngón cái và ngón trỏ trong khi ngón giữa không sát cũng không lỏng và các ngón cuối siết chặt. Không nên cầm kiếm 1 cách lỏng lẻo.
Khi ta rút kiếm ra, ta chỉ có mục tiêu duy nhất là chém ngã đối thủ. Khi chém đối thủ ta không được thay đổi cách nắm và không được chùng tay. Khi bạt kiếm đối thủ hay đẩy nó ra hoặc ghìm nó xuống, ta phải hơi thay đổi cảm giác của ngón cái và ngón trỏ. Ta phải quyết tâm khi chém đối thủ theo cách ta nắm kiếm.
Thủ pháp cầm kiếm trong quyết đấu và trong thử kiếm đều giống nhau. Không có cái gọi là cách cầm kiếm để chém người. Tay cứng nhắc là 1 sai lầm. Mềm dẻo mới là 1 cánh tay sống.
- Bộ pháp
Về cách di chuyển chân: các đầu ngón chân hơi rướn lên, gót chân trụ vững trên mặt đất. Dù di chuyển nhanh hay chậm, bước chân lớn hay nhỏ, chân ta phải luôn giống như khi di lại bình thường. 3 loại bộ pháp mà ta không thích là phi bộ (vừa đi vừa nhảy), phù bộ (vừa đi vừa trượt) và định bộ (đi bước nào cũng giống nhau).
Trong đạo binh pháp, âm dương bộ rất quan trọng. Âm dương bộ có nghĩa là không di chuyển bằng 1 chân. Nó có nghĩa di chuyển đôi chân trái – phải và phải – trái lúc chém, lúc thu chiêu và lúc gạt kiếm. Ta cũng không nên ưu tiên di chuyển chân nào cả.
- 5 tư thế
5 tư thế đó là: thưởng đẳng, trung đẳng, hạ đẳng, tả cánh, hữu cánh. Mặc dù chia thành 5 tư thế như vậy nhưng tất cả các tư thế đều nhằm mục đích duy nhất là để chém đối thủ. Không còn tư thế nào khác ngoài 5 tư thế này.
Dù ở tư thế nào cũng đừng cố công suy nghĩ về tư thế, mà ta nên tập trung nghĩ đến chém kẻ địch. Tư thế ta có thể rộng hoặc hẹp tùy ý theo tình huống. Thượng đẳng, trung đẳng hay hạ đẳng là những tư thế vững chãi. Tư thế trái – phải là tư thế linh hoạt. Tư thế tấn công trái – phải thích hợp trong hoàn cảnh phía trên bị chặn còn 2 bên thoáng rộng. Quyết định dùng tư thé trái hay phải tùy thuộc vào hoàn cảnh.
Cái tinh túy của Đạo nằm ở chỗ: để hiểu thế nào là thủ thế, trước tiên ta phải hiểu được tư thế trung đẳng. Tư thế trung đẳng là trung tâm của mọi tư thế. Nếu nhìn binh pháp với tư duy của 1 trận đánh quy mô lớn thì tư thế trung đẳng tương đương vị trí của chủ tướng và 4 thế kia xoay theo vị chủ tướng đó.
- Đạo của trường kiếm
Biết được cái đạo của trường kiếm có nghĩa là ta có thể dùng 2 ngon tay để điều khiển thanh kiếm ta mang theo. Hiểu được đường loang tự nhiên của lưỡi kiếm, ta có thể loang kiếm 1 cách dễ dàng.
Không có cách để học 1 cách nhanh chóng. Để loang kiếm 1 cách đúng phép, ta phải làm 1 cách trầm tĩnh. Nếu ta tìm cách múa kiếm như với 1 cây quạt xếp hay 1 thah đoản kiếm, ta sẽ làm lẫn vì phép chém đoản kiếm. Ta không thể dùng trường kiếm chém 1 người bằng phép chém đó.
Khi ta cầm trường kiếm chém xuống, lúc hồi kiếm ta phải nhấc thẳng nó lên, khi ta đã chém xéo, ta trở kiếm về theo cùng 1 đường như vậy. Hãy hồi kiếm 1 cách hợp lý với khuỷu tay dang rộng, vung kiếm mạnh mẽ. Đó là cái Đạo cảu trường kiếm.
- 5 cách tiếp cận (5 hướng)
Cách tiếp cận thứ nhất là ở tư thế trung đẳng. Khi đối diện kẻ địch hãy chĩa mũi kiếm hướng vào mặt y. Khi đối thủ phản đòn, hãy đẩy và áp chế kiếm y về bên phải hoặc ép kiếm của y xuống dưới. Khi đối thủ tấn công bằng cách chém từ trên xuống, để chuyển hướng tấn công của đối thủ, giữ kiếm người để đỡ ngay lúc chém, và đúng lúc đối thủ tấn công lại thì chém vào 2 cánh tay của y từ phía dưới. Đây là phương thức thứ nhất.
Cách tiếp cận thứ 2, nắm trường kiếm ở phía trên đầu, từ tư thế thượng đẳng người chém kẻ địch từ trên đầu xuống ngay lúc y tấn công. Nếu y thoát được nhát chém, người hãy giữ kiếm ở đúng phương vị và vớt kiếm từ dưới lên để chém vào y khi y tiếp tục tấn công. Có thể lặp lại phép chém từ dưới lên như vậy. Phương thức này có niều cách biến hóa về nhịp điệu và tâm thế. Ta cần tự tập luyện hàng ngày để tìm hiểu điều này.
Cách tiếp cận thứ 3, cầm kiếm ở tư thế hạ đẳng với dự cảm chém vào tay đối thủ từ dưới lên khi y tấn công. Khi ngươi chém vào tay đối thủ, y có thể tìm cách chém bạt kiếm ngươi. Trong trường hợp này, người hãy chém ngang vào 2 tay trên của y với cảm giác “giao kiếm”. Điều này có nghĩa là tư tư thé hạ đẳng người chém vào đối thủ ngay lúc y tấn công.
Cách tiếp cận thứ 4, ngươi đứng ở tư thế thủ bên trái. Khi đối phương tấn công, ngươi đâm vào tay y từ bên dưới. Kkhi người chém vào tay đối thủ, y sẽ tìm cách đánh bạt kiếm ngươi xuống, người đỡ dọc theo đường kiếm của y với cảm giác như thể đang chém vào tay của đối thủ và vung kiếm bạt chéo ở tầm ngang vai của ngươi.
Cách tiếp cận thứ 5, kiếm ngươi ở tư thế thủ bên phải. Đồng thời với đòn tấn công của đối phương, người hãy đánh chéo lên từ dưới để vào tư thế thượng đẳng rồi chém thẳng từ trên xuống dưới.
Đây la Đạo kiếm thuật hài hòa, ta học cách tính toán nhịp phách trong binh pháp, nhìn thấu trường kiếm của đối thủ, quen với việc luyện tập 5 phép tiếp cận ngay từ khi nhập môn. Ta sẽ luôn chiến thắng bằng cách sư dụng 5 phép tiếp cận cùng với cân nhắc nhịp đi và nhận biết tinh thần của đối thủ.
- Về thế thủ không thủ thế
Về mặt nguyên tắc khi cầm kiếm ta đều nhất định phải ở 1 trong 5 tư thế cầm kiếm ở trên có nói. Ta có thể di chuyển các tư thế này tùy từng tình huống cụ thể được gọi là thế thủ bất thủ thế. Việc cầm kiếm trong tay chiến đấu luôn luôn phải nhớ là phải chém đối thủ bất kể bằng cách nào. Các hoạt động khác chỉ là phụ trợ cho việc tập trung chém trúng đối thủ.
- Đánh 1 nhịp phách
Khi người áp sát kẻ địch, ngươi chém ý càng nhanh, càng trực tiếp càng tốt, không cần di chuyển thân pháp hay ổn định tinh thần, trong lúc y còn chưa kịp quyết định động thủ. Đây gọi là đánh đúng nhịp. Chớp nhịp di chuyển để chém trước khi kẻ thù quyết định rút lui hoặc giãn ra hoặc tấn công được gọi là đánh 1 nhịp phách.
Ta phải không ngừng rèn luyện để đạt đến trình độ chớp thời cơ chém trong chớp mắt.
- 2 nhịp lưng (nhị yên)
Khi ngươi tấn công và địch thủ lui còn nhanh hơn, vào lúc người cảm nhận là y đang căng thẳng, ngươi giả vờ chém 1 đòn gió trượt. Trong khoảnh khắc y thư thái, ngươi tiến lên và chém. Đây là kỹ thuật 2 nhịp lưng.
- Vô niệm vô tướng
Theo phương thuật này, khi kẻ địch tấn công cùng lúc ngươi cũng quyết định tấn công, ngươi hãy chém bằng cả thân xác và ý chí của ngươi, chém kiếm từ Không bằng 2 tay, và gia tốc thật mạnh. Đây là phép chém vô niệm vô tướng. Đây là kỹ thuật chém kiếm quan trọng nhất, nó được sử dụng rất thường xuyên.
- Phép chém lưu thủy
Phép chém lưu thủy được dùng khi ngươi đang tương tranh với địch, kiếm gài kiếm. Khi địch giãn ra và rút lui nhanh bằng cách nhảy lùi ra sau với trường kiếm của y, ngươi hãy rướn hết cơ thể và tinh thần, chém ý 1 cách chậm rãi, để kiếm của ngươi đi theo thân thể của ngươi như làn nước đọng. Ngươi có thể chém được đối thủ 1 cách chắn chắn nếu ngươi học được phép chém này. Ngươi phải nhận định được đẳng cấp của địch thủ.
- Phép chém liên tục
Khi tấn công và địch thủ cũng tấn công, 2 kiếm cùng vung lên, ngươi hãy nhằm vào đầu, tay và chân địch thủ trong 1 đường kiếm, khi bằng 1 đường kiếm người chém nhiều nơi cùng 1 lúc thì đường kiếm đó gọi là phép chém liên tục. Ngươi phải tập đường kiếm này vì nó rất thường dùng. Với sự luyện tập kỹ lưỡng ngươi sẽ có thể hiểu được chiêu thức đó.
- Phép chém thạch hỏa
Phép chém này có nghĩa là khi 2 trường kiếm giao nhau, ngươi chém hết sức mà không cần naag kiếm lên dù chỉ 1 chút. Điều này có nghĩa là chém thật nhanh bằng tay, thân hình và bằng chân. Cả 3 đều chém 1 cách mãnh liệt. Nếu ngươi luyện tập đầy đủ ngươi sẽ có thể chém nhanh mạnh như vũ bão.
- Phép chém hồng điệp
Phép chém này có nghĩa là đánh cho địch rơi trường kiếm. Phải để kiếm của y nằm trong tầm kiểm soát của ý chí ngươi. Khi địch thủ thủ thế trước mặt ngươi, có ý xuất chiêu, ngươi dùng chiêu thạch hỏa hoặc vô niệm vô tướng dồn sức đánh mạnh vào trường kiếm của y. Nếu lúc đó ngươi tập trung đánh cho rơi kiếm của y, chắc chắn y sẽ để rơi kiếm. Nếu ngươi chăm chỉ luyện tập, thì ngươi có thể dễ dàng đánh rơi kiếm của địch thủ bằng chiêu thức này. Ngơi cần phải luyện đi luyện lại không ngừng.
- Phép dụng thân thay kiếm
Còn được gọi là dụng kiếm thay thân. Thông thường ta di chuyển thân và kiếm cùng 1 lúc để chém địch thủ. Thường là ta phóng người tới trước rồi chém kiếm sau. Tuy nhiên, tùy theo phương thức tấn công của địch thủ ta có thể lao vào người y rồi vung kiếm chém. Nếu kẻ địch bất động, ngươi có thể chém kiếm của y trước, nhưng thông thường chém vào thân thể y trước thì tốt hơn. Đây gọi là nhân kiếm hợp nhất. Ngươi phải nghiền ngẫm kỹ điều này và tập cách chém.
- Chém và xả
Chém và xả là 2 chiêu khác nhau. Trong thế chém, dù là hình thức nào đi chăng nữa thì vẫn có tính cố định với 1 tinh thần dứt khoát. Trong khi đó, xả kiếm chỉ nhằm cham vào kẻ địch. Ngay cả khi ngươi xả rất mạnh và ngay cả khi kẻ địch bị giết chết thì đó cũng là xả. Khi ngươi chém, tinh thần ngươi phải kiên nghị. Ngươi phải nhận định được sự khác biệt giữa 2 cách đánh đó. Nếu thoạt tiên người xả vào tay hoặc chân địch thủ thì sau đó ngươi phải chém 1 cách mạnh mẽ quyết liệt, Tinh thần của xả là chạm vào. Ta cần phân địch giữa chém và xả.
- Thân pháp thu hầu
Thân pháp này nhằm không dang rộng 2 tay. Chủ ý là nhanh chóng thu lại hoàn toàn không để 2 tay bung ra trước lúc kẻ địch chém. Nếu ngươi chủ ý không dang tay ra thì có nhiên ngươi ở cách xa đối thủ, tinh thần lúc đó là toàn thân ngươi nhanh chóng nhập nội áp sát đối thủ. Khi ngươi đã vào bên trong tầm tay thì toàn thân của ngươi trở nên dễ dàng di chuyển để nhập nội.
- Thân pháp keo sơn
Tinh ý của thân phép keo sơn là dán chặt vào kẻ địch và không tách ra khỏi y. khi nhập nội, ngươi phải gắn chặt với đối thủ bằng cả đầu mình và đôi chân. Ngươi ta dễ dàng di chuyển đầu và chân còn chân thì chậm chạp. Ngươi phải bám đối thủ chặt như hình với bóng, không để ra 1 kẽ hở nào giữa thân thể ngươi và kẻ địch.
- Tranh cao
Tranh cao có nghĩa là tìm cách ở thế cao hơn đối thủ mà không cúi người khi lâm trận. Khi tiếp cận đối thủ, ngươi đừng do dự, hãy duỗi chân, rướn hông và rướn cổ để tranh cao với y. Khi ngươi nghĩ rằng đã thắng và cao hơn y, ngươi hãy đâm kiếm quyết liệt.
- Niêm kiếm
2 bên giao tranh bằng trường kiếm, khi tiếp chiêu đòn tấn công mạnh mẽ của đối thủ người phải giữ trường kiếm của mình gắn chặt với kiếm của đối thủ. Cái đạo của niêm kiếm không phải là đánh mạnh mà là ghìm kiếm thật chặt không để chúng rời nhau. Tốt nhất là tiếp cận đối thủ càng nhẹ nhàng càng tốt khi chém kiếm vào kiếm của đối thủ để niêm chặt lại. Sự khác biệt giữa niêm và gài là việc niêm kiếm thì vững còn gài thì yếu.
- Đánh bằng thân
Chiêu đánh bằng thân là đưa thân mình nhập nội áp sát đối thủ. Ý nghĩa sâu xa của nó là dùng chính thân thể người để tấn công đối thủ, hơi nghieng mặt qua 1 bên và dùng vai trái hích vào ngực đối thủ. Tiếp cận đối thủ với tinh thần đẩy văng kẻ thù rax a, hích mạnh hết sức giữa 2 hơi thở được kiểm soát. Nếu ngươi đạt được phương thuật nhập nội đối phương như vậy, chiêu này của ngươi sẽ có thể đánh y bật xa 10 đến 20 trượng. Thậm chí có thể đẩy y vào chỗ chết.
- 3 cách phòng ngự
Có 3 phương thuật để đỡ 1 đòn chém:
- Đầu tiên, bằng cách đẩy trường kiếm của đối thủ về phía bên phải của ngươi như thể là ngươi đang đâm vào mắt ý lúc ý vừa mới xuất chiêu
- Hoặc, đỡ bằng cách đẩy trường kiếm của địch thủ về hướng mắt phải của y với cảm giác như muốn cắt cổ y
- Hoặc, ngươi dùng đoản kiếm, ngươi không lưu tâm đến việc đỡ trường kiếm của đối thủ, né mìn và nhanh chóng nhập nội. Nắm tay trái đấm vào mặt y.
- Kỹ thuật giao đấu đâm thẳng vào mặt
Khi đối mặt với kẻ địch, chủ đích của ta là đâm mũi kiếm vào mặt đối thủ, thuận theo hướng lưỡi kiếm tấn công. Khi tinh thần của ta là đâm kiếm vào mặt đối thủ, mặt và thân người của y trở nên dễ dàng khống chế, vì thế ta sẽ có nhiều cơ hội để chiến thắng. Ta phải tập trung vào việc nay. Khi lâm trận và thân xác đối thủ trở nên dễ khống chế thì ta có thể nhanh chóng chiến thắng, ta không được quên ý định đma vào mặt đối thủ.
- Đâm vào tim
Trong hoàn cảnh giao đấu tại nơi có chướng ngại phía trên và 2 bên, hoặc bất luận alf khó chém đến đâu, ta phải đâm đối thủ. Ta phải xỉa vào ngực của y mà không để mũi kiếm của ta chao đảo, làm cho đối thủ nhìn thấy sống vuông của kiếm của y. Tinh thần của nguyên lý này được ứng dụng khi ta mệt mỏi hay vì 1 lý do gì đó khiến trường kiếm của ta không chém được.
- Quát thét
Quát thét có nghĩa là khi địch tìm cách phản đòn, ta lập tức phản công lại từ bên dưới như thể muốn đâm vào y, cố gắng ghìm y xuống. Rồi chớp thời cơ, ta vừa chém vừa quát thép. Khi đâm lên thì quát, hét và khi chém xuống thì thét gào kêu la ó. Cơ hội như này thường lặp đi lặp lại khi 2 bên giao thủ. Quát thét phải đúng cách nhằm kết hợp đồng bộ nhát chém cùng với việc nâng trường kiếm lên như thể để đâm địch thủ.
- Tạt đỡ
Tạt đỡ có nghãi là khi giao kiếm với địch thủ, ta sẽ đỡ đòn tấn công của đối phương theo nhịp chat chat, vừa tạt kiếm đối phương vừa chém vào y. Cái chính không phải là muốn tạt đỡ mà là nhằm tạt gạt kiếm của đối thủ cùng lúc y tấn công, rồi chủ động chém ý thật lẹ. Khi nắm giữ được tinh túy thì dù khi 2 kiếm vỗ vào nhau mạnh thế nào ta cũng không bật lui dù chỉ 1 chút.
- Phép chống lại đám đông
Đây là phép sử dụng khi đơn độc chến đấu chống lại nhiều người. Ta hãy rút cả đoản kiếm lẫn trường kiếm và tạo ra thế thủ dang rộng từ trái qua phải rồi lùi xuống. kẻ thù có thể tấn công từ 4 phương 8 hướng nhưng phải dồn chúng về 1 phía. Khi kẻ thù tấn công, ta phải quan sát và nhận ra được kẻ nào tấn công đầu tiên và kẻ nào tiếp theo đó, trong khi 2 tay kiếm thay phiên nhau chém trái – phải. Đứng chờ là thất sách. Ta phải luôn luôn nhanh chóng thay đổi thế thủ trái – phải, chém đối thủ khi chúng tiến đến, dồn chúng về phía chúng đang lao tới. Ta phải tìm cách đẩy chúng dồn về 1 phía như cách người ta buộc 1 xâu cá, và khi chúng đã chồng chất lên nhau thì ta hãy chém mạnh đừng để chúng có chỗ để di chuyển. Khi tập cần luyện cùng nhiều người, tạo thành phản xạ có điều kiện, như thế mới có thể 1 mình đánh thắng 10 người, 20 người được.
- Lợi thế của quyền cước
Ta có thể biết được cách chiến thắng với trường kiếm bằng cách sử dụng binh pháp, nhưng chỗ tinh tế và thần diệu nhất lại không thể dùng ngôn từ câu chữ để biểu đat. Ta chỉ có thể lĩnh ngộ được thông qua rèn luyện. Qua trường kiếm thể hiện chân đạo binh pháp.
- Nhất phát
Ta có thể nắm chắc chiến thắng với tinh thần “nhất phát”. Khi ta bỏ công theo đuổi con đường này thì binh pháp sẽ xuất phát từ tâm và ta sẽ có khả năng chiến thắng theo ý muốn của mình.
- Nguyên lý thân thụ
Thân thụ là cách thức mà chân đạo của Nhị Thiên Nhất Lưu được truyền thụ và kế thừa. Khẩu quyết: thân thụ ngôn giáo – giảng giải bằng lời và lấy mình làm gương.
- Lời bạt cho Thủy chi quyển
Để sử dụng và giành chiến thắng được trong chiến đấu, trước tiên ta cần phải nắm được 5 tư thế và 5 phép tiếp cận, cảm nhận sâu sắc cái đọa của trường kiếm trong tâm thể ta. Ta phải hiểu được tinh thần và thời cơ, nắm giữ trường kiếm 1 cách tự nhiên. Thân pháp và bộ pháp của ta phải hài hòa với ý chí. Bất luận là chiến đấu chống 1 hay nhiều người thì ta cũng sẽ hiểu giá trị của binh pháp.
Suy sâu nghĩ kỹ, bình tâm tĩnh tại, tiếp thu ưu điểm, Hãy duy trì tinh thần mỗi khi đọ kiếm với kẻ thù. Nghiên cứu binh pháp qua nhiều năm tháng để đạt được tinh thần võ sĩ đạo. Hôm nay phải chiến thắng bản thân mình của ngày hôm qua, ngày mai sẽ là chiến thắng của ta trước các đối thủ tầm thường. Sau này, để hạ được những tay kiếm thượng thừa, ta hãy rèn luyện theo quyển sách này, đừng để ý chí ta bị dao động. Cho dù hạ được đối phương, nếu điều đó không căn cứ theo những gì đã học được thì đó không phải là chính đạo.
Nếu a đạt được Đạo của chiến thắng này, ta sẽ có thể lấy 1 địch 10 người. Kiếm thuật, cái mà ta đã lĩnh hội được trong các cuộc giao tranh và tỉ thí, sẽ là thứ còn lại mãi.
- Hỏa chi quyển
Hỏa được ví như các trận chiến. Phần này sẽ bàn về sách lược thắng bại trong chiến đấu. Binh pháp này không quan tâm tới các tiểu xảo khi chiến đấu. Binh pháp này, việc luyện tập để hạ thủ kẻ địch, trải qua nhiều loại tương thủ khác nhau, nhiều cuộc chiến đấu sống còn, khám phá ra ý nghĩa của cuộc sống và cái chết, học được cái Đạo của kiếm pháp, đoán định được chiêu thức và sức mạnh của những cuộc tấn công và hiểu được cái Đạo của lưỡi kiếm và sống kiếm.
Ta có thể trở thành bậc thầy trong binh pháp bằng cách luyện tập đơn độc với kiếm của ta, nhờ đó mà hiểu được kế sách của địch, sức mạnh và chiến thuật của chúng và hiểu được chiến lược để chiến thắng hàng vạn địch thủ. Bất cứ ai muốn thành công đều cần phải cần cù nghiền ngẫm và đâm ngày luyện tập. Nhờ đó sẽ chuốt được tuyệt kỹ của mình, giải phóng bản thân và nhận ra khả năng phi thường của mình. Y sẽ có quyền lực thần diệu. Đây là thành quả tự nhiên của việc luyện tập binh pháp.
- Tùy theo địa thế
Ta phải quan sát hiện trường. Luôn đứng quay lưng về phía mặt trời, với thể thủ với mặt trời ở sau lưng ta. Nếu hoàn cảnh không cho phép thì phải tìm cách làm cho mặt trời ở phía bên tay mặt ta. Ở trong nhà cũng tương tự để mặt trời chiếu từ sau lưng hay phía bên tay mặt. Đảm bảo phía sau lưng không có nguy hiểm và bên trái đủ khoảng trống để chiến đấu, bên phải thủ kiếm. Khi trời tối thì giữ cho ánh lửa ở sau lưng ta và lối vào bên tay trái. Ta cần chiếm thế thượng phong, dồn ép đối thủ vào những nơi hiểm yếu, khó xoay xở, các vị trí bị cụt cửa đi vào, các cột nhà, ngõ cụt,…. Và truy đuổi không ngừng để kẻ địch không quan sát được hoàn cảnh xung quanh.
- 3 chiến thuật để đoạt trước thời cơ quyết định
Có nhiều thứ liên quan tới việc chiếm ưu thế. Ta phải lợi dụng tối đa tình huống, nhìn thấu tâm lý kẻ thù để nắm được sách lược của y và chiến thắng y. Đoạt trước tiên cơ là vấn đề rất khó diễn đạt và tùy từng hoàn cảnh cụ thể khi chiến đấu. Mấu chốt là phải nắm bắt đầu thời điểm. Chỉ có ta hiểu rõ ý đồ của kẻ địch và tinh thông binh pháp mới biết cách đoạt trước thời cơ quyết định.
Đệ nhất pháp (huyền chi tiên): khi ta quyết định tấn công, ta hãy bình tĩnh và nhanh chóng phóng tới khiến cho địch thủ phải chùn bước. Hoặc ta có thể tiến lên với dáng vẻ mạnh bạo, cùng với 1 tinh thần cẩn trọng khiến cho địch thủ bị ngăn khựng lại.
Hoặc cách khác, khi tiến lên tinh thần càng dung mãnh càng tốt và khi đến gần đối thủ, ta xông lên nhanh hơn lúc bình thường khiến y chao đảo và trong thoáng chốc bị chế ngự.
Hoặc là với 1 tinh thần bình tĩnh, ta tấn công liên tục dồn ép đối thủ từ đầu đến cuối. Yếu quyết là thắng ngay trong nội tâm của địch.
Đệ nhị pháp (Đãi chi tiên): khi kẻ địch bắt đầu tấn công, ta vẫn vững như bàn thạch nhưng làm ra vẻ yếu đuối. Khi kẻ địch dần sát vào, ta bát ngờ lui lại như có ý định nhảy tránh 1 bên, rồi đột nhiên lao vào tấn công quyết liệt, ngay lúc ta thấy kẻ địch buông lỏng.
Hoặc là vào lúc kẻ địch tấn công, ta hãy tấn công 1 cách mạnh mẽ hơn nữa, quan sát kỹ nhịp tấn công của kẻ địch, chỉ cần y lỡ nhịp 1 chút ngươi sẽ lợi dụng sai nhịp mà chuyển từ phòng ngự sang tấn công để chiến thắng.
Đệ tam pháp (thể thể chi tiên): Khi tấn công nhanh chóng, ta phải tấn công 1 cách mạnh mẽ và bình tĩnh, nhằm vào nhược điểm của y khi y đến gần và quyết liệt đánh bại y.
Hoặc là nếu địch thủ bình tĩnh tấn công, ta quan sát nhất cử nhất động của y, với 1 thân pháp uyển chuyển ta hòa nhập vào động tác của y lúc y đến gần. Rồi gia tăng tốc độ tấn công và chém y 1 cách quyết liệt.
- Đề chiếc gối xuống
Đè chiếc gối xuống có nghĩa là không cho phép đầu của đối thủ ngóc dậy. Trong cuộc giao đấu, để cho đối thủ dẫn dụ là hạ sách. Ta phải luôn ở trong tư thế có thể dẫn dắt đối thủ theo ý mình. Đối thủ cũng muốn điều đó nhưng sẽ không làm được nếu ta không để cho y rat ay.
Trong binh pháp, ta phải ngăn chặn địch thủ khi y vừa manh tâm xuất thủ, ta phải đè nhát đâm của y và vung ra khỏi tay y khi y tìm cách quật ngươi. Địch thủ dù tìm cách sử dụng chiêu thức gì đi nữa trong cuộc thư hùng, ta cũng sẽ thắng ngay từ trước và loại bỏ địch thủ. Loại bỏ các hành động có lợi cho địch thủ và dẫn dụ y là những động tác bất lợi. Trước tiên, ta phải hành động theo đúng đạo binh pháp, loại các kỹ thuật của địch thủ, quấy nhiễu ý đồ của y nhờ đó trực tiếp kiểm soát y. Từ đó ta sẽ là 1 bậc thầy trong binh pháp.
- Vượt cạn
Khi đi trên biển, nếu gần tới bờ mà không có gió hoặc gió ngược chiều thì bạn phải sẵn sào chèo thuyền để đến đích. Đó là tinh thần của vượt cạn. Khi ta đã phân định khả năng của đối thủ và tự biết các ưu điểm của chính mình, ta hãy vượt cạn ở điểm thuận lợi như 1 thủy thủ tài ba vượt hải lộ. Vượt cạn có nghĩa là tấn công vào chỗ lợi thế, là nhược điểm của đối thủ, và chiếm được thế thượng phong.
- Hiểu rõ thế địch
Hiểu rõ thế địch nghĩa là nắm được cách bầy binh bố trận của địch. Biết thế địch mạnh hay yếu? bằng cách quan sát cách bày binh của quân địch và ứng với cách bày binh đó ta sẽ hiểu rõ thế địch nhờ vậy sẽ chiếm được ưu thế, ta có thể phá đươc thế trận của địch và theo đó mà điều binh khiển tướng. Từ đó ta giành chiến thắng được vì ra trận từ thế thượng phong.
Trong trận đấu tỉ thí, ta chặn địch và tấn công sau khi đã nhận ra y thuộc môn phái nào, thấy được tài nghệ cũng như các ưu điểm và nhược điểm của y. Sau đó xuất kỳ bất ý vào nơi không phòng bị, không ngờ tới của đối phương. Để làm được điều này, ta cần có tư duy sâu sắc và khả năng quan sát nhạy bén. Có như vậy ta mới có thể nắm rõ suy nghĩ của địch như lòng bàn tay, ta sẽ không còn câu nệ binh pháp trong khi ứng dụng cụ thể, mà hiểu cách vận dụng nó để chiến thắng.
- Đạp kiếm
Đạp kiếm là nguyên lý thường được dùng trong binh pháp. Sau khi địch rat ay thường có 1 đoạn thời gian sơ sở để chuẩn bị cho đòn tiếp theo, hay lắp tên mới, nạp đạn mới vào súng,… đây là cơ hội ta phải ra tay phản công ngay lập tức. Nhanh là yếu tố quan trọng khi tấn công. Chỉ cần ta đủ nhanh, dù kẻ địch dùng vũ khí nào đi chăng nữa đều có thể bị ta chà đạp. Ta nhận thức rõ về cách thức và đường nối tiến công của kẻ địch để đạp trúng chỗ hiểm của chúng.
Hãy đạp bằng toàn thân, bằng ý chí và đạp và chém bằng trường kiếm. Ta phải kiện toàn tinh thần không để cho địch tấn công thêm lần nào nữa. Đó là tinh thần ngăn chặn bằng mọi cách. Ta phải ra tay kiên quyết, dứt khoát, đánh cho địch đòn chí mạng.
- Tri quỵ
Khi quân địch bắt đầu quỵ xuống, ta phải truy đuổi, không để địch thoát thân. Nếu ta không bết bỏ lỡ cơ hội khi quân địch quỵ xuống thì chúng sẽ rất nhanh chóng phục hồi sinh lực. Sự tấn công truy đuổi phải thực hiện với 1 tinh thần dung mãnh, phải chém ngã địch thủ để y không thể phục hồi lại tư thế của y.
- Biến thành kẻ địch
Biến thành kẻ địch nghĩa là tự đặt mình vào vị trí của đối thủ. Chúng ta thường hay nghĩ đối thủ của mình rất hùng mạnh và am hiểu binh pháp nên hay tỏ ra dè dặt, cẩn trọng. Nhưng nếu ta có trong tay quân sĩ thiện chiến và hiểu được các nguyên lý binh pháp, ta biết làm cách nào để phá địch thì sẽ chẳng có gì để lo lắng cả.
- Phóng tứ thủ
Phóng tứ thủ là khi ta và địch thủ giao phong với nhau với 1 quyết tâm tương tự và việc thắng bại không phân định được. Ta phải từ bỏ cách thức tiếp cận đó và tìm cách chiến thắng bằng 1 phương pháp khác. Ta sẽ chiến thắng đối thủ bằng kỹ thuật mà địch thủ không ngờ tới.
- Di ảnh
Di ảnh được dùng khi ta không thấy rõ được ý đồ của địch. Trong trận chiến lớn thì ta phải to ra đã chuẩn bị chu toàn, xuất trận mạnh mẽ khiến đối phương phải phát lộ kế hoạch. 1 ki đã thấy được sách lược của địch thủ thì ta sẽ dễ dàng chiến thắng với đối sách của ta.
Trong trận thư hùng cá nhân, nếu địch thủ thủ thế 1 bên hoặc phía sau với trường kiếm khiến ta không thấy được ý đồ của y, thì phải sử dụng hư chiêu và buộc kẻ địch phải xuất trường kiếm ra vì nghĩ là đã thấy được chủ ý của ta. Lợi dụng việc này, ta có thể chắc chắn giành được thắng lợi. Nếu ta lơ là sẽ không bắt đúng thời điểm được.
- Ức ảnh
Ức ảnh được dùng khi ta thấy được rõ ràng chủ ý tấn công của địch. Trong trận chiến quy mô lớn, khi địch thủ tấn công với 1 sách lược đặc biệt, nếu ta chứng tỏ cho y thấy quyết tâm kiềm chế y, hùng khí của ta sẽ tràn ngập y và y sẽ thay đổi sách lươc. Dựa theo đó ta cũng thay đổi sách lược, giành thế chủ động và đạt chiến thắng.
Trong 1 trận tỉ thí, khi đối thủ tiến công mạnh mẽ, ta phải tìm cách ngăn chặn thế tiến công của y, đánh vào ý thức tiến công của y, nhân lúc y do dự để giành lấy thời cơ quyết định.
- Thuật cảm nhiễm
Ý niệm truyền nhiễm hiện hữu trong mọi việc. Cơn buồn ngủ và ngáp đều có thể lan truyền. Trong trận chiến ta có thể giả vờ lơ là phong thủ. Luôn tỏ ra thản nhiên, thư thái, không phòng bị và nó sẽ cảm nhiễm cho đối thủ cũng làm theo. Khi đó ta thực hiện 1 cú tấn công vũ bão, càng nhanh càng tốt sẽ có cơ hội chiến thắng rất lớn. Trong trận tỉ thí cũng vậy, người cho đối thủ thấy mình đang thư giãn cả đầu óc lẫn cơ thân và thủ thắng bởi 1 cuộc tập kích chớp nhoáng và mạnh mẽ.
- Thuật nhiễm loạn
Có nhiều loại tình huống la người ta loạn tâm lý:
- Rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm
- Lâm vào tình cảnh khốn đón
- Gặp phải tình huống bất ngờ
Trong các trận đánh quy mô lớn thuật nhiễu loạn là điều trọng yếu. Ta đột ngột tấn công tại nơi kẻ địch ít ngờ nhất và khi tinh thần của y còn chưa ổn định ta hãy khai thác lợi thế và nhờ thế thượng phong đánh bại đối thủ.
Hoặc là trong trận thư hùng, ta khởi đầu với vẻ chậm chạp rồi đột nhiên tấn công như vũ bão, và không để y kịp có thời gian phục hồi lại sau lúc tinh thần dao động, ta phải nắm lấy cơ hội để chiến thắng.
- Uy hiếp
Sự khiếp sợ thường xảy ra do kinh ngạc. Trong trận chiến lớn, ta có thể làm kẻ địch khiếp sợ, khong chỉ với những gì người bày ra trước mắt chúng mà còn bằng tiếng la hét, bằng cách biến ít thành nhiều hoặc bất ngờ tấn công vào mạn sườn. Tất cả các điều đó làm người ta kinh hãi. Ta có thể chiến thắng bằng cách lợi dụng tối đa tâm trạng dao động của đối phương khi bị kinh hãi.
Trong trận chiến đơn, ta cũng phải sử dụng lợi thế của mình làm cho kẻ địch bất ngờ bằng cách khiến y khiếp đảm với thần hình, trường kiếm hay tiếng thét của người để đánh bại đối thủ.
- Thâm nhập
Khi chiến đấu mà cả 2 bên đều cố hết sức nhưng không có kết quả, ta nên lập tức thâm nhập và hợp làm 1 với địch thủ. Ta có thể chiến thắng bằng cách áp dụng kỹ thuật thích hợp trong khi 2 bên quện vào nhau. Việc lẫn vào kẻ đích sẽ giúp ta có cơ hội chiến thắng trong khi tách ra ngoài thì có thể sẽ thất bại đi.
- Triệt góc
Thuật triệt góc này liên quan đến việc khi ta tấn công lực lượng hùng hậu và tiến công 1 cách trực diện khi địch đang dàn trận là điều vô cùng khó khăn. Trong những trường hợp như vậy ta nên tấn công vào 2 cánh. Trong trận đánh quy mô lớn, thấy được số lượng quân địch, chủ động tấn công vào 2 cánh của đối phương như thế sẽ rất có lợi. Nếu tả hữu của đối phương bị đánh khốn đốn thì tinh thần của toàn quân sẽ bị chao đảo. Để đánh bại thì ta tiếp tục đánh mạnh từ 2 bên vào trong.
Trong 1 trận tương thủ, khi kẻ địch ngã quỵ là lúc mình dễ dàng chiến thắng. Ta có thể triệt góc bằng cách đánh hạ tay, chân đối phương va đo dó ý bị suy yếu từ đó giúp ta chiến thắng ý.
- Thuật tạo hoang mang
Thuật này là liên tục gây rối loạn tinh thần của địch, khiến chúng đứng ngồi không yên. Ta có thể sử dụng binh lực để gây xóa trộn đối thủ trên chiến địa. Ta có thể liên tục biến hóa cách tấn công khi có cơ hội. Sau đó tung ra hư chiếu hoặc la hét, đâm chém làm kẻ địch tưởng lầ ta sắp nhập nội và vào lúc kẻ địch bị hoang mang, ta có thể dễ dàng chiến thắng.
- Thuật thét 3 tiếng
Thét 3 tiếng được chia ra thành trước, trong khi và sau. Ta thét tùy theo trường hợp. Tiếng thép phát huy khí lực càng lớn càng tốt. Trong trận chiến quy mô lớn, lúc lâm trận ta vận hết sức bình sinh mà thét lên để áp đảo đối phương. Trong lúc giao tranh, giọng trầm hùng, mỗi khi xuất chiêu ta lấy hơi từ huyệt đan diền rồi hét lớn. Sau trận chiến, ta thét để mừng chiến thằng bằng tiếng thét vang dội. Trong trận tương thủ, ta vung kiếm như để chém và đồng thời thét lên “Hây” để làm dao động kẻ địch.
- Phép “sơn đạo”
Phép này là ta tiến công quyết đánh an vị trí mạnh trọng yếu của địch, sau đó lại di chuyển sang 2 bên để tiếp tục tấn công cá vị trí mạnh trọng yếu khác của kẻ địch, Vệc di chuyển ngoằng ngoèo này giống như di chuyển trên sườn núi gọi là phép sơn đạo. Phép tiến công này nói lên ý chí tiến công và lăn xả vào địch thù mà không nhún nhường dù chỉ 1 bước.
- Đập tan
Khi ta thấy kẻ địch kém cỏi, phải áp đảo khí thế, bằng cách làm cho mình trở nê mạnh mẽ xem y như 1 kẻ yếu hèn. Trong hỗn chiến, nếu địch ít người hay đông nhưng yếu kém và hỗn loạn thì cần đánh thẳng vào đầu địch, đập tan địch không chút thương tiếc. Nếu chỉ đánh nhẹ chúng sẽ dễ dàng phục hồi lại và phản công.
- Phép sơn hải biến hóa
Ý Nghĩa là ta không nên sử dụng đi sử dụng lại 1 chiêu thức nhiều lần. Ta chỉ nên dùng tối đa 2 lần cho 1 chiêu thức trong 1 trận đấu. Nếu kẻ địch tưởng là núi ta nên tấn công như biển và nếu địch nghĩ là biển thì ta hãy xuất chiêu như núi. Biến hóa không ngừng là nguyên tắc lớn nhất trong binh pháp.
- Truy tận gốc
Khi đang chiến đấu với quân didhcj, ngay cả lúc ta dang có lợi thế và có thể chiến thắng được, nếu tinh thần của kẻ địch chưa bị dứt tuyệt thì ta vẫn có thể bị chúng đánh bật trở lại. Ta phải ngay lập tức đánh tan tinh thần chiến đấu của địch, làm y chấp nhận thất bại 1 cách tâm phục khẩu phục. Truy tận gốc có nghĩa là đâm sâu bằng trường kiếm, đâm sâu bằng thân xác và bằng cả linh hồn ngươi.
- Chuyển ý
Phép chuyển ý dùng khi ta đang chiến đấu với kẻ địch mà đầu óc bị lúng túng trong 1 tình thế không phân giải được. Lúc ấy, ta phải loại bỏ mọi nỗ lực tấn công của mình để suy nghĩ về tình huống, lấy lại nhịp di chuyển với 1 đầu óc mới mẻ để rồi chiến thắng theo 1 phương thức mới.
Chuyển ý nghĩa là khi ta alam vào thế bất phân thắng bại với didhcj, thì trong lúc hoàn cảnh bất ngờ thay đổi, ta chuyển ý và chiến thắng với 1 kỹ thuật khác.
- Cổ trâu đầu chuột
Phép này có nghĩa là trong khi ta và địch đang chiến đấu và cả 2 phía đều bận tâm tới những tiểu tiết trong khi tinh thần bị rối rắm, thì ta phải lập tức lưu tâm tới cái đâị thể, lấy lớn thay nhỏ. 1 võ sĩ đạo cần phải suy nghĩ theo phương thức đó trong cuộc sống hàng ngày.
- Chủ tướng nắm quân tình
Phép này áp dụng mọi nơi trong các trận chiến theo bnh pháp của môi phái. Ta hãy nghĩ kẻ địch như quân binh của chính mình, Khi nghĩ như vậy, ta có thể điều động theo ý muốn và truy quét địch. Ta trở thành viên tướng và kẻ địch là quân sĩ của ta, ta phải dốc công rèn luyện để đạt tới cảnh giới này.
- Buông kiếm
Nghĩa là chiến thắng mà không cần đến kiếm. Cũng cso tinh thần cầm kiếm nhưng không để chiến thắng.
- Thân nhập bàn thạch
Khi rèn luyện thành đạt đạo binh pháp, ta có thể đột nhiên biến thân mình thành 1 khối đá mà không có gì đụng chạm lay chuyển được.
- Lời bạt cho Hỏa chi quyển
Chân võ đạo trong kiếm thuật là tuyệt kỹ nhầm triệt hạ đối phương trong chiến đấu và không có gì khác ngoài chuyện đó. Nêu ta đạt được và kiên tâm theo đuổi Đạo binh pháp quán thông nayf thì ta sẽ không bao giờ nghi ngờ về chiến thắng của bản thân mình.
- Phong chi quyển
Quyển này nói về đạo binh pháp của các lưu phái khác. Ta hiểu các môn phái khác để hiểu được cái tinh túy của môn phái Nhị Thiên Nhất Lưu.
- Các môn phái khác sử dụng đại trường kiếm
1 vài môn phái có khuynh hướng thích sử dụng đại trường kiếm. Nó dựa vào ưu điểm của chiều dài, họ nghĩ là có thể đánh địch ở 1 khoảng cách xa. Nhưng phương pháp này chỉ chứng tỏ sự yếu kém của đạo phía sau nó. Nó cũng gặp rất nhiều khó khăn khi phải chiến đấu cận chiến, và nó cũng hạn chế những người có thể chất yế ớt khó có thể cầm kiếm vững chắc. Họ đề cao rằng kiếm dài hơn 1 tấc sẽ có lợi thế hơn 1 chút khi chiến đấu. Lý luận đó là không đúng đắn về mặt tư duy.
- Quan niệm sức mạnh của trường kiếm trong các kiếm phái khác
Việc chém quá mạnh hay yếu à điều không tốt cả. Không nên tập trung quá lớn vào lực đạo việc chém kiếm. Ta chỉ nghĩ đến việc chém và sát thủ. Phải tập trung ý nghĩ vào việc là phải giết kẻ địch. Ta chỉ chú tâm vào việc là hạ kẻ địch.
Khi ta chỉ chú ý lực đạo chém thật mạnh vào kiếm kẻ địch, kiếm của ta sẽ bị lệch qua bên và kém hiệu quả. Tinh thần của môn phái là chiến thắng với sự khôn ngoan của binh pháp mà không lưu tâm tới tiểu tiết. Thay vì đánh võ phu thô thiển thì hãy sử dụng binh pháp để đánh.
- Các môn phái khác sử dụng đoản kiếm
Sử dụng đoản kiếm không phải là chân đạo để chiến thắng. Việc sử dụng đoản kiếm sẽ mang nặng sự phòng thủ của ta và chịu trận nhiều hơn. Con đường chắ chcawns chiến thắng là truy đuổi kẻ địch triệt để hiến y phải hoang mang tránh né, trong khi ta vẫn có 1 thân pháp vững chãi. Yếu lý của binh pháp là tràn ngập đối thủ bằng quân số và đánh chúng ngã gục 1 cách thần tốc.
Bằng nghiên cứu binh pháp, thiên hẹ sẽ quen với việc phải công, tránh né và lui quân. Nhưng cái đạo của binh pháp luôn luôn chân chính là: ta phải truy đuổi đối thủ và bắt chúng phục tùng theo ý định của ta.
- Các môn phái khác sử dụng trường kiếm
Các chiêu thức hoa mỹ, các phương pháp sử dụng đủ muôn hình vạn trạng chỉ là những thứ buôn thần bán thánh của những kẻ đê tiện. Việc chém giết là việc không phải là nhân đạo, Chém xả đối thủ vẫn là cái đạo của kiếm pháp và là điều không cần phải tranh luận.
Ta sử dụng 5 tư thé câ kiếm để sử dụng kiếm thuận tiện nhất. Giữ cho tinh thần và thể xác ngay ngắn và khiến cho kẻ địch phải khom người xoay lưng. Để chiến thắng cần phải có 1 tinh thần tấn công khi tâm trạng của kẻ địch bị hoảng loạn.
- Sử dụng thế thủ với trường kiếm trong các môn phái khác
Coi các thế thủ với trường kiếm quá quan trọng là 1 suy nghĩ lệch lạc. Thế thủ chỉ dành khi ta không thể di chuyển như ở trong thành lũy, các thế trận nhằm chứng tỏ 1 tinh thần vững mạnh có thể chống lại 1 cuộc tấn công như vũ bão. Trong cuộc tỉ thí của 2 người thì không nên sử dụng thế thủ, ta phải luôn luôn tìm cách giành thế thượng phong và tấn công liên tục. Thủ thế là tinh thần chờ đợi tấn công.
Trong các trận chiến thư hùng, ta phải làm cho thế thủ của đối phương mất ổn định. Ta tấn công ở điểm mà tinh thần y buông thả, dồn y vào thế lúng túng khiến y mất trí và khiếp đảm. Hãy lợi dụng khi đối phương mất phối hợp và bị hỗn loạn thì ta có thể chiến thắng.
Trong các trận hỗn chiến quy mô lớn, ta cần luôn luôn ý thức lượng lượng của ta, quan sát quân số cảu địch và nghi nhận mọi chi tiết trên trận địa. Tiến công ào ạt với 1 tư thế dung mãnh và chống đỡ cuộc tấn công của địch 1 cách kiên quyết.
- Nhãn pháp trong các môn phái khác
1 vài môn phái đặt nặng veiecj tập trung vào mắt hay kiếm, di chuyển đôi chân địch thủ, tay đối thủ,… nhưng nhìn chung ta sẽ bị rối loạn khi tập trung vào các chi tiết đó. Ta hoàn toàn có thể bỏ qua sự tập trung vào các chi tiết đó mà vẫn kiểm soát được đường đi của kiếm, sự di chuyển của địch thủ nếu ta đã rèn luyện và trải qua nhiều trận tỉ thí.
2 phương thuật nhìn là quan và kiến. Quan là nhằm tập trung hoàn toàn vào tinh thần của đối thủ, nhận xét được các điều kiện của trận địa, mục kích mãnh liệt, theo dõi chuyển biến của trận chiến và các biến đổi của thế trận. Đó là con đường chắc chắn để chiến thắng.
- Bộ pháp trong các môn phái khác
Có nhiều phương thuật khác nhau để sử dụng đôi chân: phù bộ, khiêu bộ, đạp bộ, ảo bộ,… nhưng hết thảy đều là những thứ vô dụng. Phù bộ lam đôi chân có khuynh hướng chấp chơi trong chiến đấu. Đạo binh pháp phải có bộ pháp vững vàng. Phi bộ tạo thói quen nhảy nhót và 1 tinh thần vọng động, dù khinh công cao diệu tới đâu thì cũng chẳng mấy hợp lý. Khiêu bộ khiến cho tinh thần phiêu bồng, bất định, không cương quyết. Đạp bộ là 1 phương thuật diên trì mà tác giả rất ghét.
Bộ pháp trong trường phái của tác giả là di chuyển như đi bộ bình thường. Di chuyển khi nhanh khi chậm, đồng thời với thân pháp thích hợp. Trong chiến đấu quy mô lớn thì bộ pháp càng quan trọng hơn vì tận dụng được sẽ giành chiến thắng với 1 tiến tấu chiến đấu phù hợp với tình hình lúc đó.
- Tốc độ trong các binh pháp khác
Tốc độ nhanh vốn không ở trong chân đạo binh pháp, bậc thầy trong binh pháp là không để lộ ra mình bị thúc bách, nóng vội. Việc chuyển động thân pháp nhanh có thể gặp khó khăn ở 1 số địa hình đầm lầy, ao hồ. Khi chuyển động nhanh cũng khó có thể chém kiếm thuân lợi. Việc chém kiếm nhanh cũng là điều rất khó khăn. Trong cuộc chiến quy mô lớn cũng tươn tự như vậy, không nên để thần trí bức bác, khẩn cấp. Khi đối thủ người bồn chồn, hối hả thì ngược lại, ta phải bình tâm, tự tại.
- Áo biểu trong các lưu phái khác
Khi truyền đạo binh pháp, đầu tiên cho luyện cho môn đồ những chiêu thức dễ học nhất, những đạo lý dễ hiểu nhất. Sa đó mới nghĩ đến việc dẫn giải các nguyên lý thâm sâu, các điểm khó lĩnh hội hơn, tùy theo nhịp tiến của môn sinh. Đạo chỉ có thể nhận được qua thể nghiệm bản thân, ta không thể lý hội tới nội, ngoại. Nên việc phân biệt nội cho tâm phúc, ngoại cho bên ngoài là rất khó thực hiện và phân biệt được. Môn sinh phải tự lực rèn luyện hàng ngày và kiên định lâu dài mới thành Đạo được.
- Lời bạt cho Phong chi quyển
Các môn phái khác thường có khuynh hướng là chuộng trường kiếm hoặc chân kiếm, và bận tâm về lực lượng hay khí lực trong đại thể binh pháp hoặc trong 1 cuộc tỉ thí. Đối với môn phái trường kiếm Nhị Thiên Nhất Lưu, chẳng hề có nội môn và ngoại biểu. Trong các chiêu thức kiếm cũng chẳng có thâm ý sâu xa. Ngươi chỉ cần giữ tâm chính trực để thực thi võ đức binh pháp.
- Không chi quyển
Tính chất của “không” là trống rỗng. Những gì con người không thể nhận thức, được hiểu là “không:. “Không” là “Hư vô”. Hiểu được các hiện hữu, ta sẽ hiểu được không hiện hữu – “không”.
Những cái ta không hiểu thì không gọi là không mà là Ảo. Đó không phải là “không” đích thực. Các võ sĩ muốn đắc đạo của binh pháp cần phải chuyên cần luyện tập các môn võ nghệ khác, không được để tâm mơ hồ dù chỉ 1 chút về cái đạo của võ sĩ. Với tâm thật tĩnh. Ta hãy chuyên cần rèn luyện võ đạo mỗi ngày, mỗi giờ. Hãy trui rèn cả “tâm” lẫn “trí”, và giũa mài cả “quan” lẫn “kiến”. Khi “tâm” không còn bị mây mờ u ám và trở nên thanh khiết, khi những đám mây hư ảo che phủ “trí” đã tan đi để trí lộ ra, ta sẽ đạt cánh giới “đại thanh minh”. Đó mới là “không” đích thực.
1 khi đã đạt tới chân đạo, dù theo thiền học hay theo đạo lý thông thường, ta có thể nghĩ chỉ riêng đạo của mình là đúng đắn. Đó là đi theo đạo của tự nhiên. Hãy dầy công tìm hiểu tinh ý đó trên nền tảng là lòng chính trực và để cho chân tâm dẫn đạo. Hãy thực hành binh pháp với lòng bao dung, trung thực và quảng đại.
Nhờ đó, ta sẽ quan kiến vạn sự 1 cách khoáng đạt, coi “không” là đạo, và sẽ thấy Đạo là “không”. “Không” là thiện, vô ác. Trí là hữu. Lý là hữu. Đạo là hữu. Tâm là “Không”.



















