Đất đai (Land) – Ham muốn sở hữu định hình thế giới hiện đại – Simon Winchester
I. Dẫn nhập: Không phải đất chung
- Giao dịch
Land (đất đai) là chỉ phần bề mặt hành tinh lộ ra cao hơn và khác hẳn về mặt cấu tạo vật lý và tình cờ cũng không rộng bằng so với phần ngày nay bị nước bao phủ và được chúng ta gọi là biển kể từ thế kỷ 13. Land có gốc từ tiếng German sau đó khoảng thế kỷ 10 có mặt ở tiếng Anh để chỉ bề mặt rắn nhìn chung là nằm cao hơn so với mực nước biển.
Đất đai trên trái đất khoảng sấp sỉ 37 tỷ mẫu Anh và nó nằm rải rác ở nhiều lục địa khác nhau. Trong khi phần vỏ trái đất bị biển ngập lớn hơn đất liền rất nhiều và đáng lẽ ra chung ta cần gọi là trái nước chứ không phải trái đất. Nhưng chính sự đa dạng của đất đai và đa dạng cảnh quan đã giúp đất đai sinh động hơn nước rất nhiều. Tác giả đã tiến hành mua 125 mẫu Anh đất ở 1 khu rừng ngoại ô NY – Mỹ và được toàn quyền với khu đất đó. Toàn quyền ở đây gồm rất nhiều quyền như quyền ở, quyền bán, quyền đào mỏ, chặt cây, cấm người khác qua lại, không cho người khác xâm phạm,… trong nàn sóng đam mê sở hữu đất đai, tác giả đã tiến hành mua nó để biến lô đất trở thành sở hữu riêng của cá nhân mình.
- Nền móng
Mảnh đất của ta ở không phải lúc nào cũng có người sở hữu nó. Nó biến đổi trong 1 chiều dài lịch sử hàng tỉ năm và đã trải qua vô khối sự thay đổi chủ quyền trong quá khứ. Các mảnh đất đó đã trải qua rất nhiều sự biến đổi địa chất, nó vẫn luôn vẫn động chứ không đứng im như ta nghĩ.
- Dân cư
Trong quá trình tiến hóa đó, loài người thông minh hoàn chỉnh cũng xuất hiện vào khoảng 13.000 năm trước đây tại New England. Rồi những người da đỏ lớn lên chiếm lĩnh khu vực cả nghìn năm. Tới thế kỷ 16 những người châu Âu bắt đầu khai thác châu Mỹ và những người từ công ty Tây Ấn Hà Lan là những người đổ bộ xuống đầu tiên và lập nên cảng New Amsterdam ở Manhattan vào năm 1625. Sau đó là hàng loạt các cuộc di dân từ các nước Anh, Pháp và nhiều nước châu Âu khác tới Mỹ. Họ dần chiếm đoạt các diện tích đất mà người da đỏ ở trước đây và thành chủ sở hữu mới tại đây. Nhưng người da đỏ vẫn quyết bám trụ nhằm giành lại đất đai đã bị cướp bóc trắng trợn này.
Những người thực dân khi đó đã sử dụng văn bản là bằng khoán đất để pháp lý hóa quyền sở hữu đất mà mình chiếm được ở đây. Người Hà Lan mua nhiều đất đai nhất khu vực là Philipse vào năm 1653 với diện tích khoảng 207km2 là vùng hạt Westchester ngày nay. Vùng đất New Amsterdam ban đầu sau cuộc chiến Anh – Hà Lan mà Hà Lan thất bại đã đổi tên thành New York với các ông chủ mới là Anh. Gia tộc Philipse đã quay sang trung thành với người Anh và được chấp thuận là chủ sở hữu hợp pháp của các khu đất đã mua. Thế hệ tiếp theo của họ tiếp tục mở rộng diện tích đất lên tới 647km2 vào năm 1697. Cho tới cuộc cách mạng Mỹ năm 1776, thì các quyền sở hữu đất đai mà người Anh công nhận lại bị cho là không phù hợp và đất đai nhà Philipse bị liên bang mới thành lập tịch thu và họ hình thành khái niệm người lĩnh canh trên đất chứ không được sở hữu đất nữa.
- Khai thác
Chế độ lĩnh canh đã lam đất đai bị bỏ mặc và sản lượng khai thác đi xuống trầm trọng. Nhưng bù lại, ở đây lại có lượng quặng sắt đủ lớn để kích thích những người di cư tới luyện sắt. 4 năm sau ngày Mỹ tuyên bố độc lập, nhà Philipse đã quá hống hách và rêu rao luôn trung thành với vua Anh nên đã bị tịch thu toàn bộ đất của họ và chính quyền mới đã bán lại nó cho các công nhận đang làm việc trên đất của nhà Philipse và chấm dứng hoàn toàn sự sở hữu khai thác của nhà này tại Mỹ.
- Phân giới, trục xuất, sở hữu
Những người da đỏ cố bám trụ lại để đòi quyền sở hữu đất từ xa xưa bị phớt lờ và sau đó phải chuyển tới khu vực phía Tây và những người da trắng và da trắng di cư lần lượt chiếm lĩnh các khu vực của nước Mỹ mới hình thành sau chiến tranh độc lập.
Các mảnh đất ở Mỹ được vẽ bản đồ cẩn thận từ thời người Anh chiếm đóng và có phân đinh rất rõ ràng. Như khu đất của tác giả thì có 1 phần lớn là đồi và 1 phần còn lại là đồng bằng gọi chung là trang trại là nơi ưa thích của những người săn bắn hoặc chụp ảnh tự nhiên. Diện tích thì lớn nhưng giá trị kinh tế mang lại không nhiều đặc biệt các khu vực phía trên đỉnh đồn gần như không có dấu chân người trước kia. Mặc dù vậy người ta vẫn ưa thích tính nó vào để thể hiện quy mô sở hữu đất đai rất lớn của ông chủ lô đất. Nưm 1999, tác giả đã chính thức mua lô đất 125 mẫu Anh này bằng tiền tiết kiệm và khoản vay ngân hàng.
- Khai phá.
1 lô đất đã từng trải qua rất nhiều đời quyền sở hữu khác nhau. Sự thay đổi này có thể do mua bán, trao đổi, hoặc bị cưỡng chế. Mặc dù việc sở hữu 1 phần nhỏ của vỏ trái đất không phải thật sự là quyền sở hữu được bởi bất kỳ ai về mặt tự nhiên, nó vẫn được công nhận về mặt pháp lý.
Quyền sở hữu có nghĩa là anh có quyền gọi cảnh sát tống khứ bất kỳ ai khỏi nơi mà các văn bản về quyền sở hữu nói là thuộc về anh. Không hẳn là anh sở hữu nó; chỉ là anh có quyền nói với tất cả mọi người khác hãy tránh xa nó ra.
II. Phần II. Những người ranh giới
7. Khi con giun tha thứ cho lưỡi cày
Nghề vẽ bản đồ có lẽ là nghề có từ rất lâu trước đây và lâu hơn nhiều các công việc khác. Vì đây là 1 nhu cầu sinh tồn cần biết phương hướng để không bị lạc hướng. Khởi nguồn có thể ngay từ khi người nguyên thủy đi săn bắn xa nơi ở và cần nó để biết đường về nhà. Sau đó đất đai họ dùng để trồng trọt, khai thác khoans ản, đào mỏ hoặc cho dù bỏ hoang đi chăng nữa cũng cần được xác định rõ ràng. Nói cách khác, các mảnh đất cần phải có ranh giới. Đó phải là những ranh giới được đồng thuận. Rồi phải biết địa điểm. Địa điểm ở đây có thể là trên biển trên đất liền hay 1 vị trí trên vòm trời hay ở 1 nơi nào đó.
Sau đó con người thử nghiệm việc trồng cây bằng công cụ đồ đá, rồi nhân rộng nó ra thành các thửa ruộng. Họ sẽ cần phân chia nhau ruộng để không bị nhầm lẫn hoa mầu với nhau. Họ có thể dùng các tảng đá, cây que cắm, bụi cây, và sau này là các hàng rào để phân chia lãnh thổ với nhau. Từ đây đã khai sinh ra các cách phân chia ranh giới giữa các quốc gia, tỉnh, làng xóm hay từng cá nhân với nhau.
- Kích thước của trái đất
Tử thủa Hy Lạp cổ, thủ thư Eratosthenes đã đo đạc ước tính được hình dáng của trái đất là tròn và chu vi của trái đất vào khoảng 38.500km mà sau này được xác định là khoảng 40.007km với các công cụ thô sơ thời đó. Các nhà khoa học thế kỷ 19 thì vẫn đang loay hoay để đo đạc chính xác xem trái đất thật sự là tròn, hay dẹt, hay cóc ác điểm lồi lõm lớn khác nhau. Sau rất nhiều lỗ lực không mệt mỏi của các nhà khoa học đi trước, nhà khoa học Truve đã mất thêm 40 năm nữa để đo đạc chính xác được trái đất của chúng ta. Với các công cụ đo đạc thủ công thời đó cùng ý tưởng về hình tam giác, ông đã đo đạc chính xác độ dài kinh tuyến và tính ra diện tích và chu vi của trái đất. Và con số ông xác định được chu vi trái đất là 40 triệu m là con số chính xác tới ngày nay dùng vệ tinh đo đạc cũng chỉ lệch vài m.
- Chỉ nơi chốn là trên hết
Sau nhiệm vụ đo đạc chính xác kích thước thế giới. Con người bắt đầu hành trình vẽ bản đồ chính xác nhất có thể. Việc vẽ bản đồ cũng là công việc có từ thời xa xưa ngày xưa và nó là công việc liên tục để cho bản đồ ngày càng chi tiết hơn, chính xác hơn. Tới năm 1890, giáo sư Penck ở đại học Vienna đã thành công vẽ ra bản đồ thế giới với tỷ lệ 1:1 triệu với tỉ lệ chính xác gần như so với hiện nay. Họ đã lập ra Bản đồ thế giới quốc tế (IMW) và hội đồng IMW, chọn ra kinh tuyến gốc Greenwitch và được sử dụng cho tới ngày nay và được chấp thuận ở mọi nơi trên thế giới. Họ vẽ bản đồ chi tiết cho gần 37 tỷ mẫu Anh trên khắp thế giới nhưng cần tới hơn 1.000 tờ bản đồ và quá cồng kềnh. Sau này khi hiệp hội hàng không thế giới ICAO vẽ bản đồ đơn giản hơn thuận tiện hơn đã thay thế cho IMW trở thành tiêu chuẩn mới trong ngành bản đồ thế giới.
- Nơi vùng rìa thế giới
Hiện nay tồn tại 316 đường biên giới trên bộ giữa các quốc gia trên thế giới và các nước đã chấp thuận sự phân định tương đối này bởi các đường phân ranh tự nhiên như sông, dãy núi, đầm lầy,… hay các cột mốc. 1 số đã tồn tại rất lâu đời từ xa xưa và 1 số thì vừa mới được xác định xong gần đây. Thảm họa nhất là việc chia cắt Ấn Độ thành các quốc gia theo tôn giáo nhưng người làm ra nó lại chưa bao giờ biết rõ Ấn Độ và đã tạo ra mâu thuẫn xung đột triền miên từ khi nó được vẽ ra tới nay và vẫn không có hồi kết. Họ chia theo hướng tôn giáo và các cuộc di ư ồ ạt diễn ra, những người hồi giáo chạy sang Pakistant và người Hindu chạy về Ấn Độ, họ bị mất đất đai và tài sản ở nơi ơ cũ của mình. Cũng giống với tình thế Trung Đông trước đây khi đường biên giới được vẽ ra 1 cách vô ý thức đã tạo ra mâu thuẫn xung đột triền miên ở khu vực này.
- Phân định rõ ràng
Vào thời kỳ khai sáng thế kỷ 18 ngành bản đồ bắt đầu bùng nổ ở khắp nơi và đặc biệt tại Anh họ rất yêu thích các tấm bản đồ từ thời kỳ đó hơn hẳn các khu vực khác trên thế giới. Và họ liên tục cố gắng vẽ các bản đồ ngày càng chính xác hơn nữa tới mức tuyệt đối.
III. PHần III. Những biên niên sử về thâu tóm đất đai
- Mọc lên, trồi ra và ở trên mực nước biển
Tuyệt đại đa số những ai tuyên bố quyền sở hữu 1 mảnh đất rên thé giời ngày nay đều nhận nó từ 1 người nào đó khác trước đó. Có nhiều khu vực hiện nay không có người ở thì thuộc quyền quản lý của nhà nước. Có nhiều hòn đảo mới trồi lên do thay đổi địa chất, núi lửa nhưng cũng đang nhỏ đi. Có 1 số thì lại đang to ra dần dần. Ngoài việc tự nhiên, đất đai cũng được tạo ra nhân tạo từ việc bòi đắp lấn biển của các nước, hay các khu đô thị lấn biển cũng là hoạt động tạo ra đất đai nhân tạo.
- Những hòn đảo của người xây đập
Nhưng tát cả những đất mới ấy, dù là những hòn đảo do thiên nhiên tạo ra hay do con người mở rộng, về cơ bản đều rất nhỏ bé. Nhưng có 1 quốc gia buộc phải giành giật đất là Hà Lan vì đất nước này là vùng đồng bằng lầy lội cửa ngõ 3 con sông ở châu Âu và người dân ở đây phải liên tục để tạo ra đất. Và chính phủ nước này đã cho phép họ tạo ra đất đó và tính là tài sản riêng của người dân. Đất nước này ¾ là diện tích ở dưới mặt nước biển, họ phải xây đập để ngăn nước biển. Họ đất mất 7 thế kỷ liên tục để tạo ra 1 triệu mẫu vuông đất, và họ bị mất 1,4 triệu mẫu đất trong thời gian đó. Đặc biệt con đập Zuider Zee do kỹ sư Cornelis Lely đề xuất và được chính phủ Hà Lan xây dựng trở thành hình mẫu cho các nước khác xây dựng đập lấn biển về sau.
- Lãnh thổ đỏ
Lục địa bắc Mỹ là nơi sinh sống của nugowfi da đỏ với dân số khoảng 20 triệu người đã gần như bị hủy diệt hoàn toàn khi người châu Âu tràn tới đây và đánh chiếm đất đai của họ. Những người Tây Ban Nha là những người có lẽ tìm thấy khu vực này sớm nhất với các chuyến thám hiểm của Ponce những năm 1513 và 1521 và xung đột đã bắt đầu diễn ra giữa người da đỏ địa phương và đám nhà thám hiểm châu Âu. Sau đó là các nhà thám hiểm ở các nước phía Bắc ồ ạt tới đặc biệt là từ Anh với Drake đã cướp đoạt đất đai và được phong hiệp sĩ ở Anh năm 1580. Họ tập hơn thành 2 khu định cư của Anh là Công ty Virginia và Thuộc địa vịnh Massachusetts. Ban đầu họ chưa thật sự đẫm máu với nhau nhưng sau đó người Anh đã dần diễn giải khác đi về đất đai và sở hữu theo kinh thánh để họ tự hợp thức hóa việc cướp đoạt đất đai, và họ lý giải phải tư nhân hóa, sở hữu riêng đất đai thì con người mới có thể khai thác và tạo ra nhiều giá trị hơn trên đất đai đó. Họ cũng tuyên truyền việc bất kỳ ai tới đó và khai phá đất đai bỏ hoang đều sẽ được công nhận sở hữu đất đai đó. Bất cứ ai đến đó cũng sẽ nhận được 100 mẫu đất để khai hoang đã thu hút dòng người nhập cư tới Tân Thế giới từ khắp mọi nơi trên thế giới đặt biệt từ châu Âu.
Khát khao sở hữu đất đai kể từ đó là 1 phần trong sức hấp dẫn nổi bật của nước Mỹ, là niềm khát khao vượt lên trên những lý do di cư chủ yếu trước đó, tức những hứa hẹn về tự do tôn giáo và chính trị bằng cách nhờ thoát ra khỏi những kiềm tỏa cứng nhắc của Cựu Thế giới. Còn người do đỏ bị bắt làm nô lệ về dồn đến các đồn điền trên khắp châu Mỹ của những tay thực dân từ châu Âu đến. Họ sau khi bị cướp đất thì đã trở thành nô lệ và liên tục sụt giảm dân số. Việc cướp đoạt này kéo dài tới tận năm 1763, vua George III tại Anh mới tuyên bố cấm hoàn toàn việc cướp đoạt đất của người da đỏ, nhưng lúc đó người da đỏ đã gần như mất tất cả những gì họ đã giữ gìn 2k năm trước đó.
Các cuộc chiến giữa Anh – Pháp để giành quyền cai trị Tân thế giới cuối cùng Anh thắng, rồi tới cuộc chiến giành độc lập của Mỹ và tuyên bố độc lập năm 1776. Nước Mỹ mới chủ nghĩa bành chướng còn mạnh mẽ hơn người Anh trước đó khi họ vô cùng tích cực mở rộng lãnh thổ về phía Tây và nơi sống của người da đỏ ngày càng bị thu hẹp hơn. Cuộc cướp bóc này kéo dài thêm 2 thế kỷ nữa và diện tích giành cho người da đỏ sau này thực tế chỉ chiếm 2% tổng diện tích.
- Đất đai và địa chủ
Những người châu Âu bảo thủ thì tin rằng đất đai họ có được thông qua quyền cổ xưa đặc biệt những người Anh, Scotland, Ireland, và xứ Wales. Họ là các địa chủ, công tước, quý tộc cũ và sở hữu rất nhiều diện tích đất ở Anh. Khoảng 13 triệu/37 triệu mẫu Anh diện tích vùng nông thôn ở Anh là thuộc về các gia đình giầu có và lâu đời. Trong 20 triệu mẫu đất ở Scotland do 1.100 chủ đất giầu có kiểm soát,…họ được coi là tầng lớp tin hoa trước đây và giờ đây họ vẫn nắm giữ phần lớn đất đai và quyết định hoạt động chính trị của đất nước.
Những gia đình này khởi đầu với những người sở hữu được lô đất khổng lồ rồi bằng nhiều cách khác nhau rồi họ cho thuê/khai thác đất đó và sống cuộc sống nhàn tản dựa trên hoa lợi của lô đất đó 1 cách chậm chạp mà không làm gì cụ thể.
IV. Phần IV. Quyền quản lý
16. Những bi kịch của cải tạo đất đai
Có 2 xu hướng sử dụng đất từ thời tiền sử là rào đất và giải phóng mặt bằng. Rào đất là xu hướng cư ngụ và sử dụng; còn giải phóng mặt bằng là xu hướng được chia chác, được quản lý. Việc rào dất sẽ chuyển hàng triệu triệu người từ nông thôn ra thành phố, còn việc giải phóng mặt bằng sẽ buộc hàng nghìn người rời bỏ các vùng hoang dã để đến với nơi có thể khai thác sử đụng đất đai được.
Các mảnh đất chung được người ta quy ước sử dụng trong rất nhiều thế kỷ mà ít có sự phản đối cho tới khoảng thế kỷ thứ 15-16 bắt đầu việc phân rõ các lô đất và rào lại bắt đầu diễn ra nhiều hơn. Thay vì các lô đất công cộng được chăn thả bò, dê tự do thì giờ đây nó trở thành các lô đất có chủ thực sự và bị rào lại không cho sử dụng chung nữa. Việc rào đất này đã làm mất đi nơi kiếm sống của phần lớn nông dân ở nông thôn và buộc họ phải lên thành phố làm công nhân và đã là tiền đề tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp Anh nổ ra. Gia tộc Sutherland ở Scotland cũng đóng góp đáng kể vào việc cưỡng chế giải tỏa để lấy các điền trang của các chủ trang trại nhỏ và giải tỏa hết họ vào 1 khu tái định cư cách đó khoảng 48 dặm, và những người dân bị mất đất này chỉ còn cách đi làm ở nhà máy để mưu sinh.
- Những kẻ tích đất
Những chủ đất cá nhân lớn nhất thế giới gần như luôn là các nhà quân chủ hay nhà cai trị quyền lực tuyệt đối kiểu này hay kiểu khác. Ngày nay phần nhiều nó chỉ còn là tượng trưng chứ không phải quyền tuyệt đối nữa. Nước Úc là nơi tập trung nhiều chủ đất lớn nhất thế giới, với trang trại cừu Anna Creek ở Nam úc rộng tới 6 triệu mẫu Anh. Ngưởi sở hữu nhiều đất nhất có lẽ là cá nhân doanh nhân Gina Rinehart với 29 triệu mẫu Anh ở Úc.
Ở Mỹ cũng có tình trạng tương tự ki 100 người sở hữu đất nhiều nhất ở Mỹ cộng lại rộng hơn cả bang Florida của Mỹ. Và tốc độ tích trữ đất vẫn đang tăng rất mạnh. Có hàng trăm các chủ đất truyền thống tạo thành các gia tộc từ hàng trăm năm qua truyền lại cho nhiều đời sở hữu đất đai rộng lớn ở Mỹ. Những người này tự thú nhập rằng họ mắc chứng “nghiện sở hữu” khi liên tục và liên tục không ngừng nghỉ mua thêm đất và so kè nhau xem ai là chủ sở hữu đất lớn nhất ở nước Mỹ.
- Đi muôn nơi và không đi đâu hết
Trọng tâm của khái niệm về quyền sở hữu đất đai chính là quyền yêu cầu người khác rời khỏi đất của mình. Những ai đã sở hữu đất thì được hưởng những quyền hợp pháp trong nhóm quyền đất đai nổi tiếng: quyền sở hữu, quyền kiểm soát, quyền hưởng dụng, quyền chuyển nhượng, quyền loại trừ. Họ có quyền loại trừ, cấm người khác đi lại trên đất của mình, và có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước buộc các kẻ xâm phạm đất đai bất hợp pháp phải ra khỏi đất của mình.
Ở 1 số nơi quyền này rất được đề cao như ở Mỹ vấn đề riêng tư là rất cao. Nhưng ở nhiều nơi người ta có thể thoải mái đi lại trên đất người khác mà không sao cả. Nhưng thông thường việc đi lại xâm nhập chỉ bị coi là lỗi dân sự trừ khi người ta cố tình chấm đất hay mang vũ khí vào đất người khác.
- Tạp lập lại thế giới hoang dã
Tại khu vực được cách biệt hoàn toàn như vùng đệm của 2 nước Bắc – Nam Triều tiên với độ rộng 4km đã cách ly hoàn toàn hoạt động kinh tế, xã hội và con người tại đây đã giúp khu vực này tạo dựng lại 1 khu vực thiên nhiên hoang dã trở lại.
- Về trí tuệ, ở Úc
Năm 1770, thuyền trưởng James Cook đã tới Úc và vùng đất này được người Hà Lan phát hiện trước đó và gọi là New Holland nhưng họ không thật sự tham dò nó. Người Anh đã đến đây và nhận ra khu vực này đã được con người cải tạo chứ không phải hoang dã. Họ đã tìm thấy thổ dân Úc ở đây. Cook đã nhanh chóng tuyên bố chủ quyền của hoàng gia Anh ở đây và bắt đầu sau đó lên kế hoạch di dân và chiếm đóng khu vực này.
- Công viên, khu giải trí và Plutoni
Đất đai ở thành phố vẫn tồn tại nhưng nó nằm ở dưới các lớp bê tông, đường xá, vỉa hè, bãi gửi xe, tòa nhà, chung cư,… và có giá trị và chi phí cao hơn rất nhiều so với nông thôn.
V. Phần V. Những bài chiến trường
22. Nhưng tháp chuông tiêu điều
Các vỏ bọc tôn giáo để giải thích cho các xung đột có vẻ không phải là vậy. Khi đưa họ khỏi khu vực họ đang sống họ lại có vẻ sống khá bình thường với nhau. Nhưng ngay khi đưa họ chở lại nơi đang sống thì xung đột lại nổ ra triền miên. Nhìn chung, xung đột có vẻ liên quan nhiều hơn tới những khái niệm như cai trị, sở hữu, cách thức tổ chức, chủ quyền, độc lập, liên minh chính trị, ly khai, hệ thống pháp lý,… và bị quyết định bởi người mà xét tới cùng, cai trị những đất đai tren đó họ sống. Những người xung đột với nhau ở Trung Đông, Nam Á, hay bất cứ đâu nếu đưa họ sang 1 khu vực khác sống thì họ lại có vẻ không quá mâu thuẫn nữa.
- Vùng đất vô thánh
Vào 26/9/1947, người Anh tuyên bố rút quân khỏi khu vực Trung Đông trước đây là khu vực của đế chế Ottoman cũ đã tạo ra sự tranh cãi không bao giờ có hồi kết cho khu vực Trung Đông. Khu vực rộng khoảng 5,5 triệu mẫu Anh này là nơi tranh cãi nảy lửa về phân định ranh giới giữa người do thái và Ả rập. Vùng đất này là lãnh thổ của đế chế Ottoman vào thế kyer 16 khi họ đánh bại nhà Mamluk Ai Cập và thiết lập ngai vàng ở tỉnh Syria 1 vị phó tổng trấn Jerusalem. Vùng đất thánh này là nơi sinh sống chủ yếu của người Do thái trong suốt chiều dài lịch sử cổ đại dù hầu hết dân số là người Ả Rập.
Năm 1850, người do thái chỉ chiếm 4% dân số ở đây và bắt đầu tăng lên khi các phong trào bài do thái bùng nổ ở châu Âu và chủ nghĩa phục quốc Do thái bắt đầu đi lên mạnh mẽ trong cộng đồng người Do thái. Chính quyền Ottoman không cấm di dân tới nhưng lại cấm người Do thái mua đất tại đây và họ phải sử dụng mọi cách để lách luật. Tới năm 1916, có khoảng 10% dân số ở Palestine thuộc Ottoman là người Do thái.
Năm 1917, người Anh ăn mừng chiến thắng trước Ottoman và đã đưa ra cam kết ủng hộ người Do thái lập quốc ở khu vực Palestine. Người Do thái sau đó đã tận dụng cơ hội và gia tăng tầm ảnh hưởng và dân số ở khu vực này lên nhanh chóng sau chiến tranh thế giới I. Người Anh gây thơ rằng các mối quan hệ giữa dân Do thái và Ả rập sẽ sớm tốt đẹp dưới sự cai trị của họ. Nhưng mọi việc không nhu vậy và bạo lực bắt đầu nổ ra giữa 2 phe. Các hạn chế mua đất của người Do thái được nới lỏng và đợt mua đất ồ ạt diễn ra tại đây với sự ủng hộ mạnh mẽ của công tước Rothschild là người đứng dầu chiến dịch phục quốc Do thái tại London.
Sau khi mua đất, những người Ả rập bị mất đất trở thành lực lượng công nhân thất nghiệp do không được thuê làm việc và đã hình thành 2 lực lượng đối lập gay gắt giữa 1 bên là người Do thái giầu có nhiều đất và bên kia là người Ả rập không có tài sản. Người Anh tuyên bố rút lui bỏ mặc khu vực này trong hỗn loạn vào năm 1947. Ngay sau đó, vào ngày 14/5/1948, người Do thái đã tranh thủ tuyên bố thành lập nước Israel và tồn tại tới ngày nay. Đám đông người Ả rập ở Palestine bỏ trốn, đi tị nạn và rời đi vì sự trục xuất của nhà nước Israel nổ ra. Dân số khu vực sau đó thay đổi nhanh chóng thành 6,5 triệu người Israel và chỉ có 1,8 triệu người Ả rập.
- Bi kịch trên đất đen màu mỡ
Tại Trung Âu, những năm 1932-1933 đã xảy ra những xung đột nghiêm trọng khi nhà nước muốn quốc hữu hóa đất đai từ tay những người nông dân để xây dựng các nông trại hợp tác xã và cơ giới hóa quy mô lớn, vón được dự kiến tổ chức sao cho phù hợp với lý tưởng về sở hữu toàn dân dưới sự ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản.
- Tập trung và tịch thu
Những người châu Á nhập cư thế hệ I ở Mỹ bị cấm mua bất động sản mà chỉ được ở, làm việc, kinh doanh tại Mỹ. Con của họ sinh ra ở Mỹ thì lại có quyền hợp pháp là công dân Mỹ và được sở hữu bất động sản. Nên những người gốc Á chăm chỉ khi đó đã làm việc và để con cái của mình đứng tên mảnh đất họ mua. Người Á mà chủ yếu người Nhật dù chi chiếm 2% dân số nhưng làm ra tới 12% sản lượng ở California những năm 1920. Họ đã làm người Mỹ gốc Âu bùng nên sự ghen ghét và chủ nghĩa bài á ở khắp nơi trên nước Mỹ. Họ bị ghi ngờ và gán cho làm gián điệp cho Nhật trong thế chiến II và bị tạm giam rất đông.
Sau khi họ được trả lại tự do, các cánh đồng của họ đã bị tước đoạt bởi những người da trắng. Ông nhờ 1 người đến trông nom và người này sau đó ở lại luôn và không chịu rời đi khỏi mảnh đất của họ.
VI. Phần VI. Biên niên sử về sự phục hồi
26. Người Maori ở chốn bình yên
New Zealand là vùng đất cuối cùng được con ngườ phát hiện ra và đến sinh sống gần đây và nó phát triển rất nhanh chóng. Hệ thống quản lý ở đây ngay từ đầu đã là nền chính trị dân chủ cho mọi dân tộc gồm cả thổ dân địa phương và bất kể sắc tộc.
Người Anh trong đợt xâm chiếm thực dân với người Maori ở New Zealand đã tiếp tục sử dụng vũ khí quân sự để áp đảo người địa phương nhằm phân chia lại 66 triệu mẫu đất tại đây. Các cuộc chiến đã kéo dài suốt 30 năm sau đó.
- Người lạ trên quần đảo Hebrides
Scotland là nơi có sự tập trung đất đai lớn khi chỉ có 7% dân số sở hữu 84% đất đai ở đây. Người ta thống kê rằng 432 gia đình chiếm 50% diện tích và 1.200 gia đình hàng đầu nắm 2/3 diện tích Scotland. Các mô hình sở hữu cộng đồng được bắt đầu hình thành sau đợt bầu nghị viện đầu tiên năm 1997 và bắt đầu làm tan rã sở hữu tư nhân ở đây.
- Hiểu thấu châu Phi
Châu Phi là hơi thể hiện tham vọng chiếm hữu vô tội vạ của thực dân châu Âu nhất. Cả khu vực bị xé nhỏ xâu xé bởi đủ các thế lực trong suốt thế kỷ 18-19. Các cuộc chiến giành độc lập chống đối diễn ra ở khắp nơi trong 1 thời gian rất dài ở đây. Các cuộc tái phân bổ đất đai vẫn là vấn đề dai dẳng ở vùng đất này suốt nhiều thập kỷ qua.
- Người lạ ở xứ thần tiên
Các vấn đề bảo tồn thiên nhiên nhằm phục hồi đất đai được đặt ra ở khắp mọi nơi trên thế giới.
- Lòng tin là tất cả
Chúng ta đang lạm dụng đất đai vì coi đó là 1 thứ hàng hóa thuộc về chúng ta. Khi coi đất đai như 1 cộng đồng nơi chúng ta thuộc về, chúng ta có thể sẽ bắt đầu sử dụng đât đai với tìn yêu thương và tôn trọng. Người ta tạo ra các quỹ tín thác đất đai cộng đồng để phụ hồi lại đất đai và các hoạt động chung cho cộng đồng nơi họ sinh sống.
VII. Phần VII. Vĩ thanh – Nhưng đất đai dang bị nhấn chìm
Niềm tin ban đầu của mọi thứ là đất đai là thứ duy nhất lâu bền trên trái đất. Đất đai là thứ duy nhất xứng đáng để ta lao động, sóng vì nó và chết vì nó, và sở dĩ như vyaaj là vì tính chất lâu bền của nó là tuyệt đối không thể phủ nhận, không thể thách thứ. Bản chất lâu dài của bề mặt đất đai thế giới này luôn luô đúng. Đó phải là chuyện nghiễm nhiên, cũng chắc chắn như mặt trời mọc rồi sẽ lặn vậy. Nhưng sự thật không hẳn là như vậy. Các châu lậu đều đang có sự giãn nở và làm thay đổi bề mặt trái đất và đất đai. Nhìn chung diện tích đất đang giảm đi do nước biển đang cao lên vì sự ấm lên của toàn cầu và tan của băng ở Bắc cực.



















