Chính sách công nghiệp của Nhật Bản – Ryutaro Komiya, Masahiro Okuno, Kotaro Suzumura
Cuốn sách của tập thể các thành viên trong Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Tokyo. Các nghiên cứu này được trình bây trong năm 1983 tại hội thảo Zushi lần thứ 21.
- Giới thiệu
Mọi người đều biết đến các khái niệm chung về cách chính quyền Nhật can thiệp sâu vào nền kinh tế, hợp tác với tư nhân trong công nghiệp hóa. Nhưng để hiểu được chính xác và sâu sắc những gì chính quyền làm qua các chính sách thì rất ít người hiểu được.
Chính sách công nghiệp: Các ngành thường được coi nằm trong việc quản lý này thường là công nghiệp chế tạo, sản xuất điện năng, và có thể thêm ngành khai mỏ. Tại Nhật đơn vị quản lý toàn bộ là Văn phòng chính sách công nghiệp – trực thuộc Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế (MITI). Họ ban hành các chính sách ảnh hưởng tới sự phân bổ nguồn lực cho ngành công nghiệp; các chính sách ảnh hưởng tới tổ chức ngành. Các chính sách công nghiệp của Nhật nhằm vào vô số mục tiêu, trong số đó có nhiều mục tiêu phi kinh tế. Rất nhiều kế hoạch công nghiệp ban đầu được đưa ra không dựa trên các khai niệm của kinh tế học, họ dựa trên ý chí chủ quan dù không có các tài nguyên cần thiết cho phát triển nhiều lĩnh vực. Và có rất nhiều chính sách của Nhật vẫn mang nặng tính quan liêu, kinh tế tập trung như thời chiến.
Các tiêu chuẩn để xác định 1 cơ cấu công nghiệp thích hợp chẳng qua chỉ là sự hợp lý hóa những điều đã xảy ra. Sau chiến tranh, các ngành đầu tiên mà các nhà hoạch định cảm thấy Nhật cần phải có là sắt và thép, đóng tàu, vận tải hàng hóa, chế tạo máy nói chung, thiết bị điện nặng và hóa chất. Sau đó bổ sung thêm ô tô, hóa dầu, điện hạt nhân và những ngành tương tự. Gần đây thì thêm vào ngành máy tính, bán dẫn. Trong khi đó có rất rất nhiều ngành nghề không được bảo hộ, không được đưa vào chính sách công nghiệp được ưu tiên vẫn vươn lên và thành công rực rỡ như sản xuất máy ảnh, máy photocopy, xe đạp, đồng hồ,…
Vào cuối những năm 1970s, sau khủng hoảng dầu mỏ thì tư tưởng kế hoạch hóa trong hoạch định chính sách công nghiệp bắt đầu suy yếu. Nước Nhật dần mở cửa và nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt tiến vào và cạnh tranh tự do ngày một gia tăng thúc đẩy nền kinh tế tự do hóa và quốc tế hóa cao hơn và ngày càng cao hơn. Các nhà làm chính sách Nhật cũng rất hay cố gắng tham gia để ngăn cản tình trạng “cạnh tranh quá mức” nhằm làm giảm lãnh phí. Nhưng các biện pháp này tỏ ra kém hiệu quả do trái ngược với tính thị trường của các doanh nghiệp và dần mâu thuẫn với các chính sách chống độc quyền.
- Phần I – Tổng quan về mặt lịch sử I
- Thời kỳ tái thiết
Chính sách công nghiệp thời kỳ đầu tái thiết 1945-1960 được tóm tắt bởi 3 xu hướng chính:
- Đây là thời kỳ tái thiết và chuyển đổi từ tái thiết sang sự khởi đầu của tăng trưởng nhanh. Sự tăng trưởng duy trì được ở mức ~10%/năm. Nền kinh tế đã chuyển dịch sự tăng trưởng đến từ đầu tư cao và tiết kiệm cao.
- Nền kinh tế đã có sự dịch chuyển từ nền kinh tế đóng, cô lập sang nền kinh tế mở.
- Khuôn khổ tổ chức công nghiệp đã chuyển từ những biện pháp kiểm soát của chính phủ sang cạnh tranh thị trường.
Các chính sách công nghiệp chịu sự chỉ đạo của các quan chức, bộ máy hành chính với Ủy ban Thương mại quốc tế và Công nghiệp (MITI), dưới đó là các phòng phụ trách từng ngành, từng vụ chuyên biệt. Họ liên kết với nhau thông qua các hiệp hội nơi quy tụ các doanh nghiệp vào đó để tham vấn chính sách và đưa ra các chính sách nhằm hỗ trợ cả ngành hay chí ít 1 vài doanh nghiệp lớn nhất ngành phát triển, bảo hộ thị trường, sản phẩm,…Các chính sách chính nhà nước hỗ trợ chủ yếu là thuế và hỗ trợ tài chính.
Giai đoạn từ 1945-1948 chủ yếu tập trung phát triển chính sách hệ thống sản xuất ưu tiên, tập trung vào 2 ngành công nghiệp chính là than và thép. 2 ngành này đã có mối quan hệ qua lại với nhau rất khăng khít. Nguồn gốc do các hạn chế nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên ở Nhật do bị cấm vận từ trước chiến tranh cho tới sau chiến tranh. Chính sách này do buộc phải thực hiện gọi là “thay thế hàng nhập khẩu”. Năm 1947, sản lượng thép của Nhật đã tăng thêm 740k tấn, sản lượng than tăng thêm 29,34 triệu tấn. Hoạt động nhập khẩu cũng được mở trở lại và tăng trưởng mạnh từ năm 1948.
Năm 1950, đường lối tránh can thiệp đã được áp dụng và các doanh nghiệp bắt đầu chịu các sức ép cạnh tranh quốc tế gia tăng, đặc biệt sau chiến tranh Triều Tiên dòng tiền mua sắm đặc biệt giảm mạnh. Các ngành thực hiện việc hợp lý hóa bao gồm: thép, than, vận tải biển, điện năng, sợi nhân tạo và phân hóa học. Các chính sách như miễn thuế nhập khẩu, miễn thuế đối với các loại máy móc quan trọng, nguyên vật liệu quan trọng. Ngoài ra là các hoạt động trợ cấp lãi suất tín dụng, trợ cấp tài trợ tín dụng tập trung vào các lĩnh vực này. Chính sách này giả định rằng nền kinh tế là mở, các doanh nghiệp tích cực hạ giá thành để có sức cạnh tranh và đem lại lợi nhuận lớn từ việc giảm giá thành xuống dưới mức bình quân. Với chính sách tỷ giá cố định, tới năm 1955 cơ bản các mục tiêu hợp lý hóa của Nhật cũng đạt được thành tích đáng kể.
Nền kinh tế Nhật cũng có sự điều chỉnh như vào giữa những năm 1950s đã dần loại bỏ các ưu đãi cho các lĩnh vực đã phát triển và có sức cạnh tranh quốc tế. Sự ưu đãi dần chuyển sang các ngành mới và tăng trưởng nhanh. Các khoản vay ưu đãi của nhà nước chiếm tới 41% tổng vốn đầu tư của các công ty trong ngành cơ khi chế tạo vào giai đoạn 1955-1960.
- Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh
Trong những năm 1960s, nền kinh tế Nhật tăng trưởng bùng nổ >10%/năm, nguồn gốc sự tăng trưởng tới từ sự gia tăng đáng kể của tỷ lệ đầu tư. Nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ, năm 1968 Nhật đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới tư bản. Tốc độ gia tăng năng suất cao, với tỷ giá cố định thặng dư thương mại đã có và ngày càng lớn hơn. 3 ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất và đóng góp chính vào thành tích xuất khẩu của Nhật là hóa chất, thép và chế tạo máy với tốc độ tăng trưởng bình quân 17,9%/năm gấp đôi tăng trưởng xuất khẩu thế giới.
Trong những năm 1960, Nhật đã dần dần mang nhiều đặc trưng quan trọng của nền kinh tế phát triển:
- Đạt được mức toàn dụng lao động;
- Hiệu đại hóa cơ cấu công nghiệp;
- Giảm bớt hiệ lực nền kinh tế song hành;
- Tầm quan trọng của xuất khẩu sản phảm công nghiệp nặng và thặng dư thường xuyên trong tài khoản vãi lai;
- Tự do hóa thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nhật Bản.
Các hãng đã hoạt động trong môi trường tự do kinh doanh và rỡ bỏ dần các rào cản thương mại của nhà nước. Việc này cũng thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm mới, áp dụng các phương pháp kiểm soát chất lượng kỹ lưỡng và hoàn thiện quá trình sản xuất.
Các chính sách công nghiệp những năm 60 tại Nhật tập trung vào việc giảm sự cạnh tranh quá mức bằng cách tổ chức lại, sắp xếp và hợp nhất các công ty trong ngành. Bên cạnh đó là việc nhà nước xây dựng mối quan hệ chính phủ – doanh nghiệp theo hướng có thể can thiệp để chi phối giá cả, đầu tư, sản lượng và các biến số nội sinh khác có thể xác định dễ dàng hơn trong thị trường.
- Cuộc khủng hoảng dầu mỏ và thời kỳ sau đó
Vào đầu những năm 1970, nền kinh tế Nhật đã thể hiện thành 1 nền kinh tế phát triển đích thực nhưng kéo theo đó là các vấn đề cần giải quyết như ô nhiễm môi trường, các vấn đề đi kèm của sự tăng trưởng, quá tải dân số ở thành thị và thiếu hụt dân số ở nông thôn, lạm phát leo thang,…Thặng dư thương mại của Nhật này càng lớn đặc biệt với đối tác chính là Mỹ kéo theo cac căng thẳng thương mại giữa 2 phía bắt đầu bùng phát. Vấn đề môi trường Nhật đã giải quyết rất tốt với vait rò tích cực của chính phủ. Nhưng vấn đề cán cân thương mại thì luôn thất bại và căng thẳng ngày càng gia tăng tích lũy nhiều hơn.
Chính sách giữ tỷ giá yên ở mức rất thấp 360 yên ăn 1 usd đã bị phản ứng quyết liệt từ Mỹ và vào tháng 8/1971 tại hội nghị Smithsonian Nhật đã phải tăng giá đồng yên lên 308 yên ăn 1 USD. Sang năm 1973, hệ thống Bretton Woods sụp đổ, khủng hoảng dầu mỏ xảy ra gây rắc rối cho các nền kinh tế trong đó có Nhật. Giá dầu bật tăng 4 lần do việc các nước hạn chế xuất khẩu dầu mỏ và chiến tranh vùng vịnh nổ ra.
Sự phục hồi kinh tế diễn ra trong 3 năm sau đó và tới 1976-1979 mới kết thúc được cuộc lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế phục hồi. Tới năm 1979, cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran nổ ra và gây ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 2 làm kéo tụt nền kinh tế các nước vào 1979-1980. Các cuộc khủng hoảng giá dầu cũng làm các ngành sử dụng nhiều năng lượng dầu mỏ bị tụt lại so với các lĩnh vực khác trong quá trình phát triển ở giai đoạn này.
Sau khủng hoảng dầu mỏ, nền kinh tế phải thay đổi do chính sách tỷ giá thả nổi được áp dụng, sự phát triển của các ngành điện tử, bán dẫn, công nghệ cao và các xung đột thương mại leo thang. Các chính sách vĩ mô, tài chính sẽ giải quyết các vấn đề cầu của nền kinh tế; còn chính sách công nghiệp sẽ giải quyết phần cung. Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ, cả chính phủ và doanh nghiệp đều thay đổi cơ bản địa vị của mình do họ phải đối phó lại những thay đổi trong nền kinh tế Nhật Bản. Trò chơi hợp tác do vậy đã bị thay đổi đáng kể. Nhìn chung, giai đoạn này các quan chức chính phủ trở nên thụ động hơn và giảm sự can thiệp vào các doanh nghiệp hơn hẳn so với các giai đoạn trước đây.
Sau khủng hoảng dầu mỏ, chính sách công nghiệp của Nhật dịch chuyển theo hướng cơ cấu công nghiệp sử dụng nhiều hà lượng chất xám. Các chính sách điều chỉnh các ngành bị suy thoái do khủng hoảng dầu mỏ như phát triển các sản phẩm tiết kiệm nhiên loại, sử dụng nhiên liệu thay thế. Sự thay đổi này đã làm cho ngành dịch vụ tỷ trọng ngày càng tăng lên trong nền kinh tế Nhật Bản.
1 số ngành rơi vào đình trệ như: lò luyện điện hồ quang, tinh chế nhôm, sợi nhân tạo, đóng tàu, phân hóa học, dệt sợi bông và nhân tạo, sản xuất cacstong,… Mỗi ngành có những lý do cho sự đình trệ và suy giảm của mình. Nguyên nhân chủ yếu do sự tăng chi phí, dư thừa công suất quá mức khi khủng hoảng dầu mỏ nổ ra làm đột ngột sụt giảm cầu thị trường. Nhiều luật được đưa ra để tái định hướng sắp xếp lại các ngành này nhằm giảm sự cạnh tranh quá mức trong ngành.
- Phần II. Tổng quan về mặt lịch sử II
- Hệ thống thuế và chương trình đầu tư tài khóa và cho vay
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh có thể chia thành 4 thập kỷ :
- Thập kỷ tái thiết kinh tế bắt đầu vào năm 1945;
- Thập kỷ “đuổi kịp” các nền kinh tế tiên tiến thông qua công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất, bắt đầu từ năm 1955;
- Thập kỷ phát triển xã hội bắt đầu từ năm 1965;
- Thập kỷ xây dựng nhà nước phúc lợi xã hội bắt đầu từ năm 1975.
Đầu tư cơ sở hạ tầng thành chủ đề nóng những năm 1960s ở Nhật và ngân sách phân bổ cho đầu tư hạ tầng tăng rất nhanh đặc biệt là cho đường sắt và đường bộ. Mức thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng ở mức 35% giai đoạn sau chiến tranh rồi tăng lên 42% khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra làm lợi nhuận các công ty Nhật bùng nổ. Khi chiến tranh kết thúc, lợi nhuận sụt giảm thì mức thuế suất cũng giảm dần và quay lại như ban đầu ở mức 35% vào năm 1966. Nhưng vào năm 1970, việc cắt giảm thuế thu nhập cá nhân đã dẫn tới sự tăng trở lại của thuế thu nhập doanh nghiệp và tới 1981 thì thuế thu nhập doanh nghiệp lại quay lại 42%.
Năm 1950, ngân hàng xuất khẩu Nhật Bản được thành lập và là căn cứ ban đầu để thành lập Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (JDB) với mục tiêu tài trợ cho các hoạt động đầu tư tài sản cố định bằng nguồn vốn dài hạn. Họ đã tài trợ chính cho các ngành điện năng, vận tải biển, khai thác than, sắt thép, phân bón và chế tạo máy. Nguồn vốn từ JDB đã trở thành nguồn vốn chính tài trợ cho các ngành công nghiệp nặng này suốt thời gian dài. Còn ngân hàng Xuất khẩu Nhật Bản thì tài trợ chính cho lĩnh vực máy móc, tầu thủy, đầu máy toa xe, máy dệt. Đặc biệt ngành công nghiệp đóng tàu Nhật Bản với công nghệ tốt và định giá rẻ đã chiếm 50% thị phần đóng tàu thế giới vào năm 1965.
- Ngoại thương và đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Nhật Bản nước nghèo tài nguyên nên các chính sách liên quan tới thương mại và đầu tư trực tiếp của nước ngoài do vậy chiếm 1 vị trí nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế ở Nhật Bản sau chiến tranh. Giai đoạn đầu chính sách bảo hộ trong nước rất cao, tới những năm 1960 chính sách bảo hộ của Nhật bị lên án rất mạnh và các cuộc đụng độ thương mại xảy ra thường xuyên đặc biệt giữa Nhật với Mỹ và thặng dư thương mại lên cao buộc Nhật phải dần rỡ bỏ các rào cản thương mại cho hàng hóa nước ngoài.
- Chính sách công nghệ
Tiến bộ công nghệ được xem là đầu tầu của sự tăng trưởng. Nhật Bản đã vận hành tuyệt vời các tiến bộ công nghệ vào việc phát triển đất nước. Ước tính các tiến bộ công nghệ đã đóng góp 1,97%/8,8% tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 1953-1971 ở Nhật Bản, tức đóng góp khoảng 22,3% vào tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản.
Trong giai đoạn đầu sau chiến tranh, nhật khẩu công nghệ có tác động lớn chính yếu tới sự thay đổi công nghệ tại Nhật. Có 2 loại chính sách công nghiệp chính là các chính sách tác động trực tiếp vào ngành, và chính sách mục đích tác động vào lĩnh vực khác nhưng lại tạo lực đẩy cho ngành phát triển. 1 số chính sách ban đầu được thiết kế cho mục đích khác nhưng lại tác động lớn tới ngành như luật kiểm soát ngoại tệ và luật kiểm soát vốn nước ngoài. Trong khi các biện pháp ưu đãi trực tiếp thường bao gồm: ưu đãi về thuế, trợ cấp và các hợp đồng nghiên cứu, cho vay lãi suất thấp.
- Chính sách công nghiệp và đổi mới công nghệ
Sự phát triển công nghiệp Nhật Bản từ 1955 trở đi có thể chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: từ 1955 -1964, giai đoạn này tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng để tận dụng lợi thế theo quy mô. Các ngành tập trung phát triển chính là sắt và thép, hóa chất, điện. Công nghệ sản xuất là mối quan tâm chính lúc đó.
- Giai đoạn 2: từ 1965 – 1973, các ngành công nghiệp ô tô, đồ điện dân dụng và các ngành chiến lược khác. Chiến lược là chi phí thấp và chất lượng tốt hơn với các kế hoạch sản xuất hàng loạt và marketing đại trà.
- Giai đoạn 3: từ 1973 trở đi, thời kỳ sau cú sốc dầu mỏ. Đây là giai đoạn Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ với những thay đổi công nghệ nhanh chóng.
Công nghệ cao là 1 công nghệ đòi hỏi những R&D chuyên sâu và có định hướng hệ thống. Tại Mỹ các ngành được gán vào công nghệ cao thường là các ngành di truyền học, công nghệ thông tin và viễn thông, chất bán dẫn, máy tính, dược phẩm, sản xuất người máy, sản xuất máy bay, công nghệ sinh học, vũ trụ, cáp quang,…ở Nhật Bản thì các lĩnh vực vi điện tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới… thường được xếp vào công nghệ cao.
Trong chính sách khoa học công nghệ, khoảng 85% nằm ở Cục khoa học công nghệ và bộ giáo dục là các nơi tập trung các nghiên cứu cơ bản. 15% ngân sách còn lại nằm ở MITI và các đơn vị trển khai nghiên cứu ứng dụng và thực tế. Ngân sách cho khoa học công nghệ của Nhật năm 1979 chiếm khoảng 3% tổng ngân sách và vẫn thấp hơn Mỹ (5,5%), Pháp (5,8%), và Anh (3,6%). Tuy vậy, chính phủ Nhật chỉ chiếm khoảng 27% tổng chi ngân sách cho R&D trong khi các nước phương Tây chiếm 30-40% tổng chi cho R&D. Các chi cho ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ tại Nhật được các hãng chi nhiều hơn rất nhiều so với chính phủ chi.
- Phần III. Lý thuyết kinh tế về chính sách công nghiệp
- Chính sách công nghiệp là sự hiệu chỉnh đối với những thất bại của thị trường
Các chính sách công nghiệp nói chung và của Nhật Bản nói riêng theo các nhà kinh tế học hàn lâm thì không có nhiều tác dụng. Nhưng các xung đột giữa các nước phát triển và đang phát triển ngày càng tăng cao đặt ra vấn đề cần nghiên cứu các chính sách công nghiệp này và các đóng góp của nó đối với sự tăng trưởng và phát triển của các nước.
Có 3 nhóm chính sách công nghiệp chính được sử dụng:
- Những chính sách mà dựa vào đó chính phủ của 1 nước quyết tâm 1 cách có tính toán tạo ra 1 cơ cấu công nghiệp hoặc thương mại được cho là lý tưởng đối với sự phát triển kinh tế
- Các biện pháp khác nhau được sử dụng như can thiệp chính sách để lam giảm bớt những thất bại của thị trường, loại thất bại xuất hiện trong nghiên cứu và triển khai, trong các lĩnh vực thông tin, rủi ro và những ảnh hưởng ngoại ứng.
- Các chính sách mà dựa vào đó chính phủ tìm cách can thiệp trực tiếp vào tổ chức ngành của 1 ngành hoặc khu vực cá biệt.
- Các chính sách cung cấp các biện pháp khuyến khích gián tiếp, các chính sách điều chỉnh trực tiếp và các chính sách liên quan tới thông tin.
Bỏ qua các khuyết điểm của chính sách công nghiệp Nhật Bản sau chiến tranh, thì hệ thống đó đã đóng vai trò là 1 công cụ cực kỳ có hiệu quả của việc thu thập, trao đổi và tạo ra sự trao đổi thông tin về ngành. Các quan chức chính phủ, những người trong ngành, các đại diện của các tổ chức tài chính của chính phủ và các ngân hàng thành phố đã tập hợp nhau lại để thảo luận về các vấn đề đang đối mặt với ngành và để trao đổi thông tin về các công nghệ mới và thị trường nội địa và nước ngoài.
- Xúc tiến công nghiệp và thương mại
Nhật là nước diện tích không lớn, phải nhập khẩu đủ mọi loại hàng hóa vì không thể tự cung tự cấp, và để nhập khẩu được thì cần phải xuất khẩu để kiếm những khoản tiền trả cho nhập khẩu. Ở đây thể hiện kế hoạch dịch chuyển cơ cấu ở mức có thẻ sang nhóm các ngành có thể dễ dàng tăng năng suất, với cầu của chúng được dự đoán sẽ được mở rộng trong tương lai,v à chúng có 1 nền tảng công nghệ cao.
Nhiều ngành đã giảm được chi phí lớn nhờ kinh tế qua mô. Điều này có được nhờ 3 nhóm:
- Ảnh hưởng của hiệu ứng Marshall, khi công nghệ phát triển, sản lượng tăng, các nhà cung cấp cũng trưởng thành và giúp giảm chi phí chung cho tất cả các hãng trong ngành đó. Nó tác động lớn tới ngành Ô tô, điện dân dụng, và những ngành được thầu phụ cung cấp phụ tùng.
- Có 1 quá trình động của học thông qua hành và tích lũy kinh nghiệm và bí quyết sản xuất tăng dẫn đến giảm chi phí. Nó có tác động lớn tới các ngành vi mạch, máy tính, và công nghệ cao khác.
- Do các lý do về thông tin, các ngành không có khả năng nắm bắt đầy đủ quy mô của cầu. Các ngành như thép, hóa chất, các ngành cần có thiết bị sản xuất có quy mô lớn. Các ngành này tạo thành độc quyền đa phương.
Khó có thể thiếp lập 1 ngành hoặc 1 khu vực chi phí giảm nếu không có sự bảo hộ tạm thời của chính phủ. Thông qua chính sách của chính phủ, cơ cấu ngành, cơ cấu sản xuất có thể được kiểm soát ở mức độ nào đó.
- Phần IV. Chính sách xúc tiến ngành
- Công nghiệp thép
Ngành công nghiệp thép của Nhật có sự phát triển rất nhanh chóng sau chiến tranh từ sản lượng 9,4tr tấn năm 1950 lên 40tr tấn năm 1965 và 102 triệu tấn năm 1975. Giá thép nội địa Nhật cũng liên tục giảm từ 1950 trở đi và tới những năm 1960s Nhật đã xuất khẩu thép và cạnh tranh được về giá trên phạm vi toàn cầu.
Chính phủ Nhật và các bộ đã lấy ngành công nghiệp thép là mục tiêu số 1 của các chính sách bảo hộ và khuyến khích. Các nhà hoạch định đã đưa lĩnh vực thép vào làm trọng tâm đầu tư mới với gần 60% máy móc thiết bị được nhập khẩu mới trong giai đoạn đầu kế hoạch năm 1951-1955. Trong các kế hoạch hợp lý hóa từ lần 1 -3 đều thấy vai trò lớn của ngành thép được ưu tiên đầu tư phát triển ở quy mô lớn. Các chính sách khấu hao đặc biệt để được giảm thuế công ty, ưu đãi lãi suất vay, chính sách khuyến khích xuất khẩu đã kích thích lớn các doanh nghiệp trong ngành phát triển. Các chính sách thuế nhập khẩu cao cũng tạo ra các hàng rào thuế quan bảo hộ cho thị trường nội địa khi đó.
Liên đoàn sắt thép nhật bản được thành lập vào năm 1967 làm trung gian điều phối và phối hợp các nhà sản xuất thép với các cơ quan chính phủ. Các nhà sản xuất thép đã tạo thành 1 nhóm độc quyền nhóm với 1 nền sản xuất thép hùng mạnh, chi phí thấp bậc nhất thế giới vào lúc đó. Tuy nhiên 1 số chính sách như giá niêm yết chỉ hoạt động ổn định trong 1 thời gian ngắn và sau đó mất hiệu lực nhanh chóng khi MITI can thiệp sâu vào việc định giá và bán sản phẩm dẫn tới hiện tượng phi thị trường.
- Công nghiệp Ô tô
Công nghiệp Ô tô liên quan tới rất nhiều ngành công nghiệp khác, và trình độ phát triển của ngành này được xem là phản ánh trình độ công nghiệp hóa của 1 nước. Có rất nhiều ngành đóng góp vào ngành oto như sản phẩm thép đúc, rèn, máy động lực, các sản phẩm cao su, các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, thương mại,…Trên thế giới chỉ có 26 nước sản xuất được oto với sản lượng 38,8 triệu xe vào năm 1980. Tới năm nay, sản lượng oto của Nhật đã vượt qua Mỹ. Sau chiến tranh thế giới II, năm 1945 Nhật chỉ được sản xuất 15k xe tải thì tới năm 1982 Nhật đã sản xuất 10,73 triệu xe. Sản lượng tăng 720 lần trong vòng 36 năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm. Sự phát triển công nghiệp oto có tiền đề chính yếu là việc xây dựng đường xá, mở rộng hệ thống đường bộ cho nó. Trong các năm 1970s, xây dựng đường bộ đã thường xuyên chiếm 40% toàn bộ các khoản chi tiêu cho các công trình công cộng của Nhật.
Trong những năm đầu, Nhật đã áp dụng 4 biện pháp bảo hộ bao gồm:
- Thuế quan bảo hộ
- Hệ thống thuế hàng hóa ưu tiên oto trong nước
- Những hạn chế nhập khẩu sử udngj phân phối ngoại hối
- Kiểm soát ngoại hối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Nhật Bản
Khi Nhật Bản tham gia vào OECD, thì các chính sách bảo hộ phải thay đổi thành 5 biện pháp sau:
- Cung cấp vốn cho vay với lãi suất thấp thông qua các tổ chức tài chính của chính phủ
- Tiến hành trợ cấp
- Cung cấp các khỏa khấu hao đặc biệt
- Miễn thuế nhập khẩu cho các thiết bị cần thiết
- Chấp thuận công nghệ nước ngoài cần thiết.
Các nhà sản xuất linh kiện là những người được hỗ trợ rất mạnh mẽ các chính sách đặc biệt là các chính sách hỗ trợ từ các nguồn tài chính của chính phủ. Sau đó là các xung đột thương mại bùng phát giữa Mý và Nhật quanh vấn đề bảo hộ ngành oto và việc Nhật xuất khẩu lượng lớn oto vào Mỹ, cũng như sự suy giảm mạnh của ngành công nghiệp oto tại Mỹ.
- Công nghiệp Máy tính
Ngành công nghiệp máy tính xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1950 tại Mỹ. Được hỗ trợ bởi những tiến bộ công nghệ nhanh chóng và nhu cầu cao, ngành máy tính đã phát triển 1 cách đầy ấn tượng trong liền 3 thập kỷ qua. Nó đã thúc đẩy rất nhiều lĩnh vực khác cả phần cững và phần mềm như ngành công nghiệp sản xuất mạch tích hợp, xử lý thông tin. Các công ty Mỹ vẫn đang thống trị lĩnh vực này ở cả nước Mỹ cũng như toàn cầu. IBM vẫn chiếm 55,5% tổng giá trị máy tính cỡ lớn được lắp đặt trên toàn cầu vào năm 1980.
Chỉ có ở Nhật, IBM chỉ chiếm 28,9% thị phần và các hãng Mỹ chiems 38,2% thị phần. Vì tại Nhật hãng Fujitsu đã vươn lên chiếm lĩnh thị trường máy tính tại đây và trở thành hãng sản xuất máy tính số 1 tại Nhật Bản từ năm 1979 trở đi.
Thời kỳ đầu tiên 1951-1965, Nhật phát triển các hệ thống máy tính từ các trường đại học, lần đầu được nghiên cứu tại Đại học Tokyo năm 1952. Sau đó kết quả được các doanh nghiệp sử dụng rọng rãi ứng dụng vào thực tế với 4 hãng lớn chính là Fujitsu, NEC, Hitachi, và Toshiba. Năm 1957, Luật công nghiệp Điện tử đi vào hoạt động tại Nhật. Tuy vậy, lĩnh vực này không được coi là lĩnh vực then chốt trong những năm này.
Thời kỳ tự do hóa thương mại 1966-1975, MITI đã thay đỏi chính sách vào năm 1966 khi dưa ra các chính sách nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh quốc tế của công nghiệp máy tính. Các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ cho R&D, tập trung nghiên cứu đưa ra các hệ thống nhằm vượt qua hệ thống IBM 360, các hỗ trợ quy mô lớn, đào tạo nhân viên kỹ thuật,..năm 1970, luật khuyến khích phát triển thông tin ra đời. Là luật khuyến khích ngành công nghiệp phần mềm đang tỏ ra lạc hậu hơn rất nhiều so với ngành công nghiệp phần cứng. Các chính sách tự do hóa trong ngành máy tính cũng chậm hơn các ngành khác vì vẫn còn nhiều chính sách bảo hộ do ngành còn non trẻ này.
Từ 1976 trở đi, các chính sách hậu tự do hóa. Sau năm 1976 các hoạt động thương mại về cơ bản đã hoàn toàn tự do hóa bao gồm cả máy tính và phần mềm. Các công ty đã có thể cạnh tranh với các hãng của Mỹ ngay cả ông lớn số 1 IBM. Tuy nhiên, tốc độ cải tiến công nghệ trong ngành quá nhanh đã tạo sức ép rất lớn với các hãng máy tính nội địa Nhật Bản. Cuộc cạnh tranh trong ngành mang tính thị trường hoàn toàn giữa các hãng trong nước với nhau và trong nước với nước ngoài mà ưu thế dần nghiêng về các doanh nghiệp nội địa. Các hãng Nhật sử dụng phần cứng của IBM và để máy tính tương thích với các phần mềm chạy được trên máy IBM nhằm xâm chiếm thị phần của IBM. IBM đã chống trả bằng cách hạ giá bán, thay đổi kiến trúc máy tính nhằm trả đũa các nhà sản xuất tại Nhật này.
- Phần V. Chính sách điều chỉnh ngành
- Thương mại và sự hỗ trợ điều chỉnh
Trong những năm 1970s, với cuộc khủng hoảng dầu mỏ nổ ra làm cho nhiều ngành bị suy giảm nặng nề. Các chính sách điều chỉnh, hỗ trợ được đưa ra và xem xét đánh giá ảnh hưởng của các chính sách đó đến các luồng thương mại quốc tế.
Nhưng năm 1960, ngành than đang bị suy thoái mạnh đặt ra bài toán chuyển đồi nghề nghiệp cho các công nhân khai thác than gặp rất nhiều khó khăn cả về mặt tâm lý lẫn kinh tế. Các khu công nghiệp, nhà máy được mở tại khu vực công nhân bị sa thải, và họ nhận >30% công nhân từ nguồn công nhân bị sa thải ở ngành than sẽ được hưởng ưu đãi thuế đã giải quyết được cuộc suy thoái ngành này. Tương tự với ngành công nghiệp dệt cũng bị suy thoái và phải cần nhiều chính sách đặc biệt để giải quyết.
Năm 1978, luật ổn định ngành ra đời. Các chính sách hỗ trợ điều chỉnh của Nhật đã trở nên ít đặc thù hơn. Các chính sách hỗ trợ dựa trên 4 đạo luật:
- Luật ổn định hóa ngành
- Luật về các biện pháp tạm thời giải quyết tình trạng thất nghiệp trong các ngành suy thoái được lựa chọn
- Luật về các biện pháp tạm thời giải quyết tình trạng thất nghiệp trong các vùng suy thoái được lựa chọn
- Luật về các biện pháp tạm thời đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được thiết kế 1 cách đặc biệt nhằm giúp những người chủ và thợ trong 1 số ngành và vùng suy thoái được lựa chọn.
Năm 1983 trở đi, Luật ổn định ngành hết hiệu lực vào tháng 4/1983 và được thay thế bằng luật về các biện pháp tạm thời để hoàn thiện cơ cấu của các ngành được lựa chọn. Luật này có hiệu lực trong 5 năm. Luật điều chỉnh công suất các ngành, hợp tác kinh doanh ngành, tập trung hóa, hợp nhất doanh nghiệp,…
- Công nghiệp Dệt
Ngành công nghiệp dệt với cơ cấu rất phức tạp với 150k cơ sở kinh doanh ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, từ nguyên vật liệu thô cho đến sản phẩm cuối cùng, và có hơn 200k nhà buôn và bán lẻ trong mạng lưới phân phối. Ngành này đã liên tục nhận được sự hỗ trợ của nhà nước từ sau chiến tranh thế giới thứ II với hơn 30 năm. Họ cũng chịu sự cạnh tranh rất gay gắt của các nước đang phát triển với chi phí sản xuất rẻ hơn liên tục cạnh tranh.
Tỷ trọng ngành dệt liên tục giảm từ giữa những năm 1965 cho tới 1980, số lượng công nhận giảm từ 17,3% còn 12,7%; giá trị sản lượng từ 11,7% xuống còn 5,7%; giá trị xuất khẩu giảm từ 18,7% xuống 4,7%. Mặc dù vậy tổng số lao động trong ngành vẫn lên tới 2,52 triệu lao động.
Quá trình chuyển biến cơ cấu ngành chủ yếu tới từ các hãng kinh doanh Nhật rất tích cực dịch chuyển dây truyền sản xuất sang các nước châu Á khác như HK, Đài Loan, Hàn Quốc và các nước này nhanh chóng tự chủ được sản xuất vải, sợi và thay thế Nhật xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường tiêu thụ như Mỹ.
Thị trường nội địa Nhật Bản cũng có sự thay đổi đáng kể khi tiêu thụ sản phẩm dệt bình quân đầu người đạt 13-14kg/năm, tỷ lệ sử dụng sợi nhân tạo tăng mạnh từ 44% lên 58%, tỷ lệ sử dụng quần áo may sẵn tăng từ 46% lên 76%. Để đối phó với cạnh tranh ngược từ các nước đang phát triển và thay đổi nhu cầu trong nước và quốc tế, các hãng đã áp dụng 5 biên pháp chính:
- Hiện đại hóa thiết bị và cải tiến công nghệ, đặc biệt ở khâu giữa của quá trình do máy móc hầu hết thuộc thế hệ trước chiến tranh
- Thay đổi sản phẩm
- Tăng cường các mối liên hệ dọc, hợp nhất và hợp tác kinh doanh
- Đầu tư ra nước ngoài và phát triển các hình thức phân công lao động quốc tế khác
- Chuyển đổi kinh doanh và đóng cửa.
Nhật Bản đã phục hồi nhanh chóng ngành công nghiệp dệt khi liên tục gia tăng sản lượng và từ 1951-1969 Nhật là nước xuất khẩu bông lớn nhất thế giới. Nhưng đi kèm với đó là sự dư thừa công suất bắt đầu nổ ra từ năm 1965 khi Nhật đạt đỉnh điểm sản lượng. Sau đó là hàng loạt các chính sách tái cơ cấu ngành, luật về các biện pháp tạm thời đối với công nghiệp Dệt được đưa ra để xử lý việc dư thừa công suất quá lớn trong ngành. Các cuộc chiến thương mại trong ngành cũng nổ ra vào những năm 1970-1971 khi ngành dệt ở cả Nhật và Mỹ đều đang phát đạt và cạnh tranh lẫn nhau rất quyết liệt. Bên cạnh đó là các nước mới nổi ở châu Á cũng bắt đầu tham gia sâu rộng vào ngành này.
Để đối phó tình trạng dư thừa công suất và áp đặt hạn ngạch xuất khẩu trong ngành. Các nhà quản lý đã thực hiện chính sách đăng ký công suất và chương trình mua và thải bỏ để giải quyết công suất dư thừa là 2 công cụ chủ yếu của chính sách điều chỉnh công suất. Sự điều chỉnh và sự kém cạnh tranh trong hàng dệt may của Nhật bắt đầu thể hiện vào những năm 1980s khi giá trị nhập khẩu tăng vọt liên tục hàng năm và sự co hẹp sản xuất trong nước.
- Công nghiệp đóng tàu
Cầu về tầu biển đã tăng rất mạnh trong giai đoạn 1960-1973 đã tạo ra sự hưng thịnh của ngành đóng tầu Nhật Bản và giúp ngành này trở thành ngành có sức cạnh tranh vượt trội so với các nước khác trên thế giới và chiếm thị phần số 1 trên thế giới với thị phần 64% vào năm 1966 và thường xuyên duy trì >50%. Nhưng cú sốc dầu mỏ bất ngờ năm 1973 đã lam ngành suy giảm nhanh chóng khi nhu cầu Năm 1973 chỉ còn bằng 30% so với trước đó và năm 1974 chỉ còn 10% và về lại mức của năm 1961. Tới những năm 1970s, Hàn Quốc và 1 số nước khác đã bắt đầu vươn lên mạnh mẽ trong ngành đóng tàu thế giới. Ngành đóng tầu là ngành mà các chính sách điều tiết ngành tỏ ra thành công ở Nhật Bản. Đặc biệt ngoài các trợ cấp về giấy phép con, hạn chế nhập khẩu thì các chính sách cho vay trả chậm ưu đãi được áp dụng làm các hãng tầu đặt lượng lớn tầu ở các nhà đóng tầu Nhật Bản trong suốt những năm 1960s.
Sự thành công của ngành đóng tầu Nhật Bản là do:
- Ngành có những đặc điểm cảu giai đoạn công nghiệp hóa bán tiên tiến
- Sự tồn tại và tiềm năng của trình độ công nghệ cao và công suất được tích lũy trong thời kỳ trước chiến tranh
- Cầu đủ để hấp dẫn cung tăng
- Cung cấp tín dụng xuất khẩu
- Có lực lượng lao động phù hợp
Sau khủng hoảng dầu mỏ lần 1 và lần 2 thì số lượng đơn đặt hàng các nhà máy đóng tầu Nhật suy giảm 90%, sự điều chỉnh lớn trong ngành đóng tầu Nhật đã diễn ra sau đó với các vụ cắt giảm công suất, sáp nhập, phá sản, xa thải lao động diễn ra hàng loạt và quy mô lớn. Kết quả kinh doanh các hãng cũng sụt giảm mạnh tương ứng.
- Công nghiệp tinh chế nhôm
Công nghiệp tinh chế nhôm là ngnafh có khả năng đáp ứng được trên thực tế đầy đủ cầu nội địa, nhưng đã phải nhường đường cho phân công lao động quốc tế và phải giảm năng lực sản xuất khi quá trình quốc tế hoạc của kinh tế Nhật Bản được đẩy mạnh.
Ngành tinh chế nhôm đạt sản lượng kỷ lục 96k tấn/tháng vào năm 1980 và sau đó suy giảm liên tục về còn 22k tấn/tháng vào năm 1983. Đi kèm với việc sản xuất giảm mạnh thì lượng nhập khẩu tăng mạnh tương ứng từ mức 70k tấn năm 1980 lên 100k tấn năm 1983. Khi giá năng lượng tăng mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng dầu mỏ thì ngành nhôm bắt đầu suy yếu do sản xuất điện lúc đó phụ thuộc chính vào dầu mỏ, và điện là nguồn đầu vào trọng yếu bậc nhất với ngành tinh chế nhôm. Ngành tinh chế nhôm bao gồm các công đoạn sau: khai thác quặng booxxit -> sản xuất alumin -> điện phân quặng alumin -> sản xuất nhôm -> cán tấm và chế biến.
Ngành tinh chế nhôm tại Nhật chỉ tham gia 2 khâu là sản xuất alumin và điện phân quặng alumin. Công suất tinh chế nhôm tại Nhật tăng từ mức 800k tấn vào năm 1970 lên 1,64 triệu tấn vào năm 1978. Sự tăng trưởng nóng của sản lượng đến từ việc các nhà máy cán nhôm, những người tiêu thụ nhôm thỏi tích cực tham gia vào việc tinh chế để nâng cao theo chiều sâu chuỗi cung ứng, trong khi những người đã trong ngành tinh chế nhôm lại gia tăng sản lượng để giảm giá thành nhằm tự bảo vệ mình. Hậu quả là công suất tăng mạnh nên khi gặp cú sốc dầu mỏ làm giá điện tăng mạnh làm cả ngành rơi vào khủng hoảng trầm trọng.
Thị trường nhôm thế giới đầu những năm 1970 bị kiểm soát bởi 6 tập đoàn sản xuất lớn là Alcan, Alcoa, Rynolds Metals, Kaiser Aluminum, P’echiney, và AL-swiss với hơn 80% sản lượng các nước tư bản, nhưng sự tham gia vào ngành của nhiều nước đã làm nhóm này suy giảm còn 40% vào cuối những năm 70s. Thêm vào đó sản giao dịch hàng hóa London (LME) đã cho giao dịch nhôm trên sàn làm giá sản phẩm trở nên rất nhậy cảm với thị trường làm phá vỡ thế độc quyền đa phương của các ông lớn sản xuất nhôm trước đây. Vai trò của Alcan cũng suy giảm dần và đặc biệt vào năm 1983, Sở giao dịch hàng hoa New York (COMMEX) cũng bắt đầu cho giao dịch nhôm thỏi đã chính thức phá vỡ hoàn toàn độc quyền đa phương giá nhôm này.
Nhu cầu tiêu thụ nhôm chủ yếu tới từ nhu cầu của các sản phẩm khung và cửa nhôm trong ngành xây dựng. Tại Nhật trong những năm 1969-1970 sự gia tăng sản lượng sản xuất thấp hơn nhiều sự gia tăng của nhu cầu nội địa nên ngành kinh doanh rất thuận lợi, kinh tế trong giai đoạn bùng nổ mạnh mẽ. Ban đầu chỉ có 3 tập đoàn tham gia ngành, nhưng sau đó có thêm 2 hãng nữa tham gia. Sự gia tăng sản lượng kéo dài tới cuối năm 1970 và sau đó nhanh chóng sụt giảm mạnh mẽ do giá nhôm thỏi ở Nhật quá đắt đỏ so với nhập khẩu. Tới năm 1983, 80% nhôm thỏi là hàng nhập khẩu ở Nhật.
Về chính sách của ngành, ngành không được ưu tiên khuyến khích phát triển trong suốt giai đoạn hậu chiến (sau 1945), mãi tới năm 1969 trong ấn bản của MITI mới đề cập tới ngành và năm ở vị trí thứ 16 trong các ngành công nghiệp chủ chốt của Nhật. Ngành nhận được ít sự quan tâm nên được đưa ra là ngành đầu tiên đàm phán khi Nhật tiến hành tự do hóa thương mại khi tham gia vào OECD. Nippon Light Metal là hãng chiếm 50% thị phần tinh chế Nhôm ở Nhật khi đó, và công ty này là 1 liên doanh mà Alcan nắm 50% vốn.
Từ năm 1973, ngành tinh chế nhôm bắt đầu được quan tâm hơn hẳn và đưa vào chính sách của MITI. Với sự dưa thừa công suất ngành đã bắt đầu quá trình tái cơ cấu ngành, đưa nhà máy ra nước ngoài, kêu gọi nhân viên tự xin nghỉ hưu sớm,… ngành đang rơi vào tình trạng thua lỗ nặng nề từ sau khủng hoảng dầu mỏ. Nhiều chính sách hỗ trợ các hãng giảm sản lượng đã được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề nhưng đều không mấy thành công. Công suất các nhà máy từ mức đỉnh 1,64 triệu tấn đã giảm còn 1,11 triệu tấn. Các nhà máy liên tục đóng cửa trong những năm 1980s. Lượng tồn kho trong ngành tăng vọt và dự báo dưa thừa công suất tới 700k tấn.
Các chính sách giải cứu được đưa ra từ những năm 1981 với nhiều chính sách như điều chỉnh giảm công suất, giúp các doanh nghiệp rời khỏi ngành đã được đưa ra. Công ty lớn nhất ngành lựa chọn giảm sản lượng, hàng loạt các hãng còn lại lựa chọn đóng cửa các nhà máy và có hãng hoàn toàn rời khỏi ngành, 1 số thì chuyển sang hoạt động khâu khác như cán nhôm.
- Phần VI. Tổ chức ngành và chính sách ngành
- Điều phối trong ngành: Sản lượng, giá cả và đầu tư
Chính sách thường được áp chỉ đến các biện pháp như: trợ cấp, vay với lãi suất thấp, và thuế quan. Nhưng rất khó đánh giá được tác động của 1 chính sách, nếu chính sách đó không được thực thi thì sẽ thế nào.
Trọng tâm đánh giá ở đây là sự điều phối trong ngành về sản lượng, giá cả hay đầu tư còn được gọi là “điều phối trong ngành” hoặc “điều phối”. Ngành thép được coi là ngành điển hình nhất của các chính sách điều phối ngành được áp dụng tại Nhật Bản trong thời kỳ hậu chiến. Hiệp hội có vai trò rất quan trọng trong việc thực thi sự chỉ đạo hành chính của MITI. Chính phủ sẽ cố gắng ngăn chặn tình trạng cạnh tranh quá mức trong ngành.
Hệ thống giá niêm yết trong ngành thép Nhật Bản được coi là 1 mẫu hình về điều chỉnh sản lượng và điều chỉnh giá. Nó được hình thành trong thời gian áp dụng chính sách chống độc quyền. Các chính sách điều phối chặt chẹ ngành thép này lại thực hiện vào những năm 1958 là giai đoạn nền kinh tế Nhật bùng nổ xây dựng nên các chính sách này không thật sự tỏ ra hiệu quả như mong muốn do nhu cầu tăng mạnh, nó chỉ hiệu quả khi cầu thu hẹp.
Điều phối nội bộ ngành về sản lượng, định giá hay đầu tư luôn được coi là 1 phần quan trọng trong chính sách ngành. Tuy nhiên, trên thực tế, chính phủ hầu như không bao giờ tham gia tích cực vào việc thực thi chính sách, hoặc có ảnh hưởng trực tiếp, rõ ràng đối với ngành thông qua sự can thiệp.
- Sáp nhập và tái tổ chức
Chính sách sáp nhập và tái tổ chức từng là 1 công cụ mạnh trong chính sách công nghiệp của Nhật Bản thời hậu chiến và được xem là không thể thiếu được đối với quá trình điều chỉnh và tái cơ cấu công nghiệp. Tuy nhiên, ý nghĩa của chính sách này còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế quốc gia và việc các ngành công nghiệp hoặc doanh nghiệp nào được chọn làm đối tượng của tái tổ chức.
Quá trình sáp nhập và tái tổ chức trải qua 2 đợt lớn là đầu những năm 1960 mà đỉnh điểm là năm 1963 và những năm 1970. Quá trình này xảy ra khi Nhật Bản bị buộc phải mở cửa nền kinh tế khi tham gia sâu vào thương mại thế giới và sức ép lớn khi Mỹ liên tục thâm hụt thương mại còn Nhật thì tăng trưởng gấp 2 lần so với bình quân thế giới. Việc tái tổ chức, sáp nhập các doanh nghiệp để tạo ra các doanh nghiệp có quy mô lớn để cạnh tranh được ở phạm vi toàn cầu. Các vụ sáp nhập theo chiều ngang chiếm khoảng 50% – 80% số vụ, và tổng tài sản và dần hình thành các tổ chức lớn và sự tái lập của các zaibatsu mà đã bị giải thể sau thế chiến II. Các vụ sáp nhập rất thường xuyên xảy ra giữa các doanh nghiệp có mối liên hệ với nhau như công ty mẹ – con, chi nhánh, hoặc các doanh nghiệp thuộc cùng nhóm kinh doanh, các doanh nghiệp bị buộc phải tách khỏi nhau giai đoạn trước đây nay lại tái lập lại.
Các chính sách khác được áp dụng như MoF cho phép các ngân hàng sáp nhập với nhau, tái tổ chức ngành đóng tàu, tái tổ chức ngành dầu khí khi quy định công suất tối thiểu etylen phải đạt 300k tấn vào năm 1967.
Các chính sách hỗ trợ tập trung hóa để tạo ra các tập đoàn công nghiệp khổng lồ cũng được ưu tiên và từ đó ra đời 2 tập đoàn siêu lớn là Tập đoàn công nghiệp ặng Mitsubishi và Công ty Thép Nippon. Năm 1960 chỉ có khoảng 13 công ty Nhật có mặt trong danh sách Fortune 100 thì tới năm 1970 con số này lên 20 công ty.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ở Nhật Bản có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong nhiều lĩnh vực đặc biệt trong công nghiệp chế biến , thương nghiệp bán buôn và bán lẻ, và lĩnh vực dịch vụ. Các doanh nghiệp SMEs có số lượng lớn và sử dụng lao động cũng rất lớn trong nền kinh tế Nhật.
Vào năm 1981, SMEs chiếm 99,4% cơ sở kinh doanh và 75,6% lực lượng lao động. Chính sách về SMEs khác với các dạng chính sách công nghiệp khác ở chỗ tiêu thức đẻ xem xét là quy mô, chứ không phải lĩnh vực hoạt động, của doanh nghiệp. Nhìn chung các doanh nghiệp SMEs luôn bị yếu thế hơn hẳn các doanh nghiệp lớn cho dù họ có cùng kinh doanh trên 1 thị trường hay quan hệ đối tác bên mua bên bán.
Chính sách với SMEs là thủ tiêu các nhân tố không hoàn hảo trên các thị trường lao động, tiền tệ, hàng hóa và thông tin. Các biện pháp chính sách này bao gồm việc trợ cấp cho đào tạo nhân lực, cung ứng nguồn tài chính và cung cấp thông tin. Các SMEs tại Nhật có tới 60% là hoạt động dưới dạng nhà thầu phụ, đặc biệt trong lĩnh vực cơ khí, chế tạo.
- Kết luận
Ở Nhật Bản, mục tiêu của chính sách công nghiệp đã từng là việc hiện đại hóa cơ cấu công nghiệp, và trên thực tế, ưu tiên trước hết dành cho công nghiệp nặng và hóa chất, và tiếp theo là cho các ngành có hàm lượng tri thức cao. Còn hiện nay (1983), mục tiêu là hình thành các ngành công nghiệp có công nghệ cao. Để thúc đẩy công nghiệp nặng và hóa chất, người ta dựa vào ý tưởng kết hợp các tiêu chuẩn về hệ số co dãn cao của cầu theo nhập và tốc độ gia tăng nhanh của năng suất. Đối với ngành có hàm lượng tri thức cao, thì các thuật ngữ về tắc nghẽn dân số và cân nhắc về môi trường và điều kiện làm việc được bổ sung thêm.



















