Châu Á thần kỳ – Thiên sử thi về hành trình tìm kiếm sự thịnh vượng của châu Á (The Miracle) – Michael Schuman
Câu chuyện về sự thần kỳ của châu Á, câu chuyện về những con “Rồng”, con “Hổ” Á Đông. Cuốn sách cố gắng tìm hiểu điều gì thực sự tạo nên phép mầu cho kinh tế của châu Á?
- Chiếc máy thu thanh làm thay đổi thế giới – Nhật Bản
Morita khi đang là sỹ quan thông tin ở Nhật Bản nghiên cứu hệ thống dẫn đường hồng ngoại để mong muốn đuổi kịp công nghệ của Mỹ đặc biệt trong lĩnh vực điện tử. Nhưng sau khi 2 quả bom nguyên tử được thả xuống Nhật thì ảo tưởng đuổi kịp công nghệ tan vỡ vì người Mỹ đã chế tạo được bom nguyên tử có nghĩa họ đã bỏ xa Nhật ở mọi lĩnh vực. Và rằng cần từ bỏ cố gắng phát triển công nghệ chỉ cho mục đích vũ khí và chiến tranh mà cần hướng tới tương lai.
Nhận thức được điều này, năm 1946, Morita cùng Masaru Ibuka cùng nhau sáng lập ra Sony (Tokyo Telecommunications Engineering Corporation). Trụ sở ban đầu là cửa hàng đổ nát ở Tokyo. Sau đó họ chuyển về 1 cái lán gỗ sập xệ nằm ở ngoại thành. Mục tiêu của họ là “tái thiết Nhật Bản và nâng tầm văn minh của đất ước thông qua những hoạt động sản xuất và công nghệ sôi động.”
Năm 1953, Morita có chuyến đi Mỹ và Tây Đức và chứng kiến quy mô nền kinh tế khổng lồ của Mỹ và sự phục hồi thần kỳ của Tây Đức vượt xa mức độ phục hồi của Nhật Bản làm anh thấy nản lòng. Khi quay về nước, Morita đi qua Hà Lan và thăm qua nhà máy Philips và nhận thấy tâm vòng khổng lồ của công ty này. Đây là hình mẫu cho Morita thay đổi công ty Sony của mình ở Nhật. Và với tinh thần kinh doanh rộng mở, thích giao du rộng rãi giúp Morita sau này thành doanh nhân tiêu biểu nhất của phép mầu châu Á, và công ty Sony cũng thành công ty tiêu biểu – biểu tượng cho phép mầu ở châu Á trong suốt thế kỷ 20. Với năng bẩm sinh về thấu hiểu hành vi khách hàng và nhận diện ra những xu hướng phát triển xã hội, công nghệ trong tương lai đã giúp Morita thành người nổi bật nhất trong ngành.
Trước khi Sony nổi lên là người dẫn đầu ngành điện tử thế giới, người ta chỉ biết đến Nhật với các loại hàng hóa vặt vãnh, nhái theo thiết kế của phương Tây hay những vật dụng rẻ tiền như cái dù giấy dùng để trang trí ly kem. Chiếc máy nghe nhạc Walkman là sản phẩm nổi bật của Sony và đã len lỏi vào đời sống của người tiêu dùng toàn thế giới và đã đóng mác vào “Sản xuất tại Nhật Bản” là sản phẩm chất lượng cao, giá rẻ hơn rất nhiều các sản phẩm của Mỹ hay châu Âu.
Năm 1952, Sony đề xuất nhượng quyền công nghệ bóng bán dẫn với Western Electric của Mỹ. Mặc dù rất nghi ngại về năng lực của Sony nhưng Western vẫn giao cho Sony 2 cuốn cẩm nang nhỏ về kỹ thuật để tham khảo. Sony còn phải xin phép chính phủ Nhật để chấp thuận cho Sony làm ăn với Mỹ thì hợp đồng nhượng quyền mới có giá trị. Sony cần trả 25k USD tiền bản quyền, nhưng ngoại tệ lại bị MITI (Bộ tham mưu kinh tế) kiểm soát và không chịu cấp cho Sony ngoại tệ. Cuộc chiến này kéo dài 6 tháng sau rất nhiều lần thuyết phục MITI mới chấp thuận cho Sony mua bản quyền này.
Lịch sử Nhật – Mỹ bắt đầu từ 9/7/1853 khi viên tướng Perry dùng sức mạnh quân sự để mở toang cánh cửa khép kín với thế giới của Nhật từ thế kỷ thứ 17 dưới sự cai trị của Mạc Phủ Tokugawa. Sự nhục nhã này đã hình thành liên minh lật đổ chế độ Mạc Phủ vào năm 1868 và khôi phục quyền lực vào tay Minh Trị Duy Tân, tại cây cuộc cải cách lớn đã được diễn ra tại Nhật Bản mà chỉ trong vòng 40 năm đã làm Nhật thành nước cường quốc công nghiệp thế giới. Thời kỳ này Nhật điên cuồng nhập khẩu công nghệ nước ngoài, đưa người ra nước ngoài học tập, xây dựng hệ thống trường học, đại học kiểu Mỹ, các bộ luật được đưa ra theo mô hình Anh – Đức. Nhưng họ chỉ vay mượn chứ không rập khuôn y đúc các nước phát triển phương Tây. Các nhà lãnh đạoMinh Trị không dám tin tưởng đặt tương lai đất nước vào các lực lượng ủng hộ kinh tế tự do. Nhà nước đã can thiệp mạnh vào công cuộc công nghiệp hóa đất nước ngay từ đầu. Khi kinh tế bùng nổ phát triển, các tập đoàn kinh tế lớn, gọi là zaibatsu, cũng được hình thành. Việc thất bại trong chiến tranh càng làm cho chính phủ và giới lãnh đạo doanh nhân Nhật thêm cháy bỏng khát khao bắt kịp phương Tây. Các nguồn lực vốn được dành hầu chết cho chiến tranh đã được thay đổi chuyển hướng sang phát triển kinh tế càng nhanh càng tốt với khẩu hiệu “vượt qua châu Âu và nước Mỹ”. Đội ngũ công chức Nhật và tập thể doanh nghiệp sáng tạo ra mô hình vận hành theo GNP, là nền tảng tạo ra “mô hình châu Á”. Về cơ bản họ là các học trò của Okubo thời Minh Trị.
MITI đã chọn ra những kẻ thắng cuộc bằng cách nhắm vào 1 số ngành nghề nhất định mà họ cho là có tiềm năng phát triển và có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Đầu tiên họ đã chọn đúng được ngành thép và đóng tầu. Sau đó họ bắt đầu chọn những ngành công nghệ cao, chẳng hạn như công nghệ bán dẫn. Các chính sách chính là cho vay lãi suất rất thấp, miễn thuế nhập khẩu thiết bị, nhận chuyển giao công nghệ nước ngoài, dựng hàng rào bảo hộ doanh nghiệp nội địa khỏi sự cạnh tranh của các đối thủ nước ngoài. Nhìn chung mô hình MITI là tốt, chỉ có nhược điểm là họ quản lý nền kinh tế cao độ hơn rất nhiều so với mô hình tự do hóa kiểu Mỹ, đặc biệt trong 1 môi trường kinh tế thị trường tự do hiện nay. Nhật khi đó đã có 4 keiretsu (tên mới của các zaibatsu bị giải tán sau chiến tranh thế giới 2) nổi tiếng toàn cầu là Mitsubishi, Sumitomo, Fuji, và Mitsui.
Với định hướng xuất khẩu, các doanh nghiệp không còn cách nào khác phải trở thành những nhà sản xuất hiệu quả, chất lượng cao càng nhanh càng tốt. Nhật hình thành 1 chỉnh thể thống nhất, bền chặt giữa chính phủ – MITI – doanh nghiệp và họ hoạt động hiệu quả. Tuy vậy, 1 số ngành có sự đỡ đầu cao của MITI vẫn thất bại như ngành sản xuất máy bay thương mại. Trong khi đó nhiều ngành không có sự đỡ đầu của MITI mà hoạt động tự do lại vương lên toàn cầu như sản xuất xe máy, chế tạo người máy, sản xuất máy fax, điển tử gia dụng,…hay như Sony gần như chính sách của MITI làm hạn chế Sony chứ không giúp thúc đẩy vào sự thần kỳ của Sony.
Sony khởi đầu với Morita, con nhà nòi kinh doanh với sản phẩm rượu Sake đã trải qua 3 thế kỷ, nhưng lại đam mê ngành điện tử hơn ngành rượu truyền thống gia đình. Ông cùng người bạn Ibuka quen biết khi là ở phòng thí nghiệm hải quân đã lập ra Sony từ đổ nát, sáng tạo đầu tiên là thiết bi ghi âm, và bước tiến quan trọng nhất với Sony vào năm 1954 khi họ đã tự sáng tạo ra được bóng bán dẫn và tích hợp nó vào thiết bị radio của mình vào năm 1955, chiếc máy thu thanh mới này rất nhỏ gọn và cho vừa vào túi áo. Năm 1960, Sony bắt đầu nhìn ra sàn đấu toàn cầu và sẵn sàng cạnh tranh toàn cầu với việc lập công ty Sony tại Mỹ và quyết tâm chinh phục thị trường này.
Năm 1960, Ikeda cựu bộ trưởng tài chính trở thành thủ tướng với quyết tâm tăng gấp 2 lần thu nhập người dân. Ông đã khơi gợi được mọi tầng lớp nhân dân Nhật đồng lòng hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Năm 1970, kế hoạch 10 năm của Ikeda đã vượt xa ban đầu với GDP tăng lên tới 40k tỷ Yên thay vì như kế hoạch là 28k tỷ Yên.
- Vì sao Hàn Quốc muốn nhân bản vô tính một kẻ độc tài? – Park Chung Hee – Hàn Quốc
Vào 16/5/1961, Park cùng các tướng lĩnh trẻ đã tiến hành 1 cuộc đảo chính để lật đổ các lãnh đạo chính trị mà ông và các cộng sự tin rằng tham nhũng, thối nát và sẽ không đưa đất nước tiến lên được. Cuộc đảo chính thành công, Park trở thành tâm điểm của chính trị HQ trong suốt 18 năm nắm quyền sau đó. Chế độ của Park kiểm soát nhà nước gần như hoàn toàn vượt xa cách của MITI đã làm ở Nhật mặc dù Park xây mô hình quản lý kinh tế tương tự Nhật. Với việc thiết kế phần lớn chương trình kinh tế, Park đã thách thức các lý lẽ thông thường của kinh tế học cổ điển. Thành công của Park đóng góp thêm 1 trong những chủ đề gây tranh cãi nhiều nhất của phép màu: sự phát triển kinh tế nhanh chóng đòi hỏi cần phải có sự thống trị độc đoán. Đây là gọi: chế độ độc tài phát triển. Ông cho rằng điều gì đúng với HQ thì cũng đúng với các nước châu Á khác. Các dân tộc châu Á muốn có bình đẳng kinh tế trước rồi sau đó mới xây dựng 1 cơ chế chính trị công bằng hơn.
Các nước đã trải qua tình trạng tương tự kể tới có: HQ, Đài Loan, TQ, Indonesia, hay quân đội kiểm soát rất lâu Thái Lan, hay tự do bị hạn chế như Singapore, Malyasia, Nhật. Rõ ràng các nước sẵn sàng ưu tiên cho kinh tế trước và dân chủ thường sau. Nhưng từ những năm 90s trở lại đây, độc tài đã suy yếu mạnh ở các nước châu Á, và ngay cả ở chính HQ. Mặc dù bị đàn áp dân chủ, khắc nghiệt trong kiểm soát quyền lực nhưng người HQ vẫn chọn Park là người họ muốn làm tổng thống nhất. Park lãnh đạo phong cách noi gương, ông sống tiết kiệm, làm việc không ngừng, liên tục kêu gọi lặp đi lặp lại mọi người dân hiến dâng cho quá trình phát triển kinh tế của HQ. 1 người lao động thời đó ở HQ có thời gian lao động dài hơn 30% so với người lao động tại Mỹ.
Park thành lập các bộ tài chính và công nghiệp tương tự Nhật, đặt các hàng rào bảo hộ tương tự, ngân hàng phát triển HQ tương tự ngân hàng phát triển Nhật Bản,… ông copy cả các ngành mà Nhật thành công để mang sang HQ phát triển các ngành đó 1 cách tương tự. Park ép các tập đoàn lớn phải đầu tư vào các ngành nghề mà Park ưu tiên nếu không sẽ bị xử lý, lập ra siêu ủy ban EPB quyền lực rất lớn, quốc hữu hóa hết các ngân hàng tư nhân để dễ dàng kiểm soát việc bơm tín dụng và lãi suất thấp ra thị trường hỗ trợ các ngành trọng điểm. Các lĩnh vực thâm dụng lao động lớn được ưu tiên do chi phí nhân công rẻ ở HQ khi đó.
Các chuyên gia đã sai lầm khi cho rằng dự án thép POSCO sẽ là 1 thảm họa với HQ, nó ngốn ngoại tệ và HQ không có thị trường tiêu thụ đủ lớn, không có công nghệ, nguyên liệu nên hoàn toàn thiếu tính thương mại hóa. Vị tướng Park Tea Joon được chỉ định là Tổng Giám đốc nhà máy đã cho thấy cả thế giới đã đánh giá sai lầm về POSCO và quyết tâm của cả đất nước HQ. POSCO sau 25 năm đã thành công ty có hiệu quả kinh doanh tốt nhất nhì ngành thép thế giới, với sản lượng thép lớn thứ 2 trong các nhà máy thép ở tầm thế giới. Ngoài ngành thép, Park còn ưu tiên phát triển 5 ngành khác là hóa chất, đóng tầu, oto, điện tử, máy móc. Ngoài việc nuôi dưỡi các tập đoàn thành các chaebol, ông còn trừng phạt họ nếu họ kém hiệu quả như là lời cảnh báo đừng quá ỷ lại vào chính phủ.
Huyndai của Chung Ju Yung là chaebol được Park Chung Hee yêu quý và ưu ái nhất trong tất cả cac Chaebol mà ông nuôi dưỡng và cung cấp nguồn sữa gần như vô hạn để phát triển. Chung Ju Yung sinh ra ở làng chài nghèo năm 1915, thất học và tự học nhưng luôn khát khao làm giầu. Đi làm từ năm 1931 trong cảnh nghèo khó, năm 1934 ông trốn nhà lên Seoul và làm giao hàng cho 1 công ty gạo. Nhờ làm việc chăm chỉ, đạo đức mà ông chủ công ty sau đó trao lại công việc kinh doanh cho Chung. Sau đó ông vay mượn tiền mở 1 gara sưa chữa xe oto, sau chiến tranh thế giới II, ông quay lại mở 1 gara mới lấy tên là Cơ sở Ô tô Huyndai (Huyndai Auto Service). Năm 1947, nhận thấy cơ hội lớn ngành xây dựng do quân đội Mỹ xây điên cuồng ở HQ, Chung đã thành lập Công ty Xây dựng Dân dụng Huyndai để tham gia. Nhờ biết tận dụng mà công ty xây dựng Huyndai phát triển thần tốc và sau đó trở thành hạt nhân chính trong đế chế Huyndai sau này. Tới năm 1960, Công ty Xây dựng Huyndai đã là công ty xây dựng lớn nhất HQ. Chung gặp Park Chung Hee lần đầu sau khi Park đảo chính và gặp gỡ các doanh nhân hàng đầu HQ khi đó. Chung xây dựng nhà máy xi măng năm 1964, xây dựng đường cao tốc xuyên quốc gia theo chỉ đạo của Park năm 1967, nhờ sự hợp tác xây con đường này mối quan hệ của họ chính thức cực kỳ khăng khít. Giai đoạn này, Chung cũng đưa Huyndai vào lĩnh vực kinh doanh mới là Ô tô theo ý chí tập trung phát triển 6 lĩnh vực công nghiệp trọng điểm. Nhà máy Ô tô Huyndai được mở ở làng chài Ulsan và sau đó trở thành đại bản doanh hoạt động công nghiệp của Huyndai và biến thành thành phố quan trọng nhất của HQ sau này. Ban đầu Huyndai Motor lắp ráp xe của Ford, rồi sau đó mua bản quyền công nghệ của Mitsubishi Motors và bắt đầu tự chủ công nghệ sản xuất oto.
Lĩnh vực thực sự để lại dấu ấn nhất của Chung là lĩnh vực đóng tầu. Năm 1970, Chung thành lâp công ty đóng tầu Huyndai. Chung lấy được hợp đồng đóng tầu chở đầu đầu tiên với trùm tầu Hy Lạp, và vay được 50tr USD từ Barclays để khởi động nhà máy đóng tàu vào năm 1972. Vẫn với việc xây dựng thần tốc, công nhân nhà máy làm việc 17h/ngày. Chung đi tới đi li khích lệ tinh thần họ bằng những viễn cảnh về 1 tương la phồn vinh. Năm 1974, sau 2 năm lỗ lực con tầu đầu tiên hoàn thành và trong vòng 10 năm sau đó, Chung trở thành nhà đóng tàu lớn nhất thế giới. Mô hình độc tài của Park tiếp tục được duy trì sau khi ông qua đời.
- Những giá trị châu Á của vị bộ trưởng cố vấn – Lý Quang Diệu – Singapore
Sau khi liên bang Malaysia được thành lập khi Anh trao trả độc lập và Singapore là 1 phần trong đó. Mối bất hòa giữa họ ngày càng lớn và không thể dung hòa được. Năm 1965, Singapore chính thức tuyên bố độc lập với vị thủ tướng đầu tiên Lý Quang Diệu. Lý rất lo ngại vấn đề an ninh ở Sing lúc đó, với cộng đồng người Hoa di cừ từ TQ cùng cộng đồng thiểu số Ấn Độ và Mã Lai bản địa. Họ không hề có bản sắc Singapore, hay sự trung thành nào.
Singapore từ khi được thành lập bởi Anh năm 1819 đã là 1 trung tâm giao thương ở khu vực mà chủ yếu các giao dịch với Malaysia và Indonesia. Khi giành độc lập, 2 đối tác chính bị đình trệ. Lý nói cần phải tạo ra 1 loại hình kinh tế mới, thử những phương pháp và chuwogn trình mới chưa từng được thử bao giờ ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới vì chẳng có 1 đất nước nào giống Singapore cả. Singapore với quyết tâm của mình đã là 1 phép mầu thần kỳ của châu Á sau đó. Singapore từ 1 quốc gia sa cơ lỡ vận sang 1 quốc gia tràn đầy sức sống có tầm vóc quốc tế. Hòn đảo này ngày nay là 1 trong những bến cảng sầm uất nhất thế giới, là 1 trung tâm tài chính chủ chốt của khu vực và là 1 trung tâm nghiên cứu tế bào gốc được công nhận trên toàn cầu. Nhân vật trung tâm của câu chuyện là 1 Lý Quang Diệu hay luận chiến, người đã chèo lái đất nước bằng tầm nhìn rộng mở và ý chí bất khuất, quật cường.
Tính cách duy nhất nổi trội lấn át hơn hẳn của Lý Quang Diệ là đầu óc thực tế giống như máy tính của ông. Lý có ứng dụng 1 số khía cạnh của “mô hình châu Á” trong phát triển nhưng cách làm của ông có nhiều điểm khác biệt. Sự khác biệt chính là giới chức Singapore không tập trung vào nuôi dưỡng các doanh nghiệp trong nước như Nhật Bản hay HQ. Và khác biệt nữa là Singapore là nước cởi mở nhất với nguồn vốn nước ngoài (FDI, FII) phục vụ cho việc phát triển trong nước. Khi cần ngành nghề nào đó phát triển, chính quyền Singapore sẽ thực tiếp tham gia vào phát triển nó. Nhà nước Singapore cũng can thiệp vào đời sống cá nhân của công dân mình đến 1 mức độ khó có thể chấp nhận được nếu ở phương Tây. Mặc dù có bầu cử nhưng suốt từ năm 1959 tới nay chỉ có 1 đảng nắm quyền là đảng của Lý Quang Diệu.
Lý sinh ra năm 1923 trong 1 gia đình giầu có ở đây. Ông học trường Raffles danh giá từ phổ thông tới đại học. Sau khi chiến tranh thế giới II kết thúc, người Anh quay trở lại Sing. Lý đắng ký học đại học trơ rlaij ở ĐH Cambridge ở Anh. Sau đó ông tham gia chính trị và tham gia nhóm đấu tranh để chấm dứt sự cai trị của Anh ở Malay và Singapore. Năm 1950 ông quay trở lại Singapore và đảng CS đang áp đảo ở đây, Lý đã xây dựng 1 đảng mới là đảng PAP nhằm chống lại điều này vào năm 1954. Năm 1959, đảng PAP của Lý giành thắng lợi lớn trong cuộc bầu cử để Singapore tự trị. Năm 1961, Singapore gia nhập liên bang Mã Lai mới thành lập sau khi Anh trao trả độc lập, nhưng Malaysia theo chủ nghĩa dân tộc khác với tư tưởng Lý nên liên bang nhanh chóng sụp đổ và Singapore lại độc lập chính thức từ 1965. Cách thức kinh doanh cũ không thể được nữa, chỉ còn con đường công nghiệp hóa. Sing đã nhờ Liên Hợp Quốc giúp đỡ bằng cách học hỏi mô hình 1 số nước dân số nhỏ nhưng phát triển như Bỉ và Hà Lan.
Với sự giúp đỡ của nhà kinh tế học người Hà Lan, Winsemiuns, họ đã cố vấn đầy thành công cho Lý và bộ máy Singapore chuyển mình. Sing đã lập Ban phát triển kinh tế (EDB) và nó đã trở thành động cơ thúc đẩy phép màu tại Singapore, 1 lực lượng đặc nhiệm phối hợp các bộ ngành chính phủ để khiến cho tiến trình đầu tư nước ngoài diễn ra suôn sẻ và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng tốt. Khu công nghiệp Jurong được lập ra nhưng không mấy thành công thủa ban đầu này. Năm 1962, nhà nước Singapore trực tiếp thành lập nhà máy thép quốc gia, ngành đóng tàu, hãng vận tải biển, ngân hàng phát triển quốc doanh,…
Lý vẫn lầm lũi xây dựng chiến lược phát triển cho Singapore, và cảm hứng được lấy từ Israel chứ không phải các nước Đông Á khác. Vì vậy, Lý chuyển hướng sang xuất khẩu. Nhưng không có nền móng xây dựng các công ty nội địa hùng mạnh, Lý tập trung xây dựng là căn cứ cho các công ty đa quốc gia ở Singapore và làm trạm trung chuyển, nơi gia công cho họ để xuất về Mỹ hay Châu Âu. Lý đặc biệt mời chào các công ty đa quốc gia từ Mỹ. Lý nhận ra cơ hội lớn ở việc các doanh nghiệp Mỹ sẽ thuê ngoài sản xuất nhờ tận dụng nhân công giá rẻ và chở hàng hóa về bằng đường hàng không hoặc đường biển. Lúc đó tư tưởng này vẫn đang là 1 tư tưởng cấp tiến ở Mỹ.
Năm 1964, Tăng Chấn Mộc đảm nhận vai trò sang Mỹ xúc tiền đầu tư và ông trường kỳ ở lại Mỹ mời chào các cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp Mỹ xây dựng nhà máy ở Singapore. Dần dần nỗ lực không ngừng nghỉ này cũng nhận được phản hồi tích cực. Ông nhận thấy ngành công nghiệp bán dẫn có thể là mục tiêu tiềm năng của Singapore. Do sức ép của các nhà sản xuất Nhật rất rẻ đã làm các nhà sản xuất Mỹ phải tìm kiếm nơi “outsource” để giảm giá thành. Đột phá đến từ việc ông tiếp xúc với Taxas Intruments (TI) và thuyết phục họ mở nhà máy ở Singapore.
Năm 1969, TI chính thức đầu tư vào Singapore, EBD đã sẵn sàng hỗ trợ tối đa cho TI chỉ trong vòng 50 ngày từ khi cấp phép TI đã đi vào sản xuất. Sau đó là 2 công ty sản xuất chip khác của Mỹ là National và Fairchild cũng mở nhà máy tại đây. Sau đó là mời chào thành công Phillips đầu tư vào đây thay cho Đài Loan. Rồi General Electrics cũng đầu tư 3 nhà máy tại đây và trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Singapore. Vào năm 1972, khu công nghiệp Jurong từng bị chế nhạo đã thu hút được 417 nhà máy với 48k công nhân và có thên 74 nhà máy đang xây dựng. Các lĩnh vực đổ vào Singapore chủ yếu là ngành công nghệ cao như thiết bị ngoại vi máy tính, ổ đĩa, chất bán dẫn và nhiều thiết bị công nghệ thông tin khác.
Bài học quan trọng nhất rút ra từ câu chuyện của Singapore là cách thức Lý Quang Diệu làm thé nào để thu hút tất cả vốn đầu tư của ngành công nghệ thông tin. Mục tiêu của ông là “xây dựng 1 mảnh đất mầu mỡ của thế giới thứ nhất tại 1 khu vực của thế giới thứ 3.”
- Thời niên thiếu của siêu nhân – Hồng Kông
Năm 1967, Lý Gia Thành đã có 20 năm kinh nghiệm trong việc sản xuất đồ nhựa. Lúc đó nhà máy của ông đang sản xuất đầu búp bê cho nhà Hasbro. Ông là kiểu người làm việc sáng tạo và đáng tin cậy. Ông đã vươn lên trong 1 rừng các nhà công nghiệp nhỏ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á và trở thành người nổi bật trong số họ. Điều này có được do làn sóng thuê ngoài sản xuất của Mỹ bắt đầu bùng nổ từ những năm 1950 trở về đây. Ban đầu các công ty Mỹ thuê các công ty Nhật sản xuất, sau đó từ giữa nhưng năm 1960 trở đi thì chuyển sang các công ty Hàn Quốc, Đài Loan và Hong Kong. Các hàng hòa ở Mỹ cũng có sự dịch chuyển lớn như búp bê với hơn 50% sản lượng tới từ các nước châu Á.
Các nhà máy tại Mỹ lần lượt đóng cửa và rất ít trụ lại được vì vấn đề chi phí sản xuất quá cao so với các nước châu Á. Phép màu ở châu Á có thể xảy ra được là nhờ vào việc sản xuất những loại hàng hóa tiêu dùng rẻ tiền chất lượng thấp để xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu. Năm 1975, HongKong ngoài vai trò là trung tâm tài chính và thương mại của đế chế Anh thì họ đã phát triển được các lĩnh vực công nghiệp chủ yếu gia công như hàng may mặc, đồ chơi, dệt sợi và điện tử với kim ngạch xuất khẩu 3,5 tỷ USD. Khu vực tư nhân ở HK đã tự vật lộn và lèo lái hòn đảo này công nghiệp hóa và hiện đại hóa mà không có sự chỉ đạo, dẫn dắt đáng kể của nhà nước. HK trở thành con hổ là nhờ vào các thị trường tự do, thương mại tự do và các lực lượng toàn cầu hóa chứ không phải là vì có sự can thiệp của chính phủ.
Lý Gia Thành là 1 trong nhiều doanh nhân quả quyết biết lợi dụng chế độ kinh tế tự do của HK và có công khởi phát phép màu của vùng đất nhượng địa này. Ông không phải giầu có từ việc làm nhựa, mà giầu có từ ngành bất động sản và nhiều loại tài sản khác tại HK đúng thời điểm trước khi HK mở rộng ra thành trung tầm tài chính quốc tế. Công ty chính của ông là Hutchison Whampoa đang sở hữu mạng di động ở châu Âu và châu Á, cùng rất nhiều cảng biển trên thế giới nhiều hơn bất kỳ công ty nào. Tại quê nhà, Lý Gia Thành có mặt ở khắp mọi nơi. Ông sở hữu các siêu thị, các hiệu thuốc tây và cửa hàng rượu, xây dựng nhiều căn hộ, quản lý ngành điện lực địa phương,…
Lý Gia Thành sinh ra tại Triều Châu, TQ vào năm 1928 và cả nhà chạy nạn sang HK vào năm 1940 khi quân Nhật đánh chiếm TQ. Ban đầu ông làm việc tại 1 tiệm đồng hồ, năm 1941 quân Nhật lại xâm chiếm HK, mẹ và anh em của Lý quay về Triều Châu, còn lại Lý và bố nhưng bố ông cũng sớm qua đời năm 1943. 1 mình bơ vơ ở HK, ông tiếp tục làm ở tiệm đồng hồ của người chú mình. Năm 17 tuổi ông là nhân viên kinh doanh đồng hồ làm bằng nhựa, 19 tuổi làm tổng giám đốc công ty.
Năm 1950, Lý tách ra thành lập công ty riêng với số tiền tiết kiệm 1.750$ và vay thêm 7k$ từ gia đình, bạn bè để đầu tư vào nhà máy nhựa của riêng mình. Công ty của ông có tên gọi Trường Giang. Khởi đầu với các mặt hàng từ hộp đựng xà phòng và lực bằng nhựa. Sau đó là hoa nhựa xuất sang Ý. Năm 1957, Lý có mối làm ăn lớn sản xuất hoa nhựa xuất sang Mỹ với Marsh. Sau đó 10 năm ông trở thành vua hoa nhựa ở HK.
HK ngày càng trở thành thiên đường cho những người nhập cư từ TQ khi Nhật chiếm đóng và đặc biệt sau chiến tranh thế giới II cuộc nội chiến nổ ra ở Đại Lục. Từ mức 600k người dân, dân số HK đã nhẩy vọt lên 2,5 triệu sau đó. Hầu hết là người lao động và nông dân nghèo, nhưng cũng có khá nhiều là các doanh nhân giầu có. Khi đó 1 phần doanh nhân chạy sang HK, 1 phần chạy ra ĐL khi Quốc Dân Đảng thất bại ở nội chiến TQ. Rất nhiều doanh nhân trong khoảng từ 1945-1950 đã bán lại nhà máy ở đại lục và di chuyển sang khởi sự lại ở HK tạo ra bức tranh kinh tế sôi động ở HK.
Tới những năm 1970, Lý đã trở thành doanh nhân vượt trội hơn so với các doanh nhân nhập cư tương tự mình. Ông bắt đầu hợp tác với HSBC là ngân hàng trước đây chuyên phục vụ các công ty của Anh, nay bắt đầu mở rộng ra hợp tác với các doanh nhân gốc Hoa ngày càng giầu có lên. Lý cũng tích trữ ngày càng nhiều bất động sản và đang trên đà trở thành ông trùm bất động sản chủ chốt tại HK. Sự nghiệp bất động sản của Lý bắt đầu tư việc mua đất là nhà máy năm 1958, rồi mua lại nhiều lô đất năm 1960 khi biến động chính trị nổ ra làm nhiều người bỏ chạy khỏi HK. Sau khi vươn lên tầng lớp thượng lưu nhà bất động sản, Lý đã đóng cửa hoàn toàn nhà máy nhựa vào năm 1985.
Năm 1979, Lý may mắn thành công mua lại 22% cổ phần của HSBC tại Hutchison Whampoa (Hòa Ký Hoàng Phố) và trở thành ông chủ mới của hãng buôn có gốc từ người Anh này. Hãng buôn này có danh mục bđs rất lớn và đầy tiềm năng. Chiến thắng này đã làm tinh thần dân tộc của các ông chủ gốc Hoa tăng mạnh và suy yếu thế lực các ông chủ Anh tại HK.
- Chuyện kể về những quả trứng vịt và giấc mơ hóa rồng – Đài Loan
Các nhà kỹ trị của ĐL không áp dụng toàn bộ “mô hình châu Á” như HQ nhưng cũng có nhiều động thái hơn nhiều HK. Ban đầu nền kinh tế ĐL và HK khá giống nhau. Cả 2 đều phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu và thu được nhiều lợi ích từ lĩnh vực kinh doanh của mình thông qa việc nhận làm dịch vụ gia công cho các công ty nước ngoài. Cả 2 phát triển ngành hàng điện tử tiêu dùng gần như cùng 1 thời điểm, họ cùng có các công ty quy mô nhỏ do các doanh nhân bản địa khởi xướng. Nhưng qua thời gian, 2 nước đã tách ra 2 hướng khác nhau. Các công ty ĐL tiến bộ hơn trong sản xuất những sản phẩm công nghệ cao và thu hẹp khoảng cách với các đối thủ cạnh tranh Mỹ nhanh hơn nhiều so với công ty HK. Các công ty ĐL cũng lành nghề hơn trong lĩnh vực thiết kế, nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Chính phủ ĐL ủng hộ và khuyến khích ngành công nghiệp điện tử phát triển hơn rất nhiều so với chỉnh phủ HK không thật sự ủng hộ ngành nghề nào mà theo dạng tự phát các doanh nghiệp.
Thi Chấn Vinh, 1 kỹ sư hàng đầu ĐL vào năm 1976 đã phải ra đi khi công ty điện tử nơi ông làm việc đang trên đà sụp đổ do sự quản lý yếu kém của ban lãnh đạo. Lúc đó dù mới 31 tuổi nhưng ông đã thiết kế chiếc máy tính điện tử câm tay nội địa đầu tiên của ĐL và chiếc bút máy có gắn màn hình LED đầu tiên trên thế giới. Quanlitron nơi ông làm cũng đang đầu tư lớn cho R&D và ông bắt đầu nghiên cứu mạnh về bóng bán dẫn từ năm 1974.
Sau khi rời công ty, Thi Chấn Vinh thành lập Acer, nhà sản xuất máy vi tính lớn thứ 3 thế giới hiện nay, và là công ty nổi tiếng bậc nhất tại ĐL. Bản thân ông cũng được coi là ông tổ của ngành điện tử hùng mạnh của ĐL. Tấm gương của ông đã khơi gợi cảm hứng cho các doanh nhân lanh lợi, năng nổ của hòn đảo này. Ông sáng chế ra mô hình sản xuất máy vi tính cá nhân (PC) theo dạng “mô hình thức ăn nhanh”. Trong khoảng thời gian ngắn đáng kinh ngạc, ĐL đã xây dựng 1 ngành điện tử đẳng cấp thế giới, đã và đang trở thành trung tâm sản xuất các sản phẩm công nghệ thông tin toàn cầu. Năm 2005, ĐL sản xuất 80% thiết bị PDA, hơn 70% PC, 2/3 thị phầ màn hình vi tính.
Khởi đầu của Acer rất khiên tốn với 3 người từ bộ phận R&D của Quanlitron tách ra với khoản tiền tiết kiệm ít ỏi của Thi Chấn Vinh, ông góp 40% cổ phần công ty. Nhưng tầm nhìn của ông đủ lớn, sản phẩm đột phá và thể hiện “giấc mơ hóa rồng” đã thuyết phục được nhiều người tham gia cùng ông.
Năm 1949, Tưởng Giới Thạch thất bại trong nội chiến TQ đã rút lui ra chiếm đóng đảo ĐL với mong muốn phục quốc quay về ĐL nhưng bất thành và ông trở thành nhà độc tài suốt 25 năm sau đó cho tới khi mất. Với quy mô hòn đảo ĐL nhỏ chỉ với 1,6 triệu người tị nạn họ đã quản lý tốt hơn hẳn so với lúc Quốc Dân Đảng ở đại lục. Nhà kỹ trị nổi tiếng là Lý Quốc Đỉnh theo Tưởng từ đại lục ra đảo ĐL. Tưởng cho rằng 1 nền kinh tế công nghiệp hóa là điều cần thiết để bảo vệ ĐL trước TQ đại lục.
Ban đầu các chính sách là sản xuất thay thế hàng xuất khẩu truyền thống với việc thúc đẩy các lĩnh vực như phân bón, xi măng và dệt sợi với hàng rào thuế quan lớn để bảo hộ. Nhưng thị trường nhỏ bé trong nước làm chiến lược này sớm hết hơi. Cuối những năm 1950, ĐL chuyển đổi sang hướng vào xuất khẩu mà người Nhật đang làm lúc đó rất thành công. Mỹ là đối tác chính cho chiến lược này của ĐL khi hàng loạt công ty Mỹ đang chuyển sang thuê ngoài sản xuất tại đây. Các khu chế xuất ra đời tại ĐL để chuyên phục vụ chiến lược hướng xuất khẩu này. Các công ty tham gia đầu tiên như RCA, Zenith, Philips, Texas Intruments. Từ năm 1962 tới 1972, xuất khẩu của ĐL đã tăng 9 lần.
Vào cuối những năm 1960s, các nhà kỹ trị thấy yếu tố nhân công rẻ dần biến mất và cần điều chỉnh chiến lược tiếp theo để tiếp tục phát triển đất nước. Thi Chấn Vinh chính là niềm hy vọng cho sự dịch chuyển công nghiệp trong làn sóng tiếp theo. Ban đầu Acer phân phối bộ vi xử lý của công ty sản xuất chip Mỹ ZiLOG ở ĐL, sau đó ông mở trung tâm đào tạo cho hàng nghìn học viên trong lĩnh vực công nghệ mới. Nhóm R&D đã nghiên cứu trong điều kiện thiếu thốn và năm 1980 bắt đầu Acer giới thiệu dược các dòng sản phẩm máy vi tính đầu tiên ra thị trường chạy được cả tiếng Anh và tiếng Trung và rất thu hút người dùng trong nước. Thành công lớn đến với Acer 1 năm sau khi ông phát minh ra chiếc máy tính xách tay mini Microprofessor với khả năng chơi trò chơi đơn giản và xử lý văn bản đơn giản. Chiếc máy nhanh chóng xuất khẩu được và thành công cạnh tranh với các tên tuổi máy tính của Mỹ.
Năm 1983, chiếc máy vi tính tương thích đầu tiên ra đời với bộ vi xử lý của IBM, doanh thu của máy tính này nhanh chóng tăng vọt và xuất khẩu tăng mạnh ra thế giới. Năm 1984, Thi Trấn Vinh thành lập Suntek ở Silicon Valley và nghiên cứu bộ vi xử lý hàng đầu là con chip 386 của IBM. Năm 1986, Acer ra đời máy vi tính sử dụng bộ vi xử lý chip 386 của IBM trước cả các công ty của Mỹ và giành thành công lớn trên thị trường máy tính.
Trương Trung Mưu, thất vọng với ban lãnh đạo trì trệ đã nghỉ hưu. Ngay lập tức ITRI của ĐL đã săn đón mời chào ông quay trở về ĐL để cống hiến cho ĐL. Lý Quốc Đỉnh đã gởi ý với Trương Trung Mưu về việc thành lập 1 công ty chip của ĐL và giao cho ông là Tổng Giám đốc để điều hành công ty. Ông huy động được 220tr USD xây nhà máy, trong đó chính phủ ĐL cấp cho 50% vốn. Năm 1987, TSMC ra đời và ghi tên mình là nhà sản xuất chip độc lập đầu tiên trên thế giới. Và giờ đây, TSMC đang là công ty số 1 toàn cầu về sản xuất chip.
Phép mầu mà Thi Chấn Vinh, Trương Trung Mưu, Lý Quốc Đỉnh hay Tôn Vận Toàn đem lại cho ĐL đã đưa đến những kết quả ảnh hưởng sâu rộng, vượt ra ngoài phạm vi của các ngành công nghệ, vượt ra ngoài cả bản thân hòn đảo.
- Làm giầu là vinh quang – Đặng Tiểu Bình – Trung Quốc
NĂm 1978, sau khi Mao Trạch Đông qua đời 2 năm đất nước TQ vẫn bên bờ hấp hối tranh cãi tập trung chính trị cao độ hay giảm bớt để tập trung cho phát triển kinh tế. Đặng Tiểu Bình là phe muốn cải cách đất nước TQ theo hướng cải cách nền kinh tế. Bài phát biểu đầy cảm hứng của Đặng tại đại hội đảng thagns 12/1978 đã khởi đầu cho phong trào cải cách tại TQ. Chỉ trong 10 năm sau bài phát biểu này, hàng loạt các chính sách cải cách sâu rộng đã được thực thi ở TQ và nhanh chóng biến đất nước TQ như sống dậy. Đặng gọi là “chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc TQ”. Linh hồn của học thuyết đó là “làm giầu là vinh quang”.
Đặng là đối tượng mà các nhà cải cách khác phải chống đối quyết liệt vì các nước con rồng châu Á đều theo Mỹ và chống CS. Nhưng Đặng nó nét tính cách khá giống các nhà độc tài, các nhà canh tân tại các nước này đó là 1 nhà dân tộc chủ nghĩa quyết tâm đưa TQ tới chỗ phồn vinh, thịnh vượng trên thế giới. Ông đi theo chủ nghĩa thực dụng sẵn sàng sửa đổi ý thức hệ tư tưởng cũ và áp dụng những chính sách mà có khả năng giúp giải quyết được vấn đề khó khăn rắc rối và cho ra được kết quả tốt. Chính sách của TQ là kẻ đi sau nên “mô hình châu Á” cũng có 1 số thay đổi. Mức độ can thiệp của nhà nước giảm đi càng mạnh, và họ tìm mọi cách có mặt trên đoàn tầu toàn cầu hóa trong nền kinh tế thị trường quốc tế.
Đặng sinh năm 1902 tại Tứ Xuyên, lớn lên trong hoàn cảnh khá giả. Sau khi học trong phổ thông ông sang Pháp du học, nhưng bỏ dở việc học vì hết tiền. 16 tuổi ông đi làm việc đủ loại công việc tại Paris. Không thể quay lại trường học, chứng kiến cảnh bần cùng của công nhân, Đặng tham gia đảng phái chính trị và hướng tới lý tưởng chủ nghĩa cộng sản. Các thanh niên TQ ở đó tập hợp với nhau lại và 1 số là các lãnh đạo hàng đầu TQ về sau như Chu Ân Lai. Năm 1923, Đặng làm việc tại trụ sở đảng cộng sản TQ ở Paris. Năm 1926, Đặng trở về TQ và tham gia cuộc Vạn lý trường chinh những năm 1930 của Đảng CS TQ. Sau thắng lợi ông rất tích cực ủng hộ các kế hoạch kinh tế nhưng sớm thất vọng sau “Đại nhảy vọt”. Các chính sách đảo ngược được đưa ra từ năm 1961 nhưng làm mối quan hệ giữa Đặng và Mao rạn lứt. Năm 1966, Mao đưa ra chính sách Cách mạng văn hóa nhằm triệt hạ các đối thủ chính trị mà Đặng là người đầu bảng. Sau 6 năm bị lưu đày và biến mất. Năm 1973, Mao lại cho gọi Đặng trở lại Bắc Kinh. Đặng được phục hồi quyền lực trở lại như trước và được công nhận là người kế nhiệm Mao. Nhưng năm 1976 ông lại bị tước quyền lần nữa và phải bỏ trốn bởi bè lũ 4 tên mà cầm đầu là vợ của Mao. Mãi khi Mao chết Đặng mới chính thức quay trở lại chính trường vào tháng 8/1977.
“Khoán hộ” ra đời vào năm 1980 để phá vớ mô hình hợp tác xã làm đói nghèo ở nông thông TQ suốt nhiều thập kỷ. Sự cải cách bắt đầu ở các vùng của TQ thậm chí còn không cần tới sự chỉ đạo của Đặng. Năm 1979, TQ bình thường hóa quan hệ với Mỹ và tập trung thu hút vốn đầu tư FDI từ Mỹ, cũng như khoa học công nghệ của Mỹ, và thị trường tiêu thụ Mỹ là thị trường lớn nhất thế giới. Từ đây làm bàn đạp cho việc phát triển kinh tế của TQ, đặc biệt hướng về xuất khẩu.
Năm 1979, khu công nghiệp Xà Khẩu lần đầu được chấp thuận đầu tư, học mô hình khu chế xuất của ĐL tập trung làm các sản phẩm cho HK mà trước mắt là phá dỡ tầu cũ. Đây là tiền để ra đời đặc khu kinh tế tại TQ sau này. 4 đặc khu là đời ở giai đoạn này là: Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu và Hạ Môn. Giá nhân công tại các đặc khu bằng 1/6 các con hổ châu Á gần nó, và bình quân ở TQ thì chỉ bằng 1/10. Các đặc khu rất gần các con hổ nên kích thích các con hổ châu Á dịch chuyển nhà máy sang TQ để tiết kiệm chi phí sản xuất. Thâm Quyến thì sát HK, Hạ Môn và Sán Đầu thì sát ĐL còn Chu Hải thì sát Ma Cao.
Các ông chủ ở HK là những người đầu tiên mở nhà máy ở Thâm Quyến và bắt đầu quá trình công nghiệp hóa tại đây. Sau đó là các ông chủ ĐL mở rộng tại TQ và dần thổi bùng sức sống và quá trình công nghiệp hóa, xuất khẩu của TQ ra thế giới sau đó. Các đặc khu kinh tế ở TQ là phương tiện mở cánh cổng đầu tiên và tạo ra sức sống lâu bền cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của TQ tới tận ngày nay. 2 người đồng hành trên con đường cải cách quyết liệt nhất với Đặng là Triệu Tử Dương và Hồ Diệu Bang.
- Cha đẻ của phát triển và nhóm Mafia Berkeley của ông – SuHarto – Indonesia
Năm 1985, Indonesia dự định cải cách lớn ở lĩnh vực hải quan nhằm phá vỡ nạn tham nhũng, vòi vĩnh, mặc cả ở cơ quan hải quan nước này đang diễn ra công nhiên và ở mọi nơi trên đất nước. Dự thảo của đợt cải cách đã lam vị bộ trưởng tài chính khi đó là Wardhana nhận đầy các lời đe dọa đến tính mạng của mình. Suharto là tổng thống Indonesia lúc đó, ông là cựu tướng lĩnh quân đội và giành chính quyền thông qua đảo chính quân sự. Suharto dù khó hiểu nhưng ông sử dụng các vị cố vấn là các bộ trưởng hầu hết đều là các nhà kỹ trị, có học hành bài bản và hầu hết có bằng tiến sỹ kinh tế ở đại học California ở Berkeley, nên họ nổi tiếng với biệt danh “Nhóm Mafia Berkeley”, nhóm các nhà kinh tế này giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền Indonesia từ cuối những năm 1960s – 1980s. Indonesia với dân số đông thứ 4 thế giới, đa sắc tộc, phát triển nghèo nàn với hơn 70% người nghèo đói vào những năm 1960s đã dẫn đầu trong làn sóng thứ 2 của thần kỳ châu Á cùng với Thái Lan, Malaysia.
Nổi bật trong nhóm này là Widjojo với vai trò kiến trúc sư trưởng của sự công nghiệp hóa Indonesia. Ông có vẻ nghi ngờ vài trò của nhà nước khi trực tiếp can thiệp vào hoạt động doanh nghiệp mà quan tâm nhiều hơn tới phát triển làng quê nông thôn và các dịch vụ phúc lợi dành cho người dân. Cách của nhóm mafia Berkeley khá giống cách Đặng làm ở TQ và được hưởng lợi từ sự bùng nổ của các nước châu Á đi trước như Nhật, Hàn, Đài, Sing, HK. Nhưng Indonesia kém thành công hơn do thiếu sự đồng thuận trong nước. Ngoài nhóm mafia Berkeley hướng tới xuất ngoại thì có nhóm dân tộc chủ nghĩa mang tính hướng nội cao và nhóm thứ 3 là phe “thân hữu”. Hội những doanh nhân này thúc ép tổng thống ban cho họ những đặc ân, chẳng hạn như độc quyền thương mại và sản xuất, làm méo mó thị trường, làm suy yếu sức cạnh tranh của Indonesia và đi ngược lại những nỗ lực mở cửa nền kinh tế của “Nhóm Mafia Berkeley”.
Cả 3 nhóm lao vào cạnh tranh chính trị để được Suharto ủng hộ, lúc thì phe này chiếm ưu thế, lúc thì phe khách chiếm ưu thế và làm cho chính sách của Indo không có sự nhất quán. Điều này làm suy yếu mạnh luận điểm cần có độc tài để phát triển kinh tế ở châu Á. Suharto sinh năm 1921 ở 1 gia đình nghèo và lớn lên nhờ họ hàng nuôi dưỡng. Năm 1939 ông kết thục học phổ thông và đi làm nhân viên ngân hàng. Sau đó ông gia nhập quân đội quốc gia dưới sự chỉ đạo của người Nhật. Sau đó phong trào chống Nhật nổi lên mạnh mẽ ở đây, sau khi Nhật đầu hàng sau chiến tranh thế giới II, Indo tuyên bố độc lập. Suharto tập hợp quân đội ngũ tự lập thành đơn vị phòng thủ quốc gia. Trải qua tiếp 4 năm chiến đấu giữa quân đội tự lập Indo và Hà Lan thì Indo mới chính thức động lập. Suharto tiếp tục leo cao cho tới năm 1965 là tướng lĩnh cấp cao trong quân đội Indo. 1 nhóm trong quân đội tiến hành bạo loạn, Suharto tập hợp lực lượng và đánh bại họ, sau đó ông giành luôn quyền kiêm soát đất nước vào năm 1966. Sự thất bại của tổng thống Sukarno tới từ việc sau khi độc lập đã tránh xa tư bản, đóng kín đất nước và sự tụt hậu kinh tế đưa kinh tế Indo đến bờ vực sụp đổ. Indo là 1 trong các nước nghèo nhất khu vực.
Nhóm Mafia Berkeley là nhóm các du học sinh học ở Berkeley từ những năm 1950s, họ đã sinh hoạt cùng nhau và cùng thảo luận các chính sách cho Indo từ lâu. Tới đầu những năm 1960s bắt đầu về nước giảng dậy về kinh tế ở trường sỹ quan quân đội và quen biết các lãnh đạo chủ chốt của cuộc đảo chính sau đó. Ấn tượng với cách làm việc của họ, sau khi giành chính quyền Suharto đã tập hợp họ thành nhóm cố vấn để triển khai cac chiến lược đảo ngược nền kinh tế trì trệ của Indo.
Một người đứng đầu trong phái dân tộc chủ nghĩa là Habibie, 1 kỹ sư hàng không và giỏi kỹ thuật hàng đầu Indo. Ông làm cho công ty của Đức nhiều năm sau dó năm 1974 về nước và muốn phát triển Indo theo hướng tăng cường khoa học công nghệ. Học thuyết của ông khá đối lập với phong cách toàn cầu hóa của nhóm Mafia Bekerley. Habibie đam mê các dự án công nghiệp khổng lồ ở nội địa mà tiêu tốn nguồn lực khổng lồ. Như dự án sản xuất máy bay mà Habibie lãnh đạo đã 2 lần phá sản và bất thành nhưng ông vẫn rất được Suharto tin tưởng giao cho trọng trách.
Nhóm thân hữu chủ yếu là các doanh nhân gốc Hoa ở Indo, họ chơi thân với tổng thống, thường xuyên chơi gofl tuần 2 lần với ông. Nổi bật nhất là Hasan. Ông là doanh nhân ngành gỗ và đã khéo léo tận dụng được mối quan hệ với chính quyền để kiếm được gia tài kếch xù từ lĩnh vực khai thác gỗ, rồi tới các nhà máy chế biến gỗ. Hasan tận dụng mối quan hệ đã lập ra hiệu hội gỗ dán Indo. Khi kinh tế khó khăn ông đã xin cho hiệp hội được quyền điều tiết ngành nhằm tránh cạnh tranh. Tận dụng quyền lực này ông đã kiểm soát hạn ngạch, giá bán và đẩy các đối thủ cạnh tranh tới phá sản và mình thì thâu tóm thị trường.
Đỉnh điểm là khi các người con của Suharto thi nhau lập các công ty và đòi chiếm các mối làm ăn trong nước. Đặc biệt người con tên Tommy của ông nhẩy vào chiếm lĩnh linh vực phân phối hóa chất xăng dầu, rồi giành quyền kiểm soát công ty vận tải hàng không tư nhân đầu tiên ở Indo, sau đó yêu cầu được làm bao tiêu toàn bộ định hương tại Indo,…
Nhóm Mafia Berkeley duy trì được cân bằng và đưa Indo phát triển rất tốt trong 2 thập kỷ. Tyu nhiên đến những năm 1990s, nhóm này mất dần ảnh hưởng và nhóm dân tộc chủ nghĩa của Habibie và nhóm thân hữu chiếm thượng trong trong chính trường Indo.
- Giấc mơ Mỹ của ông sấm sét – Soichiro Honda – Nhật Bản
Năm 1989, xe Accord của Honda là mẫu xe bán chạy nhất tại Mỹ suốt 3 năm liên tiếp. Các hãng xe Nhật cũng tăng trưởng liên tục ở Mỹ khi dần chiếm tới 28% sản lượng tiêu thụ tại Mỹ. Không chỉ trong ngành oto, nhiều ngành nghề khác đang cho thấy các công ty Nhật đang dần đánh bại hoàn toàn các công ty Mỹ không chỉ trên thế giới mà ngay chính tại nước Mỹ. Việc chiếm lĩnh thị trường toàn cầu đã làm nội địa các tàn sản tăng giá chóng mặt trong sự hứng khởi cao độ. Thị trường chứng khoán Nhật năm 1989 chiếm tới 42% giá trị toàn cầu so với năm 1980 là 15%. Tổng giá trị bất động sản tại Nhật cũng cao gấp 4 lần tại Mỹ. Niềm tin kinh tế Mỹ suy giảm trầm trọng ở giai đoạn này ngay tại bản thân nước Mỹ. Từ khởi đầu học việc thợ cơ khí, Sau năm sau đó Honda tự lập lên doanh nhiệp của riêng mình và vương len thành công ty toàn cầu sau đó. Kết hợp tinh thần dũng cảm trong kinh doanh với đầu óc thiên tư kỹ thuật và tính khí nóng nảy làm người khác sợ sệt vốn đem lại cho ông biệt danh “Ông sấm sét”, 1 con người Honda cứng rắn lạnh lùng đã lèo lái công ty mình bước vào ngành công nghiệp của những kẻ khổng lồ.
Sự thành công của Honda làm lu mờ phép mầu của châu Á do Honda cơ bản thù địch với MITI chứ không phải là các công ty được nhà nước giúp đỡ. Kể cả công ty nổi tiếng nhất là Sony cũng không khác là bao. Dưới góc nhìn của sự thành công 1 số doanh nghiệp hàng đầu, MITI có vẻ đã được phổi phồng vai trò của mình quá mức. Chiếc xe đầu tiên tạo ra sự thành công của Honda là xe máy Dream được tái thiết kế lại vào năm 1951. Năm 1954, Honda bắt đầu tham gia các cuộc đua xe và giành chiến thắng tạo tiếng vang đưa ông vào ngành sản xuất Nhật Bản. Tới năm 1959, Honda đã trở thành nhà sản xuất xe máy lớn nhất thế giới. Năm 1959, Honda thành lập chi nhánh tại Mỹ với tham vọng xuất khẩu ra toàn thế giới mà chủ yếu tập trung vào Mỹ. Tới 1964, Honda đã chiếm lĩnh 50% thị phần xe máy tại Mỹ.
Năm 1961, MITI đự định hợp nhất các hãng oto lại để cạnh tranh với 3 ông lớn Mỹ nên các nhà sản xuất oto mới không được chào đón. Cuộc chiến giành quyền kinh doanh sản xuất oto nổ ra giữa Honda và MITI rất căng thẳng khi đó. Năm 1962, Honda chính thức cho ra mắt xe oto và đánh bại kế hoạch sắp xếp lại ngành của MITI. Năm 1973, Honda cho ra đời dòng xe Civic và nhanh chóng bùng nổ doanh số nhờ chính sách hạn chế ô nhiễm, chống xe phân khối lớn trong khi Civic của Honda lại là dòng xe có phân khối nhỏ. Điều này tạo lợi thế lớn cho Honda trong tiêu thụ sản phẩm.
Năm 1977, Honda bắt dầu xây dựng nhà máy tại Mỹ tại bang Ohio. Năm 1979 họ bắt đầu sản xuất xe máy tại đây rồi bắt đầu sản xuất oto vào năm 1982 với dòng xe Civic thành công của họ. Cùng thời gian đó, Toyota lại lựa chọn liên doanh với GM để mở nhà máy tại Mỹ. Nhà máy của Honda tại Mỹ gặp rắc rối trong quy trình sản xuất tinh gọn, JIT của mình do thiếu nhà cung cấp, và các công nhân Mỹ không làm việc theo nhóm như các công nhân tại Nhật. Mãi tới năm 1985, sau rất nhiều cố gắng thì nhà máy của Honda tại Mỹ mới bắt đầu bắt kịp các nhà máy tại Nhật. Các lo ngại về sự hiệu quả Nhật Bản và mối lo Mỹ bị thay thế đánh bại hoàn toàn ngay trên sân nhà đã bùng phát nên cuộc chiến thương mại giữa 2 nước vào những năm 1980s.
Tháng 9/1989, Sony mua hãng film Columbia Pictures với giá 3,4 tỷ USD đã làm chấn trộng nước Mỹ và dấy lên lo ngại người Nhật xâm chiếm vào mọi mặt đời sống nước Mỹ. Ngay sau đó, 1 chi nhánh của Mitsubishi đã mua chi phối khu phức hợp thương mại Rockefeller Center nổi tiếng. Nhưng mọi chuyện không chỉ lên mãi. Vào cuối năm 1989, NHTW Nhật Bản bắt đầu tăng lãi suất cơ bản +0.5% và điều tồi tệ nhất bắt đầu ập tới. Chỉ số Nikkei sau đó giảm -50% sau 9 tháng và sang năm 2001 thì giảm -70%. Giá bất động sản giảm -80% từ vùng đỉnh lịch sử vào năm 2022. Phép mầu tăng trưởng bị phanh gấp lại, thập kỷ mất mát của Nhật bắt đầu và chỉ số Nikkei 225 còn kéo dài thời kỳ giảm trong gần 30 năm sau đó. Mấu chốt là tình trạng giá bđs quá cao, các ngân hàng sẵn sàng cho vay dựa trên giá bđs cao giả tạo này và giá trị ngày càng lớn hơn. 1 phần được đầu tư vào nhà máy mới, và phần lớn lại được đầu tư ngược lại bđs, chứng khoán, điều này đã đưa Nhật vào nền kinh tế bong bóng vĩ đại suốt thập kỷ 1980s. Các giới chức Nhật thì duy trì chính sách đổ thêm dầu vào lửa, càng kích thích đầu cơ khi liên tục duy trì lãi suất thấp, cho vay dễ dãi để kích thích kinh tế. Năm 1985, Nhật ký hiệp ước Plaza với Mỹ để giảm thâm hụt thương mại cho Mỹ, đồng Yên tăng giá gấp 2. Để đối phó với lo lắng xuất khẩu giảm, Nhật đã thực hiện chính sách lãi suất thấp, kích thích kinh tế mạnh. Nhưng họ chơi trò chơi nguy hiểm khi các khoản vay ngân hàng không dựa trên khả năng thanh toán của con nợ mà dựa trên giá trị tài sản đảm bảo. Mà giá trị tài sản thì liên tục bị thổi phồng ngày càng cao, khi bong bóng vỡ moi thứ sẽ sụp đổ nhanh chóng. Khi lãi suất tăng đột ngột, khu vực ngân hàng bị nghiền nát hoàn toàn với hơn 600 tỷ USD nợ xấu chiếm 15% GDP của Nhật. Sự thật bại của Nhật bản ở thập kỷ 1990s cho thấy sự thất bại của mô hình châu Á khi quá phóng đại tâm quan trọng của Nhật và vai trò thần kỳ của nhà nước. Có vẻ khi đất nước còn nghèo thì mô hình châu Á hoạt động hiệu quả với vai trò lớn của nhà nước, nhưng khi nước giầu thì nó tỏ ra lạc hậu và kém hiệu quả hẳn.
- Người đàn ông đội khăn xếp xanh da trời – Manmohan Singh – Ấn Độ
Tháng 7/1991, Manmohan Singh, bộ trưởng tài chính mới được bổ nhiệm của Ấn Độ bắt đầu 1 quá trình cải cách thể chế ở đây. Ấn khi đó chỉ có 1,2 tỷ USD dự trữ ngoại hối và chỉ đủ 2 tuần nhập khẩu và thảm hỏa vỡ nợ cận kề. Ấn từ khi giành độc lập đã thực hiện 1 kế hoạch phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kiểm soát của nhà nước, nhưng nó đã tỏ ra kém hiệu quả trong 1 thời gian dài. Các nước châu Á khác đã tiến hành toàn cầu hóa qua 2 làn sóng, Ấn vẫn trung thành với chiến lược tự cung tự cấp của mình suốt nhiều thập niên. Có vẻ như chính trị của Ấn đã dân chủ trước khi kinh tế được công nghiệp hóa như mô hình châu Á từng làm là kinh tế đi trước, chính trị theo sau. Mãi tới khi thủ tướng Singh lên nắm quyền nền kinh tế Ấn mới bắt đầu có sự khởi sắc tích cực và không hề kém các phép mầu châu Á nào. Nhưng tiến trình này ở Ấn rất gian nan, các đảng phái chống đối nhau, sự chống đối ngay trong nội bộ đảng Quốc Đại cũng vô cùng căng thẳng. Các cải cách của Singh cũng không thể quyết liệt như các nhà lãnh đạo độc tài khác. Chính phủ Ấn đã kiểm soát chi li nền kinh tế qua hàng loạt các giấy phép con, doanh nghiệp muốn làm gì cũng phải xin giấy phép và tạo ra 1 mê hôn trận vô cùng phức tạp cho hoạt động kinh doanh. Nhưng doanh nghiệp tư nhân được rộng rãi kinh doanh hơn so với TQ.
Singh học hành bài bản, tốt nghiệp đại học Oxford và Cambridge tại Anh và từng đảm nhiệm nhiều vai trò như thống đốc ngân hàng TW Ấn Độ, ông từng nhiều lần than phiền về chính sách kinh tế quốc gia. Năm 1987, ông rời vị trí đi làm tổng thư ký khu vực phương Nam ở UN và nghiên cứu các mô hình tăng trưởng kinh tế của HQ, ĐL và nhận ra Ấn Độ cần thay đổi. Đất nước Ấn Độ đã bị lãng quên về mặt kinh tế quá lâu. Liên Xo với chính sách kế hoạch hóa tập trung cũng đã thất bại và không còn gì níu kéo chính sách của Ấn nữa. Năm 1991, trong cuộc bầu cử đại biểu Rajiv Gandhi của Ấn bị ám sát chết đã giúp lòng thương sót của dân Ấn lên cao và đảng Quốc đại giành thắng lợi trong bầu cử, nhưng lại thiếu người lãnh đạo. Họ đã chọn 1 quan chức 70 tuổi là Rao làm thủ tướng. Nền kinh tế Ấn gặp rất nhiều khó khăn, ông đã chọn Singh làm bộ trưởng tài chính cho mình để xử lý vấn đề. Họ đã nhanh chóng phá giá đồng Rupee, xóa bỏ trợ cấp thất nghiệp để tiến hành các cải cách kinh tế lớn nhằ kéo Ấn Độ khỏi vũng lầy khủng hoảng dai dẳng. Các giấy phép con bị bãi bỏ quy mô lớn, các nhà đầu tư nước ngoài được phép góp vốn, sở hữu đa số các công ty trong 34 lĩnh vực ngành nghề,…
Năm 1996, cuộc bầu cử tiếp theo đảng Quốc đại của Singh thất bại và chính quyền bị giải tán. Các nỗ lực cải cách của Singh bị tạm dừng. Tới 2004, đảng Quốc đại mới quay trở lại nắm quyền và Singh tiếp tục các kế hoạch cải cách lớn của mình nhưng lần này dưới vai trò là thủ tướng Ấn Độ nhưng chính phủ của ông quá thiểu số để có thể làm được những điều mạnh mẽ như ông mong muốn.
- Liều thuốc của bác sĩ cứng rắn – Mahathir Mohamad – Malaysia
Proton là hãng xe ra đời, là biểu tượng của đất nước Malaysia công nghiệp hóa và hiện đại hóa được Mahathir sinh ra. Proton đã ăn lên làm ra phần lớn nhờ vào sự hỗ trợ của chính phủ trong suốt nhiều năm trời như thiết lập hàng rào thuế quan cao để kiềm chế cạnh tranh trong nước. Proton bắt đầu sản xuất từ năm 1985, nhưng lại vẫn phụ thuộc vào Mitsubishi ở rất nhiều linh kiện, thiết kế. Mahaleel, nhà quản lý mới của Proton rất nghi ngờ về khả năng tồn tại và sinh lời của hãng xe này. Vào năm 1996, Proton mới tự sản xuất được 20% của 1 chiếc xe. Vậy mà Marhathir lệnh cho nó phải tự sản xuất được 1 chiếc xe riêng vào năm 2000.
Trong suốt 22 năm nắm giữ cương vị thủ tướng Malaysia, Mahathir đã lãnh đạo đất nước rất giống cách mà Park Chung Hee đã lạnh đạo HQ. Ông là người cực kỳ ủng hộ chế độ dân tộc chủ nghĩa, và khăng khăng muốn biến đất nước nông nghiệp của mình thành 1 cường quốc công nghiệp. Những kẻ đi sau như Malay và Mahathir đã mô phỏng gần giống cách HQ, Nhật đã làm và con người thì tương tự Park. Mahathir mong muốn làm thép, oto, các công ty cạnh tranh toàn cầu như Park. Nhưng cuối cùng các công ty Malay không có công ty nào đạt được như các công ty có sức cạnh tranh toàn cầu như các công ty HQ. Sự thất bại này có thể đến từ việc nhà nước đã can thiệp quá sâu vào hoạt động doanh nghiệp, nhiều hơn nhiều so với chính quyền HQ can thiệp vào các chaebol.
Mahthir sinh năm 1925 tại 1 khu ổ chuột tại Malay, gia đình ông theo đạo hồi. Cuộc sống người Anh khi đó rất khác người Mã Lai bản địa và khác cả so với người Hoa. Ông là thành phần chống đối mạnh mẽ việc Anh quay trở lại Mã Lai và dự định thành lập liên bang Mã Lai. Năm 1946 ông tham gia vào tổ chức Dân tộc Mã Lai thống nhất, sau này là chính đảng chủ chốt của đất nước. Năm 1947, ông sang Sing học y khoa và tốt nghiệp vào năm 1953. Năm 1957, Mã Lai giành được độc lập, ông từ bỏ việc công chức và thành lập phòng mạch tư và tham gia chính trị. Năm 1964, ông giành được ghế đại biểu quốc hội. Năm 1969, ông mất ghế đại biểu quốc hội do người Mã Lai tức giận vì kinh tế nghèo nàn của Malay. Xung đột giữa người Mã Lai và người Hoa bùng phát tại Malay vào năm 1969 đã giúp Mahathir lãnh đạo 1 cuộc nổi dậy chống lại thủ tướng đương nhiệm Tunku. Ông bị trục xuất khỏi đảng cầm quyền, tức giận ông xuất bản cuốn sách chống đối vào năm 1970. Năm 1974, ông trở lại quốc hội và giữ chức bộ trưởng giáo dục, rồi 3 năm sau là bộ trưởng thương mại và công nghiệp. Năm 1981, ông trở thành thủ tướng Malaysia. Mahathir đã lập ra công ty công nghiệp nhà nước HICOM và đầu tư nhà máy thép liên doanh với Nippon Steel và nhà máy oto Proton liên doanh với Mitsubishi từ thời ông là bộ trưởng công nghiệp và sau đó chuyển quyền kiểm soát về văn phòng thủ tướng khi ông là thủ tướng. Những năm 1980s, nền kinh tế Malay rơi vào trì trệ với tăng trưởng 1%/năm, xuất khẩu chủ yếu nông sản giá giảm mạnh. Ông bắt đầu tiến trình cải cách, tự do hóa nền kinh tế 1 cách táo bạo. Từ năm 1984, Malay bắt đầu bán sạch phần vốn tại các công ty cho tư nhân hoặc qua thị trường chứng khoán thay vì nắm 30% mỗi công ty như trước đây. Điều làm thay đổi dòng vốn của Malay vào năm 1986 đến từ việc bãi bỏ chính sách NEP đã tồn tại từ những năm 1970s.
Các dự án công nghiệp nặng của ông bị chỉ trích nặng nề về sự kém hiệu quả. Các dự án thép, oto Proton đều thua lỗ liên tục. Mặc dù vậy, ông vẫn say mê với các dự án công nghiệp rất lớn như các dự án sân bay, thủy điện, thành phố vệ tinh,…
- Tất cả mọi con đường đều được lát bằng nợ – Kim Woo Choong – Daewoo – Hàn Quốc
Tháng 12/1998, Daewoo của vị chủ tịch hay khoa trương Kim Woo Choong đang ngấp nghé bờ vực phá sản. Năm 1997, Kim Dea Jung trở thành tổng thống tiếp theo của HQ và ông lên chức trong tình cảnh HQ và các nước châu Á rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ 2. Nếu quay trở lại thời Park Chung Hee, chắc chắn Deawoo sẽ được cứu. Nhưng điều đó đã không xảy ra vì HQ giờ đã có vị tổng thống mới theo đường lối dân chủ, người đã chống đối quyết liệt Park Chung Hee suốt từ những năm 1970s.
8 tháng sau, các chủ nợ đã kiểm soát tập đoàn Deawoo và chia tách nó ra với khoảng nợ len tới 75 tỷ USD, đây là vụ phá sản lớn nhất trên thế giới cho tới lúc đó. Nó cũng làm lung lay gốc dễ niềm tin về cac chaebol không thể sụp đổ ở HQ, lung lay cả mô hình tăng trưởng châu Á được thổi phồng lâu nay.
Khởi nguồn bắt đầu từ khoảng tháng 6/1997 ở Thái Lan, nền kinh tế có sự vay mượn ngoại tệ rất lớn, lại cố định tỷ giá theo USD. Khi bị tấn công họ đã đáp trả quyết liệt và đốt sạch dự trữ ngoại hối 30 tỷ USD và sau đó đầu hàng phá giá đồng nội tệ 16%. Tiếp theo các nhà đầu cơ tấn công sang Indonesia, Malaysia và các nước đều thất thủ phải phá giá đồng nội tệ. Virus này tới tháng 10 lây lan sang HQ và cũng làm đồng Won phải phá giá mạnh theo. Các thị trường chứng khoán rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Malay dùng cách ngăn chặn giao dịch đồng nội tệ, kiểm soát ngoại tệ chặt chẽ kiểu mô hình TQ để vượt qua khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng tài chính và việc chậm trễ cương quyết cải cách đã làm Suharto phải từ chức sau 30 năm cầm quyền ở Indonesia. HQ càng trầm trọng hơn khi nước này sắp tới hạn khoản nợ 15 tỷ USD nhưng dự trữ đã trống không. HQ là quốc gia lớn nhất ở châu Á rơi vào khủng hoảng dây truyền năm 1997.
Ngược lại với lo sợ của chính quyền HQ, Kim Woo Choong của Daewoo đối phó với khủng hoảng theo cách ngược lại là tiếp tục vay nợ bành trướng ngày càng lớn hơn. Họ vừa thâu tóm Ssangyong Motor từ chaebol khác, thâu tóm AvtoZAZ của Ukraina, lập liên doanh oto mới,… họ vẫn mở rộng quy mô liên tục trong khi các chaebol khác liên tục thu hẹp quy mô do khủng hoảng tài chính. Kim đã có sự lạc quan thái quá về triển vọng kinh tế và coi khủng hoảng chỉ là 1 rắc rối nhỏ thoáng qua. Kim sinh năm 1936 và cũng là doanh nhân tự thân đi lên. Năm 1967, Kim cùng 4 người bạn vận động được 10k$ và thành lập Daewoo – nghĩa là vĩ đại. Ban đầu công ty sản xuất quần áo, ròi mở rộng ra sản xuất hàng tiêu dùng. Nhờ mối quan hệ tốt đẹp với Park Chung Hee, Kim tiếp quản 1 nhà máy cơ khí thua lỗ năm 1976 và dần gây dựng nó phát triển trở lại. Sau đó ông tham gia vào liên doanh sản xuất oto với GM và sau đó mua đứt thành Daewoo Motor, rồi ông tiếp quản xưởng đóng tàu năm 1978. Tới năm 1997, Daewoo thành công ty có tầm hoạt động toàn cầu trong lĩnh vực sản xuất xe hơi, tàu thủy, hàng điện tử, xe tải, thiết bị viễn thông và máy móc, môi giới chứng khoán, quản lý khách sạn, xây dựng,…Các dự án ông tham gia đầy mạo hiểm nhưng thu lợi chẳng là bao và núi nợ ngày càng phình to ra.
Tháng 10/1998, Daewoo tiếp tục huy động 10 tỷ USD khoản vay bằng trái phiếu và làm số nợ của nọ tiếp tục tăng mạnh. Tình hình tài chính ngày càng xấu đi làm các lo ngại ảnh hưởng của Daewoo nên tài chính và nền kinh tế HQ ngày càng lớn. Và sau đó tập đoàn này bị chia nhỏ cho các chủ nợ thanh lý hoàn toàn.
Sau khủng hoảng, các nền kinh tế châu Á đã nhanh chóng lấy lại sức sống và tăng trưởng thần tốc trở lại cũng không kém so với lúc nó sụp đổ. Sự tăng trưởng này kéo dài cho tới năm 2007 khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra vào năm đó tiếp tục càn quét hầu hết các nền kinh tế trên thế giới.
- Các chép vượt vũ môn – Liễu Truyền Chí – Lenove – Trung Quốc
Cuối năm 2004, Lenove hãng sản xuất máy vi tính cá nhân lớn nhất QT đã thực hiện thương vụ lớn nhất tại nước này ra quốc tế khi mua lại toàn bộ bộ phận sản xuất máy vi tính cá nhân (PC) của IBM. Trước đó hầu hết chỉ là TQ nhận FDI, nhận chuyển giao công nghệ, bị mua lại bởi các công ty nước ngoài mà chưa có 1 thương vụ lớn nào mà 1 công ty TQ mua lại 1 gã khổng lồ toàn cầu như IBM. Bộ phận PC của IBM ra đời năm 1981 và là người đi tiên phong làm thay đổi lĩnh vực này trên toàn cầu. Bộ phận PC của IBM lớn gấp 3 lần nguyên bản Lenovo lúc đó.
Giai đoạn này, công nhân giá rẻ của TQ đã dần mất vị thế giá rẻ và TQ cần thay đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh để tiếp tục công nghiệp hóa và tiếp tục tiến lên phía trước nhằm duy trì phép mầu châu Á. Sự kiện này cũng làm báo chí Mỹ lại đặt vấn đề liệu TQ sẽ tiếp nối Nhật những năm 1980s khi các công ty Nhật xâm chiếm thế giới, xâm chiếm nước Mỹ.
Liễu Truyền Chí sinh năm 1944 tại Thượng Hải, cha ông bị nghi ngờ theo tư bản sau cách mạng TQ và cuộc sống không khó khăn về mặt tài chính nhưng con đường công danh bị kìm hãm. Ước mơ làm phi công không thành, ông học ngành vũ khí hạt nhân và công nghệ tên lửa tại Tây An, nhưng do lý lịch có vấn đề nên không được tham gia các dự án trọng điểm. Khi cách mạng văn hóa nổ ra năm 1966, Liễu bị ném vào mớ bòng bong cải tạo cách mạng như bao người khác. Trải qua giai đoạn này mong muốn chính trị trong ông suy giảm và không còn hứng thú với trò chơi chính trị nữa. Sau 2 năm ở nông thôn, năm 1970 ông được quay về Bắc Kinh và làm việc ở Học viện Khoa học TQ. Năm 1980, sau quá trình dài cảm thấy bị đè nén lãng phí nguồn lực, viện bị cắt ngân sách và khuyến khích các nhà khoa học tự lập. Liễu đã khởi động 1 công ty công nghệ riêng theo phong trào tự quản với khoảng 25k$ vốn từ viện cấp cho. Năm 1984, Liễu thành lập công ty mà sau này trở thành Lenovo. Công ty này có mô hình kỳ quặng là công ty nhà nước nhưng được lãnh đạo bởi tư nhân.
Ban đầu công ty này sử dụng văn phòng bỏ trống của Viện nghiên cứu, cũng chẳng có kế hoạch kinh doanh gì cụ thể. Ông thử kinh doanh ván trượt tuyết, đồng hồ điện tử đeo tay, máy tính bỏ túi. Nhưng đôi ngũ 10 người nhân viên ban đầu đều dân kỹ thuật nên họ dần thiên về hướng máy vi tính. Ban đầu tên công ty là New Technology Developer, rồi đổi thành Legend, và cuối cùng là Lenovo. Hợp đồng lớn đầu tiên là bảo trì 500 máy tính IBM mà viện mua từ Mỹ. Bị kiểm soát chặt chẽ, Lenovo đi vòng bằng cách làm lý phân phối cho 1 ngân hàng có giấy phép nhập khẩu máy tính. Mong muốn tự sản xuất nhưng không xin được giấy phép. Ông sang HK mở công ty con và từ đó đầu tư ngược lại TQ để có giấy phép sản xuất máy tính. Năm 1989, chiến máy vi tính đầu tiên Lenovo đời 286 ra đời.
Đặng Tiểu Bình khi đó đã già, ông bắt đầu nhắm tới Chu Dung Cơ, thị trưởng Thượng Hải đầy tài năng trong lĩnh vực kinh tế và rất cấp tiến trong cải cách. Chu Dung Cơ sinh năm 1928, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và được chú nuôi dưỡng. Ngay từ khi mới tham gia chính quyền năm 1952, Chu đã là người cấp tiến hơn hẳn các đồng nghiệp của mình. Sau thời gian dài bị đầy trong cách mạng văn hóa, Chu quay lại Bắc Kinh và năm 1991 được đề bạt làm phó thủ tướng TQ. Năm 1998, Chu thành thủ tướng TQ và dẫn dắt TQ gia nhập WTO.
Tại thị trường nội địa, Lenove cũng rất khó cạnh tranh dù thương hiệu máy tính đã ra đời. 80% thị trường nằm trong tay các hãng nước ngoài như HP, IBM, Compaq. Liễu đã bổ nhiệm Dương Nguyên Khánh tạo ra bước ngoặt kinh doanh cho Lenovo khi biết khôn khéo lợi dụng thế mạnh các hãng nước ngoài và phù hợp với cách người TQ mua hàng. Chiến lược này đã biến Lenove thành 1 trong những công ty hiện đại và thành công nhất TQ, tạo nền tảng cho việc cuối cùng Lenovo mua được IBM. Ông nghĩ ra cách 1 cái máy nguyên chiếc khi đó tới 6k$ vượt quá khả năng hầu hết nhu cầu. Ông đã dùng mọi cách để giảm giá thành sản phẩm của Lenovo thật thấp nhằm hạ giá bán đáp ứng nhu cầu đại chúng. Chính sách bán hàng cũng vô cùng quyết liệt đã giúp Lenovo vươn lên số 1 thị trường TQ vào năm 1997 và đẩy IBM xuống số 2. Thị phần Lenove tăng lên chiếm lĩnh 25% tại TQ. Họ muốn vươn ra thế giới, muốn “Cá chép vượt vũ môn”. Vụ M&A này tốn rất nhiều thời gian và công sức. Các lãnh đạo Lenovo cũng phải hy sinh các vị trí đang có để nhường chỗ cho những người có kinh nghiệm điều hành các công ty toàn cầu sau sáp nhập.
- Hành trình bất ngờ từ dầu thực vật tới phần mềm máy tính – Azim Premji – Ấn Độ
Năm Bộ phận CNTT sinh sau đẻ muộn nhưng lại là bộ phận có vai trò chi phối nhiều nhất công ty Wipro. Azim Premji là chủ tịch công ty Wipro. Chỉ với 50m$ vốn ban đầu được cấp năm 1996, công ty đã đem lại 1,35 tỷ USD doanh thu ngay năm 1997. Ngay sau đó nó trở thành công ty lớn trong dịch vụ CNTT toàn cầu. Mặc dù lợi thế chi phí rẻ của Ấn Độ ban đầu giúp công ty ngay lập tức thành gã khổng lồ toàn cầu, nhưng nó cũng nhanh chóng kết thúc. Premji là người vô cùng tiết kiệm cả trong sinh hoạt cá nhân lẫn ở công ty Wipro mà ông là chủ tịch, mặc dù ông là 1 trong những người giầu nhất Ấn Độ. Ấn Độ là 1 phép mầu khác của châu Á khi đi lên từ lĩnh vực CNTT thay vì sản xuất truyền thống như các nước châu Á khác.
Dòng họ Tata là dòng họ được nể trọng nhất Ấn Độ, họ khởi nghiệp từ những năm 1860 và tồn tại tới tận ngày nay. Họ kinh doanh đa dạng đủ mọi lĩnh vực từ thương mại sau đó mở rộng ra sắt thép, oto, chè, viễn thông, tài chính, khách sạn, hóa chất, bán lẻ. Kohli là nhà quản lý cấp cao của công ty điện tử Tata được đề nghị điều hành công ty Dịch vụ tư vấn Tata (TCS), công ty này chuyên về tư vấn và lập trình vi tính. Với tầm nhìn xa trông rộng của dòng họ, họ đã góp 1 phần vào biến lĩnh vực lập trình vi tính thành mũi nhọn chủ lực của Ấn Độ sau đó. Tới những năm 1970s, TCS bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng và họ liên tục phải tìm kiếm khách hàng mới để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Cùng lúc đó, vào thập niên 1980s, Murthy tại Ấn Độ đã cho ra đời công ty Infosys Technologies là đối thủ số 1 của TCS trong cuộc cạch tranh dịch vụ CNTT ở phạm vi toàn cầu. Công ty này được lập năm 1981 chỉ với 250$ tiền vốn. Infosys tự coi mình là doanh nghiệp toàn cầu ngay từ khi mới thành lập. Trong khi Murthy ở Ấn để quản lý công ty thì 6 nhà sáng lập khác tỏa đi khắp nước Mỹ để tìm kiếm công việc cho công ty. Họ xa nhà, xa gia đình, sống lang bạt với niềm tin sẽ thành công và vượt trội mọi đối thủ khác. Nhưng sau 1 thời gian họ tỏ ra chán ngấy và đòng ý bán sạch cổ phần với giá 1 triệu USD. Murthy im lặng và đồng ý mua lại toàn bộ cổ phần của các nhà sáng lập khác và 1 mình tiếp tục làm việc. Ngay khi Murthy đang vật lộn để sống sót trong ngành thì Wipro tấn công vào ngành dịch vụ CNTT này.
Azim Premji khi đang là sinh viên đại học Stanford thì dừng học về nhà vì bố anh mất, bố ông lại chọn ông là người kế nghiệp gia đình. Wipro là công ty kinh doanh lớn về dầu thực vạt tại Tây Ấn. Ông là chủ tịch Wipro khi mới 21 tuổi, mọi người nghi ngờ khả năng của 1 người trẻ như vậy trong hoạt động kinh doanh này. Anh học hỏi, đi thực tế liên tục trong 1 thời gian dài và sau đó thành công trong ngành này.
Bên cạnh đó, Premji nhận thấy cơ hội đến khi nhiều doanh nghiệp Mỹ rời bỏ thị trường Ấn như IBM, sự ra đi của họ sẽ để lại khoảng trống và công ty có thể lấp đầy nó. Mặc dù không có kinh nghiệm về ngành máy tính nhưng Wipro vẫn quyết định tham gia vào. Năm 1981, Wipro sản xuất chiếc máy vi tính đầu tiên của mình, chiếc S-86. Wipro nhanh chóng trở thành nhà sản xuất máy tính hàng đầu Ấn Độ sau đó.
Năm 1992, sau cải cách của Singh, các công ty nước ngoài như IBM quay trở lại thị trường Ấn Độ, điều này gây áp lực lớn lên hoạt động sản xuất của Wipro. Dưới áp lực đó, Wipro chuyển sang lĩnh vực phần mềm tương tự như TCS và Infosys. Wipro trong năm này đã tái định vị công ty thành nhà cung cấp dịch vụ toàn cầu. Chuyển biến lớn xảy ra chủ yếu tới từ việc GE khi đó Jack Welch là chủ tịch có chuyến thăm Ấn và vô cùng ấn tượng với nơi đây và yêu cầu chuyển dịch các dịch vụ CNTT sang Ấn Độ. Sự hứng khởi của GE, khách hàng là GE đã giúp các công ty Ấn dễ dàng tiếp thị tới rất nhiều công ty Mỹ khác. Tới đầu những năm 2000, Ấn Độ đã vươn lên trở thành cường quốc CNTT toàn cầu. Doanh thu tăng lên hơn 64 tỷ USD, 3 ông lớn Infosys, Wipro, TCS là những doanh nghiệp lớn trên phạm vi toàn cầu về dịch vụ CNTT.



















