Nhìn lại sự thần kỳ của các nước Đông Á – Josseph E.Stinglitz & Shahid Yusuf
Cuối sách ra đời sau báo cáo: East Asian Miracle nổi tiếng của WB ra xuất bản năm 1993 ca ngợi thành tựu thần kỳ của các nền kinh tế châu Á, các con hổ mới châu Á. Nhưng sau đó các rắc rối bắt đầu bùng nổ và khủng hoảng châu Á nổ ra năm 1997 và kéo theo nhiều nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Nghiên cứu này bắt đầu năm 1998 và có đủ thời gian để nhìn nhận lại các vấn đề của khủng hoảng châu Á khi đó ở các nước.
- Sự thần kỳ của Đông Á trong thiên niên kỷ
Các nhà kinh tế vẫn đánh giá quá cao tầm quan trọng của xuất khẩu trong sự thịnh vượng và phát triển của các nước Đông Á. Nhưng chính năng suất (TFP), đặc biệt TFP trong 1 số lĩnh vực then chốt là yếu đố giúp các nước Đông Á có lợi thế về tối ưu hóa chi phí và vượt trội trong xuất khẩu. Nhưng chính hoạt động nhật khẩu lại là hoạt động có tác động mạnh mẽ nhất nâng cao TFP, vì nó loại bỏ hầu hết các doanh nghiệp yếu kém và không tối ưu hóa được chi phí sản xuất và thúc đẩy sự cạnh tranh làm cho TFP tăng trưởng.
Các nước Đông Á có quá trình thành tích rất tốt đặc biệt trong giai đoạn khoảng những năm 70-90s nhờ hệ thống chính trị mạnh, thúc đẩy từ trên xuống và thực thi chiến lược tốt. Nhưng kể từ giữa nhưng năm 90s trở đi, nền chính trị các nước Đông Á bắt đầu đi xuống mạnh mẽ với sự yếu kém của các cơ quan kinh tế nặng tính chính trị, các tranh cãi vụn vặt ở nghị trường và các đề xuất táo bạo bị bỏ ngoài tai. Người ta ngày càng thấy tệ tham nhũng tràn nan, các doanh nghiệp cần có mối quan hệ mạnh mẽ với các quan chức chính phủ sẽ được các ưu ái đặc quyền, các loại giấy phép đặc quyền tham gia mà người khác không có và từ đó là nguồn gốc cho lợi nhuận kếch xù và sự giầu có của họ.
- Phát triển, khủng hoảng và tương lai khôi phục kinh tế ở Đông Á
Sự thần kỳ của Châu Á là dựa trên những yếu tố sau:
- 1 môi trường kinh tế vĩ mô ổn định: hiếm khi có siêu lạm phát, lạm phát kiểm soát tốt như các nước phát triển
- Tỉ lệ tiết kiệm và đầu tư cao: tỉ lệ tiết kiệm gia đình lên tới 30% – 40% GDP
- Nguồn vốn nhân sự có chất lượng cao (giáo dục tốt và tỉ lệ biết đọc biết viết cao)
- 1 hệ thống hành chính quản lý theo cơ chế tuyển dụng nhân tài
- Bất bình đẳng thu nhập ít
- Khuyến khích xuất khẩu
- Công nghiệp hóa thành công
- Số lượng đầu tư trực triếp của nước ngoài (FDI) và sự chuyển giao bí quyết công nghệ đi liền theo đó. Hầu hết các nước đều theo mô hình này ngoại trừ Nhật Bản và Hàn Quốc là ít khuyến khích FDI mà tận dụng nội địa phát triển.
Hầu hết các nước công nghiệp hóa thành công đều đi từ lĩnh vực nông nghiệp -> công nghiệp nhẹ -> công nghiệp nặng và hóa chất -> công nghiệp chính xác, điện tử. Các thay đổi tuần tự này làm cho việc tăng trưởng kinh tế trở thành điều khả thi có thể thực hiện được, nếu chỉ dựa vào công nghiệp, sức tăng trưởng cao có thể sẽ không duy trì được.
Những điềm báo về khủng hoảng tiền tệ:
- Tình dễ bị tổn thương tiềm ẩn: việc công nghiệp hóa đòi hỏi sự đầu tư ngày 1 tăng, và đầu tư, đến phiên nó, đòi hỏi phải có tiền. Nguồn tiền này tới từ tiết kiệm trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và các dòng tư bản gồm vốn cổ đông, trái phiếu và sự cho vay của các ngân hàng. Nhưng tại các nước đang phát triển, phần lớn tới từ hệ thống ngân hàng là chính để bơm vốn cho các hoạt động công nghiệp hóa này.
- Tính dễ tổn thương trong lĩnh vực tài chính: Ở hầu hết các nước châu Á, ngân hàng đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc tạo dòng chảy cho tiết kiệm đi vào đầu tư. Nhu cầu vốn dài hạn được cung cấp tốt nhấ là qua vốn đầu tư dài hạn dưới hình thức cổ phiếu và trái phiếu dài hạn. Nếu đầu tư dài hạn được cung cấp thông qua ngân hàng với đầu vào là những khoản tiền gửi ngắn hạn, khi ấy tình trạng “chênh lệch thời hạn thanh toán” sẽ xảy ra.
- Luật định về tài chính chưa thích hợp. Khung giám sát và quản lý của các định chế tài chính ở nhiều nền kinh tế châu Á chưa được tinh vi. Người ta giả định các định chế sẽ không bao giờ thất bại. Nhưng hệ thống này rất dễ bị tổn thương trước 1 cú sốc mà sẽ khiến cho 1 số công ty không trả được nợ ngân hàng.
- Trình tự tự do hóa. Nhìn chung tự do hóa mậu dịch phải đi trước tự do hóa tài chính, việc điều tiết tài chính trong nước phải đi trước sự tự do hóa tài chính đối với bên ngoài, và tự do hóa đầu tư trực tiếp phải đi trước việc tự do hóa khoản vay ngân hàng và đầu tư cổ phần.
- Sự quản lý hoạt động kinh doanh của các công ty. Nhiều công ty lớn trong các thị trường mới nổi ở châu Á đều thuộc sở hữu các gia đình. Các quyết định đầu tư và góp vốn của ngân hàng thường được thực hiện theo kiểu liên kết, bởi các ngân hàng cũng là 1 phần của các tập đoàn. Phân tích tín dụng độc lập nói chung không có. Khi nền kinh tế tăng trưởng cao thì các vấn nạn sẽ không xuất hiện. Nhưng 1 khi nền kinh tế bị chậm lại, tình trạng phân bố đầu tư sai lạc lại nổi lên thành 1 tình trạng báo động lớn. Nạn đầu tư không sinh lợi thường diễn ra chằng chéo giữa các nhánh khác nhau trong tập đoàn. Những quyết định đầu tư kém cỏi này được thực hiện thông qua vay mượn ngân hàng, và các công ty cũng như ngân hàng trở nên dễ bị tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài.
- Chế độ ngoại hối. Hầu hết các đồng tiền châu Á đều có mối tương quan chặt chẽ >90% với đồng USD ngoại từ đồng Dolla Singapore. Người ta tin rằng chính sự bình ổn dolla trong thực tế, tức sự ổn định ngoại hối, đã góp phần cho sự phát triển của các lĩnh vực công nghiệp, và kích thích đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đổ vào. Chính sách này khi lạm phát trong nước cao hơn tại Mỹ, các lĩnh vực xuất khẩu sẽ mất đi sức cạnh tranh trong dài hạn. Các nước tại thời điêm đó có quan hệ xuất-nhập rất lớn với Nhật Bản (giờ là TQ) nên hiệu suất thực tế bị sai lệch rất nhiều. Thêm vào đó hối suất ổn định làm mất đi cảm giác về độ rủi ro của hối suất trong vay và mượn vốn ngắn hạn. Do đó sự bù lỗ rủi ro tín dụng và bù lỗ rủi ro lạm phát làm phát sinh lãi suất trong nước sẽ luôn cao hơn thế giới.
Lĩnh vực sản xuất mạnh và tìa chính yếu kém là sự mô tả cho phần lớn các nền kinh tế châu Á. Các nguyên nhân của khủng hoảng tiền tệ 1997-1998 ở các nước châu Á:
- Sự định giá đồng tiền lên quá cao do chính sách neo tỉ giá vào đồng USD
- Công tác giám sát ngân hàng và tổ chức không phải ngân hàng quá yếu
- Các dòng vốn ngắn hạn chảy vào quá cao
- Sự quản lý dự trự ngoại tệ kém cỏi
- Vay mượn quy đổi bằng ngoại tệ quá lớn giữa các ngân hàng
- Công ty quản lý công ty yếu kém
- Ảnh hưởng dây chuyền mạnh
Các nước châu Á nổ ra khủng hoảng vào năm 1997 đều phục hồi lại rất nhanh chóng và mạnh mẽ ngay từ năm 1999 cho thấy mức độ lấy lại xung lực kinh tế rất cao của các nước châu Á khi đó. Sự phục hồi này được mô tả như sự phục hồi chữ V, đặc biệt phục hồi trong lĩnh vực sản xuất.
Các điều kiện cho sự phát triển kinh tế vưng vàng trong tương lai:
- Cần kiểm soát sự thất bại của thị trường dựa trên việc kiểm soát sự phân bố sai lạch các tài nguyên, tài chính lẫn thực tế, các rủi ro tinh thần, hành động kiểu tập thể,…
- Sự can thiệp tối ưu của nhà nước vào nền kinh tế và thị trường tài chính. Nhà nước thực hiện các cải cách cả lĩnh vực tài chính là điều bắt buộc để thục hồi niềm tin trong nền kinh tế. 1 hệ thống tài chính vững mạnh bất chấp những cú sốc bên ngoài phải là mục tiêu then chốt.
- Bộ 3 bất khả thi và cách giải quyết. Các nước đều duy trì đồng thời 3 yếu tố: 1 hối suất cố định – tính cơ động tự do của vốn – 1 chính sách tiền tệ độc lập.
- Cải cách tài chính. Việc làm tăng sức mạnh cho hệ thống tài chính và làm tăng sức mạnh cho thị trường vốn đều có tầm quan trọng như nhau và đòi hỏi chính quyền phải có thái độ chủ động.
- Biến chuyển công nghệ và sự phát triển ở Đông Á: Quan điểm vĩ mô và vi mô
Sự thần kỳ trong phát triển của các nước Đông Á bị nghi ngờ rằng có thể đến từ việc đầu tư vốn (tư bản) quá mức theo kiểu Xô Viết cũ. Và hậu quả của việc phát triển nhanh tỏng lĩnh vực vốn tất yếu sẽ dẫn ới tình trạng lợi nhuận thu hồi giảm dần. Tuy nhiên, xem xét TFP (total Factor Productivity) cho thấy nhiều nước ngoài sự tích lũy tư bản mạnh, họ còn có lao động có kỹ năng và kiến thức công nghệ giúp họ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế bền vững lâu dài. Nhưng nhìn chung, phần lớn sự tăng trưởng vẫn tới từ tích lũy tư bản mà ra.
Các nước NIE, có cơ sở công nghiệp vững chắc đã tồn tại, với trang thiết bị hiện đại, sự tổ chwucs tốt ở cấp công ty và cấp ngành, khả năng tiếp thị vững vàng, 1 lực lượng công nhân hiệu quả đông đảo, và 1 khả năng linh hoạt đáng kể để phản ứng với những thăng trầm, từ chuyện giá dầu tăng cho đến những thay đỏi đầy rối loạn của chế độ chính trị.
Cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra ở châu Á giai đoạn 1997-1998 không phải do sự yếu kém của năng suất, nó tới từ khả năng thanh toán yếu kém, sự giám sát thiếu thỏa đáng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, các nhà đầu ư quốc tế với những phổ đầu tư tràn lan thiếu hợp lý, và thành tích không mấy xuất sắc của cộng đồng tài chính quốc tế là những thứ cộng hưởng nhau gây ra cuộc khủng hoảng đó.
- Công nghiệp hóa nông thông của Trung Quốc trong bối cảnh sự thần kỳ của Đông Á
Công nghiệp hóa nông thôn đã là 1 hiện tượng riêng biệt của Đông Á, và làm thành 1 phần không thể thiếu trong sự thần kỳ của Đông Á. Là nền kinh tế lớn nhất trong khu vực, TQ đã đuổi kịp, và còn vượt quá các nền kinh tế láng giềng trong công cuộc công nghiệp hóa nông thôn của mình. Trong hơn 20 năm từ cuối 1970s-2000, TQ đã lấy chỗ dựa phần lớn là từ sức tăng trưởng nhanh của công nghiệp nông thôn, vốn bao gồm vố số những xí nghiệp nông thôn quy mô nhỏ do làng, xã hay cá nhân lập ra. Năm 1978, chưa tới 9% lực lượng lao động nông thôn tham gia các hoạt động công nghiệp, và chiếm có 9% tổng thu nhập cả nước; đến năm 1997, 30% lực lượng lao động ở nông thôn đang làm việc trong các ngành công nghiệp của địa phương, và thu nhập từ công nghiệp chiếm 58% tổng thu nhập cả nước. Số xí nghiệp nông thôn tăng từ 1,5 triệu xí nghiệp lên 20,2 triệu xí nghiệp.
Sự tăng trưởng ngoạn mục của công nghiệp nông thôn TQ cũng tới từ việc do các doanh nghiệp trung ương bị tê liệt bởi cách mạng văn hóa và hoạt động sản xuất được dịch chuyển về địa phương với nòng cốt là các xí nghiệp công nghiệp nông thôn. Từ đây tạo tiền đề cho các xí nghiệp này phát triển mạnh mẽ sau đó. Sau đó là giai đoạn các chính sách cải cách được đưa ra vào cuối những năm 70s và đầu những năm 80s đã giúp các xí nghiệp nông thôn bùng nổ tăng trưởng cả về số lượng lẫn giá trị công nghiệp. Nông thôn TQ, với nguồn vốn tài chính yếu, nhưng có nguồn lực lao động và tài nguyên mạnh hơn so với thành thị rất nhiều. Các doanh nghiệp này đã tăng mạnh tỷ lệ xuất khẩu từ mức 9% của năm 1986 lên 48% vào năm 1996 chỉ trong vòng 10 năm.
Khác với khu vực thành thị với các doanh nghiệp nhà nước lớn, các doanh nghiệp nông thôn có tính đa sở hữu cao và nhiều doanh nghiệp có sự tham gia của chính quyền địa phương. Vào năm 1984, 69% xí nghiệp nông thôn là sở hữu tư nhân, thì tới năm 1997 con số này lên 97%. Về cơ bản, xí nghiệp tư đã thành lực lượng chiếm tuyệt đại đa số trong lực lượng xí nghiệp nông thôn. Về mặt sử dụng lao động, các xí nghiệp tư nhân chiếm 59% tổng lực lượng lao động và chiếm 51% tổng sản lượng. Ban đầu các xí nghiệp ở thành phố chuyển giao công nghệ cho các xí nghiệp nông thôn. Nhưng từ những năm 1980s, sự cạnh tranh của xí nghiệp nông thôn lên rất cao và gây áp lực lớn cho các xí nghiệp ở thành phố. Các tỉnh duyên hải phía Đông là nơi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa từ sớm trước nhất, điều này chủ yếu do họ ở gần các thành phố trung tâm chính như Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Đông và làm các khu vực vệ tinh của các thành phố này.
- Sau khủng hoảng, bản vị đôla của Đông Á được phục hồi: 1 sự giải thích về sự cố định hóa hối suất cao tần
Hầu hết các nước châu Á đều có tỉ giá neo cố định với đồng đôla Mỹ, ngoại trừ Nhật Bản là có chính sách thả nổi đồng JPN của họ. Chỉ có trong khủng hoảng 1997-1999 là có sự phá giá, thả nổi tỷ giá trong 1 khoảng thời gian ngắn. Ngay khi các nền kinh tế phục hồi vào năm 1999 thì các chính sách cố định, neo tỷ giá với đồng USD lại được tái áp dụng ở mọi nước như trước khi có khủng hoảng nổ ra.
Các nguyên tắc mới cho cuộc chơi bản vị đôla:
- Tránh không để cho các ngân hàng hay những định chế tài chính khác mà có tài sản có và tài sản nợ ngắn hạn rơi vào tình trạng rủi ro ngoại hối ròng.
- Dịch chuyển từ cố định hóa hối suất đôla bán chính thức sang ngang giá đôla chính thức.
- Thực hiện những thay đổi về mặt định chế, tăng cường chỗ dựa pháp lý cho các chủ nợ, đạt được sự minh bạch kế toán nhiều hơn…để mở rộng cấu trúc kỳ hạn cua tài chính trong nước, bằng cách khuyến khích sự phát triển của thị trường trái phiếu và thế chấp
- Hợp lý hóa vị trí của Nhật (nay là TQ) trong hệ thống dựa vào đôla của Đông Á, đồng thời cùng có cả Mỹ và 1 rổ ngoại tệ thay vì chỉ đồng đôla.
- Chính sách công nghiệp, tài chính ở Trung Quốc và Việt Nam: 1 mô hình mới hay 1 sự tái diễn kinh nghiệm của Đông Á?
Cả TQ và VN đều khởi động sau các nước Đông Á khác. Cả 2 đều trải quá rất nhiều năm mô hình kinh tế tập trung cao độ với sự chỉ huy từ trên xuống kiểu Liên Xô, với chiến lược là tự sản xuất thay thế hàng nhập khẩu. Từ đó cùng thay đổi sang định hướng theo xuất khẩu, thay đổi giá cả có chỉ đạo sang giá cả do thị trường quyết định. Để trở thành khá giống với phần còn lại của Đông Á, TQ và VN về cơ bản đã phải sửa đổi con đường tổ chức nền kinh tế của mình từ gốc đến ngọn.
Cả TQ và VN xuất phát muộn nên môi trường thế giới và cuộc chơi đã khác với các Nhật, Hàn, Đài đã làm trong những năm 1950s-1960s khi sự bảo hộ thuế cao cao độ là phổ biến. Cả TQ và VN nằm trong các chính sách chung của WTO, GATT nên các chính sách bảo hộ bị hạn chế đi rất nhiều. 1 số thành phần trong cách tiếp cận phát triển kinh tế của Đông Á đã được giới lãnh đạo của TQ và VN công nhiên thừa nhận và áp dụng vào mô hình phát triển kinh tế của từng nước. Đặc biệt là chính sách nhấn mạnh đến phát triển xuất khẩu. Cả 2 nước cũng đề cao chính sách phát triển thu hút FDI mạnh mẽ và coi như 1 nguồn lực quan trọng hàng đầu tư việc phát triển công nghiệp.
Trong khi HQ, Singapore và Nhật thành công trong việc cách ly các nhà kỹ trị – những người có chuyên môn sâu về các ngành nghề và hiểu rõ cần làm gì với ngành nghề đó khỏi chính trị và tham nhũng và từ đó định hướng và dẫn dắt được công nghiệp hóa của HQ, Singapore và Nhật, thì tại TQ và VN các cá nhân này bị ảnh hưởng nặng nề bởi chính trị và tham nhũng làm cho mức độ hiệu quả giảm đi rất lớn.
- Kiểm soát nhà nước trong quản lý hoạt động của các công ty với tư cách 1 định chế quá độ: Các bài học từ Trung Quốc
Trong các nền kinh tế của Đông Á, nhà nước nói chung giữ mối quan hệ khá chặt chẽ với các xí nghiệp kinh doanh thông qua những kênh chính thức hoặc kênh thông tin. Quan hệ chặt chẽ này dẫn tới 2 luồng ý kiến, 1 là do có mối quan hệ này chính phủ giúp đỡ doanh nghiệp trước thất bại của thị trường và tạo ra sự thần kỳ Đông Á. 2 là quan điểm mối quan hệ chặt chẽ này dẫn đến nạn tham nhũng và chủ nghĩa tư bản “ăn nên làm ra nhờ thân thích”, và do vậy, đó chính là nguồn dẫn đến tình trạng thịnh vượng kiểu “bọt bong bóng”. Nhìn chung cả 2 quan điểm này đều đúng 1 phần và bị tiêu cực hóa ở phần còn lại.
Cải cách của TQ đã trải qua 2 giai đoạn, giai đoạn đầu từ 1979-1993 là lúc gia tăng kiểm soát nhà nước trong quản lý hoạt động của các công ty, các công ty TQ là trung ương tập quyền cao và nhà nước quản lý các cơ sở kinh doanh lớn ở các thành phố. Giai đoạn này xi nghiệp tư nhân chỉ chiếm 15% trong tổng số và vẫn rất nhỏ trong nền kinh tế TQ. Sự tăng trưởng kinh tế tới từ các doanh nghiệp tập thể nông thôn với sự đóng góp tăng từ 9% của năm 1978 lên 27% vào năm 1993 với hơn 50 triệu lao động. Các SEO rất chậm chễ trong việc tư nhân hóa, cổ phần hóa.
Giai đoạn thứ 2 từ năm 1994 trở đi (sách viết năm 2000), giai đoạn này giảm bớt kiểm soát nhà nước trong việc giám sát hoạt động của các công ty. Các doanh nghiệp tư nhân ngày càng đóng góp vị thế cao hơn hẳn khi vào năm 1998, 37% tổng sản lượng trong nước từ doanh nghiệp tư nhân, và chiếm 50% doanh số bán lẻ hàng tiêu dùng. Các SOE bắt đầu giảm mạnh về số lượng và dần cổ phần hóa tăng tốc.
- Quan hệ công ty – Chính quyền ở nước Nhật thời hậu chiến: Sự thành công và thất bại của chủ nghĩa đa nguyên hành chính
Trong 1 đất nước đa nguyên về hành chính, các lợi ích tư nhân chủ yếu được gom lại thành 1 hiệp hội công nghiệp và rồi hiệp hội này thông đạt đến cơ quan tương đương thuộc hệ thống hành chính công quyền, tức “cơ quan chủ quản” có trách nhiệm đối với ngành đó. Cơ quan chủ quản đó thương lượng bên trong guồng máy nhà nước, trong sự đại diện cho lợi ích của ngành thuộc quyền quản lý của mình. Cuộc mặc cả và thương lượng đó trước tiên được thực hiện bên trong mỗi bộ, rồi đó mới đến liên bộ. Hệ thống này mang tính chất đa nguyên, theo nghĩa những người tham gia vào công cuộc hoạch định chính sách. Cùng lúc đó, nó mang tính chất quan liêu, theo nghĩa các cơ quan ban ngành đại diện cho lợi ích của nhân dân. Chủ nghĩa đã nguyên hành chính đã vừa giúp Nhật có sự tăng trưởng thần kỳ sau chiến tranh nhưng cũng đem lại sự trì trệ cho Nhật trong thập niên 1990s.
Sau chiến tranh, sự điều phối của nhà nước tập trung và 2 lĩnh vực: hợp lý hóa công nghiệp và cung cấp chất liệu cơ bản lẫn cơ sở hạ tầng. Nhật đã lập ra hội đồng cấu trúc doanh nghiệp (ISC) với sự tham gia của các viên chức nhà nước, các hiệp hội, công ty, giới học thuật,… để thảo luận về các chính sách công nghiệp trong từng ngành nghề khác nhau.
- Mở đầu về sự thần kỳ: Nhà nước và cải cách khu vực doanh nghiệp tại Hàn Quốc
Cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra tại HQ năm 1997 không hẳn do chủ nghĩa tư bản làm giầu nhờ quen biết. Nó phần nào là do sự bất lực của chính quyền trong việc giải quyết tình trạng lưỡng nan lâu nay vẫn tồn tại trong đường lối công nghiệp của nước này – sự có mặt của 1 nền kinh tế có lực đòn bẩy cao, gắn kết nhà nước với 1 lĩnh vực kinh doanh ngân hàng yếu kém và 1 khu vực doanh nghiệp nợ nần ngập đầu.
Chính quyền HQ sau nhiều thập kỷ vận hành “nhà nước phát triển” với sự kiểm soát chặt chẽ hệ thống ngân hàng đã nới lỏng quy định để thị trường tự vận hành vào những năm 1990s, nhưng cả kiêm soát chặt lẫn nới lỏng đều thất bại ở HQ. Khi khủng hoảng nổ ra, chính quyền HQ đã phải can thiệp mạnh vào thị trường và guồng máy quản lý đã quay trở lại đường lối “nhà nước phát triển” như tước đây.
Nhà nước đã tạo ra các chaebol bằng cách sử dụng hệ thống tài chính công nghiệp dựa trên tín dụng. Trong 1 đất nước khan hiếm vốn tích lũy, giới doanh nghiệp phải dựa vào các khoản cho vay từ phía các ngân hàng do nhà nước sở hữu hay kiểm soát. Các doanh nghiệp được săn sóc hết lòng, nên giới doanh nghiệp đã phải duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nhà nước, để phòng ngừa khả năng không trả được nợ. Vì vậy, các công ty HQ đã tuân thủ chặt chẽ theo các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Hầu hết các chaebol HQ đều khởi nghiệp vào lúc HQ đang trong giai đoạn sản xuất công nghiệp nhẹ, định hướng vào xuất khẩu. Sau đó họ tham gia mạnh mẽ vào công nghiệp nặng theo định hướng và được bảo trợ bởi nhà nước. Các công ty này đã có sự tăng trưởng cực kỳ nhanh chóng nhờ các lợi thế ưu đãi chưa từng có trước đây từ nhà nước mang lại. Cấu trúc sở hữu thì mỗi công ty rơi vào tay 1 gia đình, họ sở hữu chéo các công ty rất phức tạp qua các cấu trúc sở hữu. 30 chaebol hàng đầu HQ vào năm 1997 có tỷ lệ gia đình + công ty liên quan sở hữu khoảng 43% cổ phần các chaebol, 30 công ty này có 616 công ty thành viên trong hệ thống. Mặc dù số lượng nhiều nhưng thường mỗi chaebol chỉ có khoảng từ 3-5 công ty chủ chốt gánh chính doanh số và chi phí hoạt động của toàn chaebol. Mặc dù đa dạng hóa về mặt kinh doanh, giàn trải cao nhưng điêm chung là tất cả đều sử dụng đòn bẩy quá lớn với tỷ lệ bình quân nợ gấp 5 lần tài sản tự có. Cá biệt có chaebol tỷ lệ này lên tới 10 lần, hiệu quả kinh doanh các chaebol là rất thấp và nhiều người tin rằng họ hoạt động không có lợi nhuận và không quan tâm tới lợi nhuận.
Sự cải cách trong quản lý ở HQ là vô cùng khó khăn vì mô hình “nhà nước phát triển” mà HQ đang xây dựng qua rất nhiều thập kỷ. Các chaebol quá lớn và nếu sụp đổ sẽ ảnh hưởng nặng nền tới nền kinh tế và xã hội HQ. Tình trạng lưỡng nan ở HQ chính là nhà nước vừa là ngừi bảo đảm vừa làm người cầm cương các chaebol. Điều thần kỳ ở HQ chính là việc nhà nước đã xoay xở được với những vai trò xung đột với nhau này.
- Thương mại và phát triển: Định hướng theo nhập khẩu hay xuất khẩu? Bằng chứng từ Nhật Bản và Hàn Quốc
Nhật Bản là điển hình, hình mẫu cho sự phát triển kinh tế cho các nước Đông Á theo sau cải cách kinh tế. Sự thành công trong thành tích xuất khẩu của Nhật là điều không thể chối cãi. Nhật cũng có lợi thế lớn khi có thị trường nội địa rộng lớn và sự cạnh tranh rất quyết liệt giúp thúc đẩy mạnh mẽ việc gia tăng sản lượng, cắt giảm giá thành sản xuất để tăng sức cạnh tranh cả ở nội địa lẫn xuất khẩu.
Trong giai đoạn đầu của sự cải cách kinh tế, Nhật đã tiến hành chính sách công nghiệp bảo hộ mạnh để thay thế hàng nhập khẩu, sau đó từ những năm 1980s trở về sau là chính sách hướng tới xuất khẩu. Nhiều ý kiến cho rằng nếu họ ít bảo hộ hơn thì đời sống người dân sẽ tốt đẹp hơn nữa. Sự thật là xuất khẩu không thúc đẩy phát triển thật, nhưng đường lối bảo hộ chống nhập khẩu trong thực tế cũng đã gây trì trệ cho sức tăng trưởng năng suất, còn nhập khẩu thì thúc đẩy yếu tố – TFP.
Nhập khẩu giúp gia tăng TFP vì chất lượng của các công ty trong lĩnh vực công nghiệp có thể nâng cao bởi sự cạnh tranh thêm nữa từ phía các công ty nước ngoài. Điều này có được do các công ty trong nước học hỏi được sản phẩm nhập khẩu và sự cạnh tranh của nước ngoài buộc họ phải canh tân.
Tại HQ, tình trạng cũng tương tự khi mức độ nhập khẩu càng cao đi liền với sức tăng trưởng năng suất càng lớn. Các lĩnh vực bắt đầu ngay từ đầu với định hướng xuất khẩu đều có tỉ lệ tăng trưởng năng suất ghi nhận được khá thấp.
- Sự nảy sinh mối quan hệ FDI-Mậu dịch và phát triển kinh tế tại Đông Á
Các nền kinh tế Đông Á gần đây ngày càng trở thành điêm đến đối với các hoạt động kinh tế quốc tế, như ngoại thương và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI). Tỷ lệ xuất khẩu của các nước Đông Á cũng tăng nhanh trên phạm vi toàn cầu, giá trị đầu tư FDI cũng tăng mạnh và trở nên ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của các nước ở khu vực Đông Á trong rất nhiều năm liên tục. Mặc dù FDI tăng liên tục nhưng tỷ lệ FDI/GDP nhỏ hơn rất nhiều so với tỷ lệ xuất khẩu/GDP. Đặc biệt là FDI và thương mại nội khu rất phát triển và cao hơn nhiều so với các khu vực khác.
- Nhìn lại vai trò của chính sách nhà nước tại Đông Nam Á
Các nước được nghiên cứu ở đây chủ yếu là Nhật Bản đi đầu và tạo ra hình mẫu cho các nước Đông Á theo sau. Sau Nhật là 4 nền kinh tế NIC Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hongkong. Các nước Đông Nam Á được đánh giá là Indonesia, Thái Lan và Malaysia. TQ cũng được đánh giá từ những năm 1980 trở đi. Đây đều là các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh vượt trội so với các khu vực khác.
3 nền kinh tế Đông Nam Á mặc dù học hỏi mô hình của Nhật và các nước NIC, nhưng họ cũng có nhiều chính sách riêng như phụ thuộc nhiều vào FDI hơn hẳn so với Nhật hay Hàn. Hầu hết các nước đều không có mấy về tài nguyên thiên nhiên, chỉ có 1 lực lượng lao động hùng hậu để hậu thuẫn. Các chính sách của Malaysia và Indonesia cho lĩnh vực công nghiệp tỏ ra hiệu quả hơn Thái Lan nhưng hầu hết vẫn gặp nhiều vấn đề trong việc tạo ra các lợi thế độc quyền cho 1 nhóm nhỏ và làm giảm tính cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung. 1 số thì cho rằng sự phát triển của 3 nước Đông Nam Á trên là nhờ vai trò nhớ của cộng đồng người Hoa trong hoạt động kinh tế tại các nước.
Đầu tư của Nhật đóng vai trò lớn trong sự phát triển của các nước Đông Nam Á suốt nhiều năm kể từ cuối những năm 1980s trở đi. Các nước Đông Nam Á cũng thực hiện chiến lược “đàn ngỗng bay”, nghĩa là 1 nước đi theo trước tiên là nhập khẩu sản phẩm từ 1 nước tiên tiến hơn, thế rồi nước đó mới tự sản xuất sản phẩm đó cho chình mình, và sau cùng là xuất khẩu sản phẩm đó sang những nước khác. Nước đi theo leo lên bậc thang công nghệ theo trình tự, đồng thời học cách sản xuất hàng hóa có giá trị, có tính phức tạp ngày càng cao.
Việc công nghiệp hóa tại Đông Nam Á kém thành công hơn rất nhiều so với các nước Đông Á đi trước. Sự thúc đẩy xuất khẩu phần lớn tới từ dòng vốn FDI của các nước Đông Á đã phát triển trước đó mà chủ yếu là Nhật mang lại. Vì vậy, các nền kinh tế Đông Nam Á kém chắc chắn hơn rất nhiều về tiến trình phát triển và công nghiệp hóa so với các nền kinh tế Đông Á khi mà FDI tại các nước Đông Á đóng góp rất ít vào xuất khẩu tại mỗi nước.
- Từ thần kỳ đến khủng hoảng rồi khôi phục: Các bài học từ bốn thập niên kinh nghiệm của Đông Á
Các nước Đông Á đã cực kỳ thành công trong việc gia tăng về mức sống cho người dân theo cách chưa từng có, chỉ có rất ít nước đã từng làm được như họ trước đây. Các nước Đông Á đều có tỉ lệ tiết kiệm tự nguyện cao và hiệu quả tương đối tốt của hoạt động đầu tư. Các nước Đông Á đã hầu như không bị khủng hoảng suốt 3 thập niên cho tới năm 1997. Cuộc khủng hoảng nổ ra năm 1997 nhưng các nước đều nhanh chóng vượt qua và lấy lại được đà tăng trưởng mạnh mẽ sau đó đặc biệt là những nước như Hàn Quốc, Đài Loan trong khi các nước ở Đông Nam Á thì sự phục hồi chậm chạp hơn.



















