The Prize – Dầu mỏ – Tiền bạc & Quyền lực – Daniel Yergin
Cuốn sách đề cập tới 3 chủ đề chính yếu là sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản và nền thương mại hiện đại. Dầu mỏ là ngành kinh doanh lớn nhất và toàn diện nhất thế giới, là ngành công nghiệp vĩ đại nhất trong các ngành công nghiệp trong thế kỷ 20. Chủ đề thứ 2 là dầu liên quan mật thiết với các chiến lược quốc gia, tình hình chính trị toàn cầu và quyền lực. Nó được coi là sức mạnh của 1 quốc gia. Cuối cùng là chính sách hạn chế sử dụng dầu mỏ vì nó gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhưng con người nhìn chung chưa thể thoát khỏi việc nghiện sử dụng dầu mỏ như vật tiêu dùng thiết yếu hàng ngày.
Tác giả cuốn sách là Deniel Yergin, ông là chuyên gia về các vấn đề toàn cầu và dầu mỏ, Ông là chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Năng lượng Cambirdge. Ông cũng có nhiều cuốn sách nổi tiếng khác như Tương lai ngành năng lượng, Những đỉnh cao chỉ huy,…
- Phân I – Những người sáng lập
- Sự khởi đầu: Nỗi ám ảnh về dầu
Năm 1854, Silliman giáo sư đại học Yale đã tham gia dự án nghiên cứu ứng dụng dầu mỏ vào làm nhiên liệu thắp sáng với giá 526,08$ nhưng lại bị những người thuê quỵt tiền. Lúc đó dầu mỏ tràn đầy ở các mặt hồ khu vực giếng dầu mà không ai thèm ngó tới trừ 1 số người dùng vợt hoặc giẻ thu gom nó lại để tuyên truyền là loại thần dược có thể chữa bách bệnh.
Người thuê Silliman là Bissel 1 người tự thân phấn đấu vươn lên từ nhỏ và lăn lộn làm đủ cách nghề khác nhau để mưu sinh. Khi đi qua Dartmouth ông biết đến loại dầu có thể đốt cháy được này người ta gọi là “dầu seneca” và có tiềm năng giúp ông trở nên giầu có. Mãi năm 1955, 1 trong số các đối tác của Bissel mới chịu bỏ tiền ra và báo cáo của giáo sư Silliman mới được giao cho họ với việc chỉ ra chỉ cần đui sôi dầu ở các nhiệt độ khác nhau sẽ tạo ra các loại sàn phẩm carbon và hydro khác nhau và tạo ra được loại dầu hảo hạng để đốt sáng.
Lúc đó, người ta vẫn dùng dầu mỡ cá voi là nhiên liệu thắp sáng và sự bùng nổ dân số cũng như cạn kiệt nguồn cung cá voi đã đe dọa ngành săn bắt cá voi để làm nhiên liệu này. Những người nghèo hơn thì nhúng dây vào mỡ động vật hay thực vật để thắp sáng. Sau đó họ tìm ra đủ loại nhiên liệu đốt khác như nhựa thông, khí than đá,… nhưng hiệu quả về mặt kinh tế và sự an toàn khi sử dụng đều rất kém.
Thomas Cochrane đã thử nghiệm và chiết suất loại nhiên liệu ông gọi là kerosene – dầu lửa và đăng ký sáng chế nó và xây nhà máy để sản xuất. Nhiều nhà máy sản xuất nhiên liệu dầu lửa dạng đó ra đời lấy từ than nén hay đá phiến cũng được xây dựng. Năm 1859, nước Mỹ có 34 nhà máy sản xuất được dầu lửa và parafin với doanh thu 5 triệu USD.
Tại các nước Tây Á, dầu mỏ đã được sử dụng từ rất lâu ít nhất là từ khoảng 3000 năm trước công nguyên khi người babylon đã biết tới nó và sử dụng nó với tên gọi bitum, nó là hỗn hợp của đất-dầu mở trộn với nhau và giống nhựa đường mà ta hay gọi ngày nay. Nhưng chất này hoàn toàn mù tịt ở phương Tây cho tới mãi sau này. Tới những năm 1859, ở châu Âu khai thác bình quân khoảng 36k thùng/ngày nhờ du nhập công nghệ của người Tây Á vào. Loại đèn đốt chúng cũng được cải tiến liên tục và cũng đã hiệu quả tránh cay mũi. Nhìn chung người tiêu dùng đã tiếp cận sản phẩm nhưng còn nhỏ và câu hỏi về tiềm năng sản lượng ở Mỹ cũng là vấn đề.
Vẫn đề tiếp theo là việc đào rất mất công và hiệu quả thấp. Người Trung Quốc đã có kỹ thuật khoan khai thác muối ở độ sâu 380m và sau đó du nhập sang châu Âu rồi Mỹ. Nhóm của Bissell đã tiếp cận công nghệ này và sẵn sàng áp dụng nó vào việc khoan khai thác dầu. Để thực hiện, họ đã thuê Drake phụ trách việc khoan dầu và người đàn ông này đã tự phong mình là Đại tá Drake để dễ dàng thực hiện công việc. Ông tới làng Titusville và bắt đầu quá trình tìm kiếm và khoan dầu theo cách người ta khoan muối. Phải mất gần 2 năm và kiệt quệ tài chính Drake mới tìm thấy dầu, trong khi các nhà đầu tư khác cho ông đã từ bỏ và chỉ còn Bissell kiên trì tới cùng và ngay sau khi phát hiện ra cách khoan và bơm dầu lên thành công ông đã tới Titusville và nhanh chóng khai thác dầu hết công suất và trở nên giầu có.
Sau khi khoan trúng dầu, cơn cuồng loạn khai thác dầu đã diễn ra và nó lặp lại cơn cuồng loạn khai thác vàng ở California trước đó. Trong vòng 15 tháng sau khi Drake khoan được dầu thì có tới 75 giếng dầu được khoan và hút dầu lên. Dân số tăng chóng mặt, giá đất cũng tăng chóng mặt theo. Có tới 15 nhà máy lọc dầu moc ra tới năm 1860 tại khu vực này và được gọi chung là Thành phố Dầu, và cùng với Titusville gọi là Vùng đất Dầu. Tới năm 1861, giếng dầu phun thành dòng được tìm thấy với sản lượng tới 3k thùng/ngày. Sản lượng khai thác tăng lên nhanh chóng từ mức 450k thùng vào năm 1860 lên 3 triệu thùng vào năm 1862. Nhưng giá của dầu lại giảm thê thảm từ mức 10$/thùng về còn 50 xu/thùng và sau đó ổn định ở mức 4$/thùng vào cuối năm 1862.
Cuộc nội chiến nổ ra ở Mỹ không ngăn cản sự phát triển của ngành mà còn thúc đẩy ngành phát triển nhanh hơn nữa do thúc đẩy nhu cầu cao ở phía Bắc khi nguồn cung nhựa thông ở phía Nam bị cắt. Hàng trăm công ty khai thác dầu được lập ra, cổ phiếu của họ thành món hàng nóng bỏng giao dịch ở New York. Vùng đất Dầu, từ 1 vùng đất hoảng vu khoảng 120 dân thì vùng đất này đột ngột tăng dân số lên 15k người. Các trang trạng từ vô giá trị bỗng chốc giá lên tới 2-3 triệu USD. Thị trấn Pithole đột ngột hết dầu vào năm 1866 và giá đất tại đây lại trở về vô giá trị từ 2 triệu USD còn 4$, người dân lũ lượt bỏ đi tìm kiếm vùng đất khác. Mặc dù vậy, vùng đất Dầu vẫn có nhiều thị trấn và thánh phố khác vẫn có dầu và sản lượng cả khu vực này vẫn ở mức 3,8 triệu thùng vào năm 1866.
Hệ quả của việc khai thác vô tội vạ là bong bóng khủng hoảng thừa nổ tung vào năm 1866-1867 khi sản lượng khai thác vượt quá xa nhu cầu lúc đó. Giá dầu đã rơi về mức 2,4$/thùng. Nhiều công ty đã dừng tìm kiếm dầu. Sàn giao dịch hàng hóa dầu mỏ được ở ở Titusville vào năm 1870 và là đầu mối kinh doanh buôn bán dầu lúc đó. Sau đó nó nâng cấp thành Sở giao dịch dầu lửa Titusville năm 1871.
- Kế hoạch của chúng ta: John D. Rockefeller và sự cấu kết trong ngành công nghiệp dầu lửa Mỹ
Tháng 1/1865, 1 vụ đấu giá kỳ cục đã diễn ra ở Cleveland, bang Ohio khi 2 ông chủ là Maurice Clark và John D. Rockefeller sau chanh chấp về cách thức phát triển công ty đã tiến hành đấu giá để 1 bên mua lại hoàn toàn bên kia. Giá ban đầu là 500$ và sau đó bi đẩy lên 72,5k$ và người thắng là Rockefeller. Lúc đó công ty này là công ty có tốc độ mở rộng các nhà máy lọc dầu lớn nhất ở thành phố đó. Sau khi đấu giá thành công, từ nền tảng này Rockefeller đã tái định hình lại ngành dầu khí ơ Mỹ cũng như toàn thế giới.
Rockefeller làm việc từ sớm khi 16 tuổi đã tham gia làm kế toán cho 1 hãng buôn. Rồi năm 1859 cùng Clark thành lập công ty và sau đó họ xây dựng lên nhà máy lọc dầu lớn nhất thành phố Cleveland và đã khá thành công ở tuổi 26. Ông dồn toàn lực và đi vay lớn để xây nhà máy thứ 2 vào năm 1866 và mở văn phòng ở NY. Doanh thu của công ty lên 2 triệu $ vào năm này.
Rockefeller rất sợ vay nợ và tới cuối những năm 1860 thì công ty của ông đã gần như không còn vay nợ nữa và duy trì vị thế vay nợ rất thấp mãi về sau này. Rockefeller đã hợp tác với Flagler và xây dựng công ty sau khi mua lại có lợi thế vượt trội nhờ dần kiểm soát được việc vận chuyển dầu mỏ và tạo ra lợi thế lớn về chi phí vận chuyển qua đường sắt giúp Standard Oil đánh bại các đối thủ khác nhờ lợi thế quy mô và lợi thế chi phí thấp nhất ngành.
Trong giai đoạn từ 1865-1870, sản lượng khai thác dầu mỏ lớn gấp 3 lần nhu cầu tiêu thụ đã làm giá dầu giảm hơn 50% và tác động tê liệt lên cả công ty khai thác và các công ty lọc dầu. 2 ông đã thực hiện kế hoạch tái thống nhất ngành dầu khí đang trì trệ bằng cách sáp nhập các nhà máy lại để loại bỏ các nhà máy kém hiệu quả và giảm sản lượng ngành nhằm nỗ lực đưa giá dầu trở lại. Năm 1870, công ty Standard Oil được thành lập với Rockefeller nắm ¼ cổ phần và công ty này chiếm 10% sản lượng ngành công nghiệp lọc dầu ở Mỹ. Cùng với Flagler, họ đã mở rộng ra kiểm soát các tuyến vận tải đường sắt tạo ra thế độc quyền vận tải và buộc các doanh nghiệp lọc dầu khác phải sáp nhập vào vì không thể chịu nổi chi phí cạnh tranh, rồi tiếp tục với hệ thống đường ống dẫn dầu và họ đã nắm tới 90% sản lượng lọc dầu ở Mỹ vào cuối những năm 1870. Vào lúc cao điểm nước Mỹ có tới 16k công ty làm về dầu mỏ.
Mọi chuyện tưởng chừng đã xong xuôi thì năm 1879, đường ống dẫn dầu Tidewater đầu tiên được lắp đặt dài 110 dặm nối vùng đất dầu tới 1 trạm vận chuyển và phá vỡ thế độc quyền của vận chuyển đường sắt truyền thống của Rockefeller. Standard Oil nhanh chóng lắp đặt thêm 4 tuyến đường ống dầu nối các khu vực chính với nhau và tham gia cả vào công ty Tidewater để kiêm soát hoạt động của nó nhằm giành lại thế độc quyền đã có. Các công ty còn lại tuyệt vọng trong cạnh tranh đã sử dụng các biện pháp về pháp lý liên tục kiện tục để ngăn chặn Standard Oil tiếp tục bành chướng.
Rockefeller đã khai sinh ra khái niệm tờ-rớt nhằm qua mặt luật của Mỹ. Khi mà luật không cho phép công ty ở bang này sở hữu cổ phần công ty ở bang khác. Ông đã dùng tên cá nhân các cổ đông của Standard Oil để sở hữu cổ phần các công ty khác, và các cá nhân này lại ủy quyền lại cho Standard Oil thay mặt quản lý các công ty khác. Thế là 1 hệ thống công ty ở các nơi trên nước Mỹ bản chất đều nằm dưới sự quản lý của Standard Oil nhưng về mặt sở hữu vẫn tách biệt nhau.
Rockefeller là 1 nhà tài trợ hào phóng bậc nhất trong lịch sử nước Mỹ khi ông bắt đầu cho đi từ sớm nhưng chính bản thân mình thì lại chi tiêu rất tằn tiện. Tính tới năm 1910, ông đã tài trợ 35 triệu USD cho việc thành lập trường đại học Chicago và hơn 550 triệu USD cho các hoạt động từ thiện của mình. Dầu hỏa đã tạo ra cú cách mạng ở Mỹ với chi phí đốt chỉ 10$/năm rẻ hơn rất nhiều loại nhiên liệu khác.
Tới năm 1880, họ cũng kiểm soát khoảng 80% thị phần các sản phẩm dầu mỏ. Nhưng họ không hề tham gia vào việc khai thác dầu. Và Rockefeller đã làm việc quan trọng nhất trước khi nghỉ hưu là nhẩy vào thu gom và sở hữu các mỏ dầu với lưu huỳnh nặng ở Lima và chưa ai xử lý được khi đó trong khi các mỏ dầu ở Pennylvania đang dần cạn kiệt. Rockefeller đã xử lý được loại dầu này và tiếp tục mở ra 1 thời kỳ mới cho ngành dầu khí ở nước Mỹ. Và tới năm 1890, Standard Oil đã sở hữu ¼ sản lượng khai thác dầu ở Mỹ.
- Thương mại cạnh tranh
Dầu mở ở Mỹ dẫn phát triển nhưng nó chưa lan ra được các nước khác. Mãi năm 1861 mới có chuyến chở sản phẩm đầu mỏ đầu tiên đi châu Âu từ Mỹ do các thủy thủ sợ cháy nổ nên không chịu vận chuyển trước đó. Sau đó sản phẩm thắp sáng từ nước Mỹ này đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường châu Âu và thương mại tự do bùng nổ với sản phẩm dầu mỏ này. Tới giai đoạn 1870-1880, xuất khẩu chiếm 50% sản lượng tiêu thụ dầu mỏ ở Mỹ. Đây là ngành có tính quốc tế hóa từ rất sớm ngay từ khi nó mới được hình thành.
Chỉ 1 bang Pennyslvania và 1 công ty là Standard Oil cung cấp dầu cho cả thế giới và họ rất tự tin với vị thế độc quyền này và không để ý lắm tới các khu vực khác nếu tìm thấy dầu. Và họ đã gặp sai lầm với nước Nga xa xôi. Nước Nga những năm 1860 bắt đầu quá trình công nghiệp hóa và ở khu vực xa xôi Baku từ lâu đã được cho là có dầu chảy ra và nhiều người biết tới điều đó. Dù được khai thác bằng tay từ sớm từ năm 1829 với 82 hố dầu nhưng sản lượng không đáng kể. Mãi tới năm 1870 việc độc quyền khai thác dầu bị bãi bỏ và các doanh nghiệp tư nhân được tự do cạnh tranh khai thác. Tới năm 1873 đã có hơn 20 nhà máy lọc dầu được thành lập ở đây.
Gia tộc Nobel nổi tiếng khi đó là người gốc Thụy Điển và nhập cư vào Nga năm 1863 và có 1 công ty sản xuất thủy lôi lớn cung cấp cho Nga nhưng sau đó phá sản. 2 người con của ông là Alfred Nobel thì phát minh ra thuốc nổ và xây dựng đế chế kinh doanh thuốc nổ rộng khắp châu Âu. Người con khác là Ludwig Nobel thì tái xây dựng đế chế vũ khí rộng khắc châu Âu. Người còn lại là Robert Nobel thì ở lại St. Petersburg và làm việc cho Ludwig và tại đây ông đã khởi đầu cho đế chế dầu mỏ của nhà Nobel ở Nga.
Năm 1873, ban đầu Robert tới Baku đề tìm gỗ óc chó làm báng súng trường theo đơn đặt hàng của chính phủ cho Ludwig là nhà sản xuất vũ khí lúc đó. Khi tới nơi ông thấy không khí khai thác dầu rất sôi động và đã sử dụng ngay số tiền 25k rúp để mua 1 nhà máy lọc dầu nhỏ. Sau đó Ludwig đã bổ sung thêm vốn cho người anh cả Robert và liên tục mở rộng nhà máy lọc dầu này thành nhà máy lớn nhất ở Baku. Ludwig có tài kinh doanh rất tài năng và đã rất chịu khó học hỏi mô hình kinh doanh dầu mỏ ở Mỹ của Rockefeller và nhanh chóng trở thành Ông vua dầu lửa của Baku.
Vấn đề vận chuyển dầu và gỗ để sản xuất thùng chứa dầu là các vấn đề lớn ảnh hưởng tới chi phí sản xuất ở khu vực này. Việc vận chuyển rất khó khăn và tốn kém mãi tới năm 1878 ông mới phát minh ra con tàu chở dầu trong các thùng dầu lớn là Zoroaster để giải quyết bài toán thiếu gỗ làm thùng và vận chuyển phải qua mấy giai đoạn. Thành tựu của Lugwid trở thành biểu tượng kinh doanh vĩ đại nhất thế kỷ 19 ở Nga. Năm 1874 sản lượng khai thác ở Nga mới 600k thùng/năm thì sau đó lên tới 10,8 triệu thùng/năm và bằng 1/3 sản lượng của Mỹ. Đầu thập niên 1880, ở Nga có gần 200 nhà máy lọc dầu, công ty nhà Nobel chiếm ½ sản lượng tại Nga và dầu Mỹ đã bị đánh bật hoàn toàn khỏi nước Nga. Hạn chế về địa lý và vận chuyển đã ngăn cản dầu Nga tràn ra thế giới suốt những năm này.
Trong lúc đó, 2 công ty Bunge và Palashkovsky đang xây dựng tuyến đường sắt nối Nga với châu Âu để mở đường cho việc chuyển dầu Nga sang các nước châu Âu khác. Năm 1877, giá dầu giảm mạnh đột ngột làm 2 công ty rơi vào tình trạng phá sản. Lúc đó gia đình Rothschild ở Pháp bỗng xuất hiện và cấp vốn cho dự án này và giúp nó hoàn thành vào năm 1883 bất chấp việc bài do thái lên cao ở Nga khi đó. Năm 1886, nhà Rothschild thành lập công ty Công ty dầu mỏ Caspi và Biển Đen và gia nhập ngành này ở Nga gọi tắt là “Bnito”. Công ty này xây dựng kho chứa khổng lồ ở Batum là ga cuối trên tuyến Baku-Batum và mở ra cuộc chiến gay gắt kéo dài 30 năm tìm kiếm thị trường cho dầu lửa Nga ra thế giới và công ty Bnito này cũng nhanh chóng trở thành công ty dầu mỏ lớn thứ 2 ở Nga sang công ty của anh em nhà Nobel.
Để đối phó với việc bị cạnh tranh dữ dội từ Nga, Standard Oil bắt đầu thực hiện ý tưởng mua lại công ty nhà Nobel để loại đối thủ này khỏi cuộc chơi. Dầu Baku có đặc điểm tự phun trào rất mạnh và người ta thu thập nó và cần phải tìm thị trường bán nó ngay vì không còn chỗ chứa. Sản lượng dầu mở của Nga tăng vọt lên 23 triệu thùng vào thập niên 1880 và bằng 2/3 sản lượng tại Mỹ. Con lũ dầu từ Nga thật sự đe dọa thị trường của Standard Oil trên toàn cầu đặc biệt tại châu Âu.
Năm 1888, nhà Rothschild thàn lập công ty nhập khẩu và phân phối dầu mỏ ở London và đã làm 2 đối thủ còn lại nhà Nobel và Standard Oil cũng phải thành lập 2 công ty con ở London để tực hiện việc thúc đẩy phân phối dầu mỏ ở châu Âu. Standard Oil dùng cách hạ thấp giá dầu, tung tin chất lượng dầu Nga kém,… nhưng đều bất thành. Thị phần dầu Mỹ giảm từ 78% còn 71%, trong khi thị phần dầu Nga từ 22% nhẩy lên 29% vào năm 1891. Năm 1888, Ludwig qua đời ở tuổi 57 khi cuộc cạnh tranh đang diễn ra vô cùng quyết liệt trên toàn cầu. E trai của ông Alfred thì buồn bã vì bị kết tội tạo ra vũ khí giết người là thuốc nổ để làm giầu đã để lại di chúc thành lập quỹ trao giải thưởng Nobel ngày nay.
Trong khi Standard Oil có thị trường Mỹ, nhà Nobel có thị trường Nga thì nhà Rothschild lại đang đau đầu vì tìm kiếm thị trường đầu ra khi sản lượng ở Baku ngày 1 lớn hơn. Họ đã hợp tác với 1 thương gia đang nổi lên là Marcus Samuel và họ đã tạo ra 1 cuộc đảo chính ngoạn mục trên thị trường dầu khí toàn cầu. Người cha của ông làm nghề buôn bán từ lâu và được gọi là “người buôn vỏ sò” với việc buôn bán đủ thứ ở khu Đông London. Marcus kém Rockefeller 14 tuổi và khi Rockefeller bắt đầu trỗi dậy và chiếm lĩnh thị trường dầu mỏ Mỹ nhanh chóng thì Marcus mới bắt đầu vào nghề vận tải biển. Nhờ kênh đào Suez mở năm 1869 mà quãng đường đi tới viễn đông đã giảm đi 4.000km, cũng như tàu hơi nước được chạy đại trà các tuyến quốc tế. Anh em nhà Samuel thì người anh công ty ở London và người em ở Nhật. Họ đã có đóng góp lớn vào quá trình công nghiệp hóa ở Nhật khi đó.
Năm 1891, Marcus Samuel bắt ta với Lane và nhà Rothschild để bắt đầu kế hoạch vận chuyển đầu từ Nga đi vùng viễn đông và các thị trường khác. Để đánh bại được Standard Oil, họ phải thực hiện việc vận chuyển và giá bán phải rẻ hơn ở mọi thị trường nhằm vô hiệu hóa chiến lược hạ giá của Standard Oil thường làm nhằm các đối thủ kiệt quệ và phải bán lại công ty. Samuel cùng các đối tác phải xây dựng hệ thống kho chứa ở nhiều nơi ở châu Á và hệ thống vận chuyển từ cảng vào các nơi trong đất liền. Xây dựng mạng lưới phân phối đồ sộ của mình với 1 hợp đồng độc quyền bán dầu ở nhà máy Bnito của nhà Rothschild trong 9 năm. Nhờ mối quan hệ tốt này mà Samuel đã giành được quyền đưa tàu đi qua kênh đào Suez và vượt trội chi phí hơn hẳn các tàu của Standard Oil phải đi vòng qua mũi Hảo Vọng. Tầu sau đó nhanh chóng chiếm lĩnh các kho ở Ấn Độ và toàn Viễn Đông làm tê liệt Standard Oil. Khó khăn trong việc thiếu thùng chứa cũng được giải quyết nhanh chóng với loại thùng thiếc mới được tạo ra. Sau cuộc đảo chính bất ngờ này, Samuel hạ thủy thêm 10 chiến tàu vận chuyển tới năm 1893 và 60 chiếc vào năm 1895.
Năm 1893, công ty Tank Xanh-đi-ca với anh em nhà Samuel, Fred Lane và các nha buôn vùng viễn đông đươc thành lập. Cuộc cạnh tranh giảm giá kéo dài làm các bên đều mệt mỏi và các nỗ lực để tái thiết ngành dầu khí liên tục diễn ra nhưng đều thất bại. Cố gắng bất thành trong cạnh tranh chi phí tới Singapore. Standard Oil tập trung tới 1 công ty tại khu vực viễn đông đang kinh doanh tốt lên là Công ty Royal Dutch ở đảo Sumatra – Indonesia ngày nay và đây là khu vực chế biến dầu lớn thứ 3 thế giới sau Mỹ và Nga. Công ty này bắt nguồn từ Zijker, 1 đốc công của công ty thuốc lá Đông Sumatra vào năm 1880 tình cờ phát hiện ra dầu mỏ. Ông thuê lại đất và năm 1885 bắt dầu khoan mũi khoan dầu đầu tiên. Công ty Royal Dutch được thành lập vào năm 1890 với nguồn tiền tài trợ từ Hà Lan và vua Hà Lan và mang tên hoàng gia. Năm 1892 công ty này bắt đầu khoan ra các dòng dầu dầu tiên và đưa vào nhà máy lọc dầu với sản lượng khoảng 20k thùng/ngày. Nhưng công ty rất khát vốn do nguồn vốn trước đây đã hết và công ty vẫn đang thua lỗ. Sau 2 năm liên tục cố gắng, sản lượng khai thác của công ty đã tăng gấp 6 lần và đã làm ăn có lãi. Nhờ bảo hộ từ Hà Lan, công ty tiếp tục tăng trưởng thần tốc gấp 5 lần từ năm 1895 tới 1897. Kinh doanh tốt, kin tiếng là cách mà Royal Dutch đã làm và trở thành đối thủ cạnh tranh rất mạnh. Standard Oil muốn khuất phục công ty này nhưng bất thành.
- Thế kỷ mới
Standard Oil được gọi là “ngôi nhà cổ” và hoàn toàn không còn ai thách thức vị trí của nó ở nước Mỹ. Trong khi trên thị trường thế giới thì xuất hiện 1 số kẻ thách thức lớn. Trong nước Mỹ, Edison phát minh ra bóng đèn điện năm 1877, việc đốt dầu hỏa gây bụi, nóng, tốn ô xy, và nguy cơ cháy nổ lớn. Bóng đèn điện sau 1 thời gian dài bắt đầu thâm nhập sâu vào thị trường chiếu sáng. Năm 1882 nó được dùng ở văn phòng J.P. Morgan, năm 1885 có 250k bóng đèn, tới năm 1902 đã lên tới 18 triệu bóng đèn. Công nghệ điện cũng nhanh chóng được lan sang châu Âu và tới London đầu tiên từ năm 1882 và tới những năm 1900 đã có 65 nhà máy điện ở London. Sự bùng nổ của bóng đèn điện thật sự bắt đầu đe dọa và thu hẹp dần thị trường của dầu hỏa.
May mắn thay, những năm 1890 sự ra đời của thị trường oto bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Các loại xe oto từ chạy bằng điện, hơi nước, và xăng được sử dụng giới hạn 1 số nơi và tới năm 1905 thì xe chạy bằng xăng đã đánh bại các đối thủ khác với thành công của Henry Ford với hãng xe Ford. Số lượng xe tại Mỹ tăng nhanh chóng từ mức 8k xe năm 1902 lên 902k xe vào năm 1912 và chúng hoàn toàn chạy bằng xăng mà Standard Oil cung cấp chủ yếu.
Ban dầu Xăng là sản phẩm phụ của việc lọc dầu và không có giá trị gì và thường làm dung môi hoặc bị đổ bỏ hay đốt bỏ hoặc giá bán khoảng 2 xu/gallon. Nhờ oto mà sản phẩm này bỗng chốc có thị trường và đem lại giá trị lớn thứ 2 cho dầu mỏ chỉ sau vai trò là dầu đốt sáng. Nhưng sản lượng dầu mỏ ở Pennyslvania thì đang giảm, dầu mỏ Lima thì sản lượng thấp và đâu là nguồn dầu mỏ mới cho người tiêu dùng Mỹ là vấn đề lớn với ngành khi đó.
1 số công ty cũng cố gắng thoát khỏi kìm kẹp của Standard Oil ở Mỹ như Pure Oil và đã tương đối thành công hoạt động độc lập. Các cuộc tìm kiếm dầu thay thế mỏ Pennyslvania đang cạn kiệt vẫn diễn ra không ngừng và những năm 1890 họ đã tìm thấy dầu mở tại California và bắt đầu khai thác mạnh khu vực này. Sản lượng từ 470k thùng năm 1893 đã lên 24 triệu thùng vào năm 1903 và tới 1910 lên tới 73 triệu thùng và chiếm tới 22% sản lượng khai thác toàn thế giới khi đó và công ty thực hiện điều này là Union Oil kẻ đã thách thức vị thế của Standard Oil ở Mỹ.
Các nỗ lực tìm kiếm dầu mỏ không ngừng tiếp tục và khu vực Texas là điểm đến tiếp theo khi người đàn ông Higgins bị ám ảnh vào việc có dầu ở Texas đã liên tục tìm kiếm từ năm 1892 với liên tục thất bại cho tới năm 1900 mới bắt đầu tiến triển với công nghệ khoan ngang. Và bất ngờ họ khoan trúng mỏ dầu cực lớn và dầu tự phun trào mạnh mẽ theo mũi khoan lên mặt đất. Giếng Lucas 1 này đem lại sản lượng 75k thùng/ngày là giếng lớn nhất được khám phá ở Texas khi đó. Ngay lập tức Texas đã bùng nổ người đến khoan dầu ở khắp mọi nơi. Từ 1 nơi heo hút chỉ trong 1 cuối tuần có tới 15k người đổ dồn về đây và dân số từ 10k người nhẩy vọt lên 60k người, 1 acre đất trước đây giá 10$ nhẩy lên 900k$. Chỉ trong thời gian ngắn trên đồi Splindletop có tới 214 giếng dầu được khoan và dầu chẩy ra ồ ạt từ đó làm giá giảm mạnh còn 3 xu/thùng vào năm 1901 do sự dưa thừa quá múc.
James Guffey là người sở hữu lớn nhất các giếng dầu tại đây đã từ chối hợp tác với Standard Oil mà chọn hợp tác với Shell của Marcus Samuel. Dầu Texas không tiện để thắp sáng nhưng lại rất tiện để là nhiên liệu đốt cho tàu thủy. Thỏa thuận được ký kết vào năm 1901 với việc Shell sẽ mua ít nhất 50% sản lượng dầu của Guffey trong vòng 20 năm với giá đảm bảo ít nhất 25 xu/thùng. Sau Texas là Oklahoma rồi Lousiana cũng có sản lượng nhiều không kém được tìm thấy và khai thác. Loại dầu Texas rẻ và nhiều đã làm các ngành sử dụng máy móc từ bỏ hoàn toàn than đá để đổi sang máy chạy bằng dầu. Sản lượng đột nhiên suy giảm mạnh từ năm 1903 làm Guft Oil suy yếu nhanh chóng. Công ty này sau đó tái tổ chức lại và chuyên cho nhà Mellon và công ty này sau đó đã phát triển vượt trội thành người khổng lồ trong ngành dầu khí toàn cầu.
Bên cạnh đó, nhà Pew sau nhiều năm kinh doanh khí đốt đã bán lại mảng này cho Standard Oil và sau đó năm 1901 mua lại công ty Sun Oil và thu gom dầu Texas với các kho chứa lớn và thành 1 công ty kinh doanh lớn tại khu vực bờ vịnh Mexico. Đối thủ tiếp theo là Texas Fuel được thành lập năm 1901 và cũng gia nhập công ty khai thác dầu ở đồi Spindletop. Công ty này sau đó đổi tên thành Texaco vào năm 1907, và sau đó xăng là sản phẩm kinh doanh chủ lực của công ty từ năm 1913. Mặc dù sản lượng và doanh số tuyệt đối tiên tục tăng mạnh, nhưng thị phần của Standard Oil đã liên tục suy giảm từ mức 90% của năm 1880 về còn ở mức 60-65% vào năm 1911 và bản thân Standard Oil cũng thấy quyền lực của mình dần trôi đi mất.
- Sát thủ giết rồng
Standard Oil trở thành tâm điểm kiện tục từ bé và làn sóng này càng trở lên cao trào vào những năm 1900 đặc biệt sau khi Rockefeller chính thức nghỉ hưu khi 60 tuổi vào năm 1897. Cuộc trả thù mạnh mẽ nhất của vùng đất dầu là đợt công kích điều tra của nhà báo Tarbell nhắm vào Standard Oil và Rockefeller vô cùng công phu. Chuỗi bài báo điều tra công kích bắt đầu từ năm 1902 và kéo dài 24 tháng rồi được xuất bản thành sách vào năm 1904.
Khi tổng thống Roosevelt lên nắm quyền đã thực thi chiến dịch cứng rắn chống lại các tờ-rớt xấu. Ông đã thực hiện ít nhất 45 vụ kiện chống độc quyền với các tờ-rớt này và tổ chức đứng đầu danh sách xử lý là Standard Oil. Vụ kiện bắt đầu từ năm 1906 và kéo dài rất nhiều năm với các vòng thẩm vấn, xét xử, thu thập hàng núi hồ sơ. Tới năm 1909, tòa án liên bang đã xét xử và ra lệnh giải thể Standard Oil. Tới tháng 7/1911, công ty mới công bố kế hoạch giải thể của mình vì nó quá lớn và các lĩnh vực nó chiếm lĩnh cũng hầu hết chi phối. Công ty bị chia nhỏ thành hơn 30 pháp nhân trong đó lớn nhất là Standard Oil ở New Jersey là công ty mẹ ban đầu với hơn 50% toàn bộ giá trị ròng của tờ-rớt, và công ty này sau này trở thành Exxon. Công ty lớn thứ 2 là Standard Oil ở New York, chiếm 9% tổng giá trị ròng và cuối cùng trở thành Mobil. Standard Oil ở California trở thành Chevron, Standard Oil ở Ohio trở thành Sohio và sau đó là bộ phận ở Mỹ của BP. Standard Oil ở Indiana thì trở thành Amoco, Continental Oil trở thành Cocono và Atlantic trở thành 1 bộ phận của ARCO và sau đó là Sun.
Sau giải thể, rất nhiều nhà quản ly trẻ lên ngôi và được giải phóng khỏi sự kiểm soát của trụ sở 26 Broadway như trước đây. Công nghệ cũng được giải phóng khi các công ty đã tích cực tái đầu tư và cạnh tranh với nhau. Ví dụ sản phẩm cracking nhiệt đã giúp Standard Oil Indiana đi đầu về xăng cho oto trong thời kỷ bùng nổ ô tô. Sau khi giải thể, giá cổ phiếu của các công ty con này tăng chóng mặt lên gấp 2-3 lần so với giá trước đó và đưa tài sản Rockefeller lên tới 900 triệu USD.
- Những cuộc chiến dầu mỏ: Sự trỗi dậy của Royal Dutch và Sự suy vong của đế chế Nga
Marcus Samuel với hệ thống tàu chở đầu và các kho bãi khắp vùng châu Á là nhà cung cấp lớn thứ 2 thế giới nhưng cũng gặp bài toán hóc búa khi hợp đồng độc quyền dầu Nga với nhà Rothschild sẽ hết hạn vào năm 1900 và ông cần lượng dầu ổn định để vận hành đế chế của mình. Samuel đã thuê 1 khu vực được cho là có dầu ở Đog Borneo ở Indonesia và thuê kỹ sư người Anh Abrahams tiến hành khoan thăm dò. Các loại nhiên liệu dầu đã được dùng ở nhiều nơi nhưng Samuel vẫn chưa thành công với hạm đội Hải quân Hoàng gia Anh và dù tiếp tục được hợp đồng với nhà Rothschild nhưng vị thế của Shell vẫn rất bấp bênh.
Trong khi đó, ở Sumatra thì Royal Dutch đang cạnh tranh quyết liệt với các đối thủ khác bằng cách tăng sản lượng khai thác nhanh chóng, cùng với đầu tư mạnh vào kho bãi và tàu chở dầu. Nhưng vào năm 1898, sản lượng khai thác của hãng bị sụt giảm rất mạnh và giá cổ phiếu rơi tự do ở sàn chứng khoán Amsterdam. Họ cố gắng trong tuyệt vọng khoan hơn 110 mũi ở Sumatra để tìm các giếng dầu mới nhưng đều thất bại nhưng vẫn nỗ lực không ngừng. Năm 1899, họ khoan thăm dò tai khu vực công quốc Perlak. Trong lúc khó khăn thì TGĐ của Royal Dutch qua đời và chàng thanh niên 34 tuổi Deterding, 1 chuyên gia ngân hàng với tài năng về các con số đảm nhiệm vị trí Quyền giám đốc Công ty và tạo ra bước xoay chuyển lớn đưa công ty khỏi khó khăn.
2 công yty Royal Dutch và Shell khó đó tổng cộng lại chiếm hơn 50% lượng dầu lửa xuất khẩu của Nga và Viễn Đông. Họ đang lên kế hoạch sáp nhập với nhau và cả 2 đều được lãnh đạo bởi 2 nhà quản lý vô cùng tài năng. Lúc đó Samuel của Shell cũng đang đàm phán với Standard Oil về các thỏa thuận. Tới năm 1901, cuối cùng Deterding của Royal Dutch có 1 số nhượng bộ trọng yếu và Shell đã đồng ý liên minh với họ. Samuel thành chủ tịch công ty, còn Deterding là TGĐ điều hành và chỉ có 1 người điều hành là Deterding ở công ty hợp nhất: Công ty vận tải Shell & Dầu lửa Royal Dutch. Sau đó nhà Rothschild với nhà máy ở Nga cũng gia nhập công ty và sáp nhập vào công ty này vào năm 1902 với lá cờ Anh – Hà Lan, và sau đó là công ty chuyển trự sở tới London để xây dựng nó thành công ty toàn cầu thật sự. Samuel thì bị sao nhãng bởi công việc làm thị trường thành phố London và quyền lực cơ bản về sự điều hành của Deterding cả. Tháng 7/1903 công ty châu Á mới sau hợp nhất chính thức hoạt động và Deterding dự kiến sẽ nắm chức Ceo 20 năm. Hoạt động của công ty Shell vẫn tiếp tục trượt dốc và tới năm 1907 thì Shell sáp nhập hoàn toàn và thành 1 pháp nhân mới Royal Dutch Shell với Royal Dutch chiếm 60% và Shell chiếm 40%. Mặc dù ban đầu Samuel coi đây là thất bại với Shell nhưng sau đó ông nhanh chóng nhận ra công ty mới hoạt động tốt hơn rất nhiều so với 1 công ty Shell độc lập và đem lại giá trị cho cổ đông rất lớn.
Tại Nga, sự cai trị của Sa hoàng Niconas II rất hà khắc với người dân của mình đặc biệt người dân không phai gốc Nga. Điều kiện sống tồn tệ ở đây đã lam dấy lên nỗi bất mãn rất lớn và tạo ra ngồi nổ cách mạng ở Nga âm ỉ đợi ngày bùng phát. Năm 1901-1902, Stalin là nhà các mạng và thủ lĩnh cầm đầu các cuộc biểu tình ở khu vực dầu mỏ Baku. Stalin sau đó bị bắt tới 8 lần và trốn thoát rồi lại bị bắt. Để đánh lạc hướng dư luận, Sa hoàng tiến hành cuộc chiến với Nhật năm 1904 nhưng họ đã chọn nhầm đối thủ và thất bại nặng nề. Thất bại này càng làm cách mạng ở trong lòng nước Nga bùng nổ với cuộc tổng biểu tình lớn vào năm 1905 mà sau đó được coi là cuộc diễn tập trước cách mạng chính thức. Sự bùng nổ lộn xộn này làm khu vực sản xuất dầu mỏ của Nga trở nên rất bất ổn. Năm 1912, gia đình Rothschild bán toàn bộ hoạt động kinh doanh dầu mỏ ở Nga cho tập đoàn Royal Dutch Shell và rời khỏi mớ hỗn loạn ở Nga. Tập đoàn này cũng đảy mạnh khai thác dầu mỏ ở Rumani. Tới đây thì họ đã có danh mục lớn với 53% sản lượng ở Đông Ấn, 17% ở Rumani và 29% từ Nga. Sản lượng ở Nga thì trì trệ do tình trạng trong nước và liên tục giảm từ mức 31% của năm 1904 còn 9% sản lượng toàn cầu vào năm 1913.
- Những trò giải trí ở Ba Tư
Ở Ba Tư (Iran ngày nay), dầu mỏ đã được phát hiện từ rất lâu và cũng được thử nghiệm nhưng sản lượng rất thấp. Nước Ba Tư là cửa ngõ giao thông lớn từ Á – Âu và từng bị Alexander Đại Đế chính phục rồi tới Thành Cát Tư Hãn. Sau cùng họ bị chia nhỏ bởi các Shah Qajar nhưng Anh vẫn muốn giữ nó là vùng đệm cho Ấn Độ trong khi Nga muốn mở rộng chiếm lĩnh hết khu vực Trung Á và kéo dài tới Ba Tư. Năm 1900, Tướng Kitabgi đã tới Paris và gặp triệu phú Anh để mời Anh đến thuê mỏ dầu ở Ba Tư nhằm làm giảm áp lực bị Nga chiếm đóng. Họ muốn 2 cường quốc này đấu đá lẫn nhau và giữ được độc lập cho Ba Tư. Cuối cùng hợp đồng được ký kết với giá trị 20k bảng Anh, và 20k bảng cổ phần cùng 16% lợi nhuận hàng năm cho vua Ba Tư để cho nhà tư bản Anh là D’Arcy được khai thác dầu mỏ ở 2/3 lãnh thổ Ba Tư.
Việc khai thác bắt đầu từ tháng 4/1902 và rất khó khăn vì sự thù địch của dân địa phương và thiếu thốn nhân lực. Tới năm 1903, chi tiêu cho khoan đã tiêu tốn vượt quá dự kiến của D’ Arcy rất nhiều. Ông ban đầu ước tính chỉ cần 10k$ để khoan thì giờ đây đã lên tới gần 200k$. Tới tháng 2/1904, ông bắt đầu tìm thấy dầu và liên tục tìm kiếm thêm nhà đầu tư mới vì ông đã kiệt quệ phải vay mượn thêm rất nhiều để tiếp tục khoan dầu. Cuối cùng hải quân Anh cũng đồng ý bảo vệ vụ làm ăn này để đảm bảo quyền lợi của Anh ở Ba Tư với 1 số giúp đỡ từ việc tìm kiếm các nhà đầu tư cho D’ Arcy. Năm 1906, vua Ba Tư bị hạ bệ và chính phủ mới được thành lâp nhưng không có mấy thực quyền. Việc thăm dò và khai thác dầu khí rất khó khăn ở Ba Tư vì các rắc rối tôn giáo và chính trị.
Việc khoan dầu ở đây rất bế tắc và tốn kém, tới năm 1908 họ đã gần như muốn từ bỏ việc tìm kiếm dầu ở Ba Tư. Họ cố khoan nốt 2 giếng ở Masjid-i-Suleiman với độ sâu không quá 190m là nỗ lực cuối cùng trước khi rời đi. Cuối cùng họ đã thành công khoan được giếng có dầu phun lên mạnh mẽ cao hơn tới 15m so với đỉnh của giàn khoan. Sau đó là công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư nơi sở hữu các mỏ dầu được tìm thấy ở Ba Tư được thành lập vào 19/4/1909 và chật nính người tranh nhau mua cổ phần. Công ty này nhanh chóng phát triển và tới 1910 đã có 2,5k công nhân. 1 nhà máy lọc dầu cũng được xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 1912 nhưng nó chạy rất tệ hại. Năm 1912, họ thỏa thuận với công ty Royal Dutch Shell trong việc bán dầu mỏ nhưng họ vẫn kinh doanh rất chật vật và dần cạn tiền vì tình trạng phức tạp ở Ba Tư.
- Cú nhảy định mệnh
Hải quân Anh bắt đầu chạy thử động cơ bằng dầu của Shell nhưng lần chạy đầu tiên bất thành năm 1910. Tình cờ D’ Arcy gặp mặt thứ trưởng hải quân Anh là Fisher và họ là những người cuồng dầu mỏ và đã nhanh chóng thân thiết nhau. Nước Anh và Đức khi đó đang chạy đua về hải quân với nhau và Đức đang muốn khẳng định vai trò chính trị lớn trên toàn cầu của mình. Fisher theo đuổi việc hiện đại hóa hải quân và tăng tốc đầu tư mạnh vào hải quân Hoàng gia Anh.
Trong khi đó, Winston Churchill là con của công tước xứ Marlborough tài hoa nhưng tính khí thất thường đam mê chính trị lại phản đối điều này. Khi là bộ trưởng nội vụ năm 1910, hành động khiêu khích của hải quân Đức tiến vào cảng Maroc đã làm Churchill thay đổi chính sách hoàn toàn và ủng hộ việc hiện đại hóa mạnh mẽ hải quân Anh. Chính Fisher đã thúc đẩy Churchill trên cương vị mới là bộ trưởng hải quân chuyển đổi từ dùng than đá ở Scotland sang dùng dầu mỏ làm nhiên liệu đốt cho các tàu. Động cơ đốt trong cũng mới ra đời và đang tăng trưởng chóng mặt và thay thế động cơ hơi nước ở khắp mọi nơi.
Năm 1912, Churchill bắt đầu cho 5 tàu chiến mới chạy bằng dầu và nó nhanh chóng khẳng định được ưu thế vượt trội so với tàu chạy bằng than và chương trình mở rộng ra tới năm 1914 thì hầu hết các tàu chiến đóng mới và đang dở dang cũng đều được cải tạo sang động cơ chạy bằng dầu. Ở Anh lại không có mấy dầu và họ cần giải quyết bài toán dầu lấy từ đâu để chạy các tàu chiến. Họ có 2 lựa chọn là Shell và công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư. Churchill cũng như nước Anh cũng rất tích cực muốn bảo vệ nguồn cung dầu mỏ nằm trong tầm kiểm soát của Anh và họ đã ủng hộ công ty dầu lửa Anh – Ba Tư. Cuối cùng sau rất nhiều sự vận động chính phủ Anh cũng đầu tư 2,2 triệu Bảng vào công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư và kiểm soát 51% cổ phần công ty này giúp công ty thoát khỏi cảnh phá sản và họ cung cấp dầu cho bộ hải quân Anh trong 20 năm. Và họ cũng ký 1 hợp đồng sử dụng dầu của Shell khi cần thiết. Khi hợp đồng vừa được ký kết thì chiến tranh thế giới I bùng nổ khi Đức tuyên chiến với Nga và sau đó Anh tuyên chiến với Đức.
- Phần II – Cuộc vật lộn toàn cầu
- Huyết mạch của chiến thắng: Chiến tranh thế giới I
Chiến tranh thế giới I ban đầu người ta nghĩ chỉ diễn ra trong vài tuần hoặc vài tháng. Nhưng sự thật là nó kéo dài nhiều năm và làm kiệt quệ sức mạnh rất nhiều nước và trong đó nước Anh đã đánh mất vị thế siêu cường số 1 thế giới sau cuộc chiến này và không bao giờ quay trở lại vị thế trước đây đã có nữa. Còn các nước thua nhận như đế quốc Áo – Hung thì sụp đổ, Nga thì lún sâu vào khủng hoảng, Thổ Nhĩ Kỳ (đế quốc Ottoman) cũng sụp đổ sau đó. Toàn bộ các phát minh, sáng kiến, đổi mới vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đều được sử dụng vào phục vụ cho chiến tranh. Lúc đó ngựa vẫn là phương tiện đi lại chính trong chiến tranh nhưng bị hạn chế trong việc cung cấp thức ăn cho chúng. Các bên đã tích cực đưa các phương tiện cơ giới chạy bằng dầu vào nửa cuối cuộc chiến và sau đó thay thế hoàn toàn ngựa bởi các động cơ đốt trong và đặc biệt là việc thiết kế ra thiết bị quân sự gọi là “xe tăng” và được sử dụng lần đầu trong các chiến dịch năm 1916 bởi quân đội Anh. Lợi thế ban đầu của quân Đức là các tuyến tàu hỏa dầy đặc vận chuyển quân đã bị các đội quân xe tăng và các ôtô tải vận chuyển quân và hàng hóa linh hoạt đánh bại hoàn toàn. Ở cuối cuộc chiến, có những trận liên quan sử dụng 456 chiếc xe tăng và chọc thủng hoàn toàn phòng tuyến của Đức. Họ có tới 56k xe tải, 23k xe oto, 34k xe moto và xe máy, và 23k xe oto từ Mỹ mang sang Pháp.
Trong lĩnh vực hải quân và không quân, anh em nhà Wrigh đã bay thử nghiệm máy bay xuyên Đại Tây Dương lần đầu năm 1911-1912 và sau đó nhanh chóng phát triển và những chiến máy bay chiến đầu lần đầu được sử dụng năm 1914 và tới tháng 1/1915 đã có 250 chiếc máy bay chiến đầu được đưa vào sử dụng nhưng chưa phải át chủ bài thật sự mà chủ yếu trong lĩnh vực do thám và quan sát. Trnog thời gian chiến tranh, Anh đã sản xuất tới 55k máy bay, Pháp 68k, Ý 20k và ĐỨc 48k, Mỹ 15k máy bay. Hải quân Anh thì đã chuyển đổi sang dùng dầu hết nên sự cơ động, thuận tiện, và phạm vi hoạt động lớn đè bẹp hải quân Đức vẫn chủ yếu dùng than đá và rất khó tiếp nhiên liệu nên chỉ hoạt động quanh nước Đức.
Trong chiến tranh thế giới I, công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư vào năm 1914 chỉ chiếm 1% sản lượng dầu thế giới nhưng tiềm năng khu vực là rất lớn và quân Ottoman đã tấn công dữ dội khu vực này khi họ về phe đồng minh với Đức. Quân Anh sau đó đã phải chiếm đóng của khu vực để bảo vệ nguồn cung dầu mỏ ở đây. Tới năm 1918 thì họ đã sản xuất được 18k thùng/ngày từ mức 1,6k thùng/ngày của năm 1912. Công ty Anh – Ba Tư đã đáp ứng được 1/5 nhu cầu dầu của hải quân Anh. Họ đã mua lại công ty dầu mỏ British Petroleum từ chính phủ Anh khi chính phủ Anh tịch thu công ty này từ người Đức. Công ty này chuyên phân phối dầu Rumani ở Anh và họ mở rộng hoạt động kinh doanh sang đầy đủ chuỗi cung ứng dầu khi tới mọi nơi có nhu cầu, rồi họ mở rộng đội tầu vận tài dầu mỏ và đa dạng hóa tài sản từ 80% ở Ba Tư sang chỉ còn 50%. Công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư liên tục công kích công ty Royal Dutch Shell về việc yêu nước của họ nhằm giành lợi thế cho mình. Các chiến dịch ngăn chặn nguồn cùng bằng tầu ngầm đánh chìm các con tầu trên các tuyến vận tải tới Anh của Đức đã làm dấy lên cuộc khủng hoảng dầu mỏ và rất nhiều tầu chở dầu của cả Standard Oil lẫn Shell bị bắn chìm. Năm 1914, Mỹ sản xuất 266 triệu thùng dầu chiếm 65% sản lượng thế giới, và tới năm 1917 là 335 triệu thùng chiếm 67%. Xuất khẩu dầu mỏ chiếm ¼ tổng sản lượng của Mỹ và chủ yếu cho các nước châu Âu và chiếm 80% lượng nhập khẩu khi nguồn dầu từ Nga bị cắt đứt do chiến tranh và cách mạng ở Nga. Điều này cũng làm cho nguồn cung ở Mỹ suy giảm và họ cũng gặp rắc rối vào năm 1918 khi cầu vượt quá cung khi nhu cầu chiến tranh khổng lồ và số lượng xe oto ở Mỹ tăng gấp 2 lần chỉ trong 2 năm từ 1916-1918. Đức thì bị phong tỏa hoàn toàn và họ chỉ có 1 nguồn cung dầu duy nhất là Rumani và gặp tình trạng thiếu hụt nhiên liệu trầm trọng. Phe đồng minh đã phá hủy các mỏ dầu và nhà máy lọc dầu ở Rumani để ngăn chặn Đức và cũng làm hủy hoại ngành dầu mỏ Rumani. Nỗ lực này đã phá hủy 70 nhà máy lọc dầu và 800k tấn dầu thô và 5 tháng sau người Đức mới khôi phục được 1 phần và sản lượng khai thác của Rumani chỉ còn 1/3 so với trước chiến tranh. Họ nhắm tới Baku của Nga nhưng bất thành và cơ bản cỗ máy chiến tranh Đức không thể vận hành được trơn tru và phải đầu hàng và chiến tranh kết thúc vào tháng 11/1918.
- Mở cách cửa Trung Đông: Công ty Dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ
Sau thế chiến, các cuộc tranh giành đất đai của các đế quốc thực dân vẫn diễn ra quyết liệt khi phân chia lại lãnh thổ. Anh và Pháp tranh giành nhau các khu vực ở Trung Đông đặc biệt khu vực Mesopotamia, các khu vực Mosul, phía tây bắc Baghdad (Iraq ngày nay). Tại khu vực này lúc đó đế chế Ottoman đang kiêm soát, năm 1912 đã có công ty dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập và hoạt động với vai trò chủ chốt của Gulbenkia, 1 người Armenia có ông bố là chủ ngân hàng và thương gia nhập khẩu dầu mỏ lớn sống ở Constantinople, Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Gulbenkia là 1 chuyên gia dầu mỏ từ sớm và tham gia kinh doanh ở khu vực Baku, sau đó ông sang Anh và đại diện cho phân phối dầu lửa của Nga và quen biết với Samuel và Deterding của Royal Dutch Shell và tham gia sâu vào ngành dầu mỏ thế giới.
Năm 1917, Anh chiếm đóng khu vực Mesopatamia và rất nhiều vùng đất nằm dưới quyền kiểm soát của đế chế Ottoman đã tuyên bố độc lập tách ra khỏi đế chế. Anh và Pháp tranh cãi với nhau rất căng thẳng về quyền kiểm soát khu vực và cuối cùng thống nhất Pháp sẽ có 25% dầu mỏ ở Mesopotamia còn lại là Anh kiểm soát. Họ thống nhất vẫn dùng công ty dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ để khai thác dầu ở đây. Trong khi đó Royal Dutch Shell thì đang thúc đẩy mạnh mẽ việc hợp nhất công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư nhưng dư luận trong nước rất phản đối các tập đoàn độc quyền dầu mỏ và bản thân nhân viên ở công ty Anh – Ba Tư cũng rất phản đối việc hợp nhất này.
Tại Mỹ, có nhiều ngày thiếu nhiên liệu và nỗi lo về sụt giảm sản lượng và cầu vượt quá xa cung đã thúc đẩy họ nhẩy vào các khu vực khác để gia tăng sản lượng và khu vực Trung Đông là nơi trọng điểm của Mỹ tiếp theo. Mỹ cương quyết yêu cầu mở cửa cho các công ty dầu mỏ Mỹ vào khu vực nhưng liên minh Anh – Pháp thì đóng chặt mọi cánh cửa. Cuối cùng, năm 1921 Công ty Standard Oil ở Jersey bắt đầu tiếp cận được nguồn dầu mỏ ở Mesopotamia, nhưng họ đã phải trải qua các cuộc đàm phán kéo dài để có thể thực sự thâm nhập thị trường này và đối tượng đàm phán là công ty dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ, công ty đang đại diện khai thác dầu ở khu vực này.
Tại khu vực này, Anh nhường lại vùng Syria hiện nay cho Pháp quản lý và lập ra đất nước Syria. Khi đó, người Anh hủng họ Hussein, nhà lãnh tụ hồi giáo Mecca nổi dậy từ năm 1916 và giành độc lập, thành lập ra nước Iraq từ 1 phần lãnh thổ của đế quốc Ottoman và dưới sự “ủy trị” của Anh. Người con của Hussein là Faisal được chọn làm vua của Iraq và thủ đô ở Baghdad vào tháng 8/1921. Người Anh cần 1 chính thủ mới để ký lại thỏa thuận dầu mỏ đã ký năm 1914 của công ty dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ và chính phủ mới này là người đối tượng được chọn. Các cuộc săn tìm dầu quy mô lớn được tổ chức ở Iraq suốt các năm nay và tới 1925 nguồn cung dầu tại dây được hứa hẹn vô cùng lớn. Năm 1927 họ bắt đầu khoan khai thác quy mô lớn và các mỏ dầu lớn được khai thác và sản lượng tới 95k thùng/ngày tại 1 mỏ ở Babaa Gurgur. Năm 1928, các bên mới thống nhất được tỷ lệ tại công ty dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ là chủ sở hữu các mỏ dầu ở Iraq với tỷ lệ Royal Dutch Shell, công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư nắm 23,75%, người Pháp nắm 23,75%, công ty Phát triển Cận Đông của Mỹ tương tự 23,75% và Gulbenkia 5%.
- Từ thiếu hụt đến dư thừa: Thời đại xăng dầu
Nước Mỹ những năm 1920 bùng nổ phương tiện giao thông cá nhân oto cả về quãng đường đi lại bình quân tăng gấp 2 cũng như số lượng xe đăng ký vượt 23 triệu xe vào năm 1920 làm bùng nổ nhu cầu sử dụng xăng dầu. Tới năm 1929, 78% xe oto trên thế giới được sản xuất ở Mỹ, tỷ lệ oto trên đầu người ở mỹ là 1/5. Năm 1919, tổng cầu về dầu ở Mỹ là 1,03 triệu thùng/ngày và tới năm 1929 lên 2,58 triệu thùng/ngày. Trong đó mặt hàng xăng tăng 4 lần. Các trạm bán xăng dầu cũng bùng nổ khi năm 1920 có 100k trạm xăng, tới 1929 lên hơn 300k trạm và chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Các công ty dầu mỏ xây dựng hàng loạt các thương hiệu bán lẻ xăng tới người tiêu dùng. Lo ngại nguồn cung khan hiếm cũng kéo giá dầu thô tăng từ mức 1,2$/thùng năm 1916 lên 3,36$/thùng vào năm 1920. Các công nghệ khai thác, thăm dò địa chất cũng được phát triển mạnh mẽ để tìm kiếm nguồn cung mới nhằm giải tỏa nỗi lo thiếu hụt dầu.
Năm 1926, các mỏ dầu lớn ở bang Oklahoma được tìm thấy và nạn khai thác vô tại vạ lại bùng phát ở Mỹ và đi kèm là giá dầu lại sụt giảm nhanh chóng. Và công nghệ cũng thay đổi nhanh chóng khi 1 thùng dầu sau khi được cracking đem lại số xăng gấp 2 lần thùng dầu thô trước đó, và xăng sau cracking lại chạy tốt hơn nhiều khi chưa được cracking do chỉ số octan cao hơn. Lượng cung lớn dồi dào, cracking tạo ra sản lượng hiệu quả nên dù oto tăng chóng mặt nhưng dầu mỏ lại trở nên dư thừa ở Mỹ và giá liên tục giảm.
Tại Mỹ, Standard Oil của New Jersey cũng mua lại cổ phần của Humble để sở hữu các mỏ dầu lớn ở Texas. Các công ty tách ra từ Standard Oil cũng liên tục tiến hành thu mua các công ty đối thủ để mở rộng kinh doanh, Công ty Phillip cũng nhanh chóng xây dựng hệ thống phân phối xang dầu với hơn 6,7k trạm xăng ở 12 bang. 2 công ty tích cực nhất là Texas và Shell với hoạt động ở cả 48 bang của Mỹ.
- Đấu tranh cho phương thức sản xuất mới
Sau chiến tranh, lĩnh vực dầu khí chủ yếu gồm mối quan hệ giữa người muốn có dầu, người có dầu, và dầu đáng giá bao nhiêu. Và mối quan hệ sung đột giữa các công ty dầu mỏ và lợi ích quốc gia. Việc thăm dò khai thác dầu khí ngoài nước Mỹ lúc đó chủ yếu tập trung ở Mexico với 2 công ty chính là Pan American Petroleum của Doheny và Mexican Eagle của Pearson và bắt đầu vào đầu thế kỷ 20.
Pearson là nhà thầu xây dựng nổi tiếng nhất thế kỷ 19 với các dự án lớn hùng vĩ bậc nhất thế giới như các con hầm vượt sông ở Anh, thời báo Financial Times, Economist, ngân hàng đầu tư Lazard ở London,… và năm 1901 ông bắt đầu Mexican Eagle khi người dân ở đây đam mê dầu và các vùng đất dầu thấm ra đất. Công ty sau đó chật vật tìm kiếm dầu tới tận năm 1908 mà không thu được thành công đáng kể nào. Cuối cùng năm 1909, ông nhận ra mình có kiến thức dầu khí nông cạn nên đã xa thải đội ngũ người Anh và thuê người Mỹ làm cố vấn và khoan thăm dò khai thác. Năm 1910, thành công đã tới với mỏ Llano 4 đem về 110k thùng/ngày và được coi là giếng lớn nhất Mexico lúc đó. Thành công này đã làm cả nước Mexico trấn đọng và cơn lũ khai thác dầu mỏ bùng nổ ở đây với các giếng dầu từ 70k-100k thùng/ngày ở khắp nơi. Tới đầu những năm 1920 thì Pearson bán lại công ty co Shell và rời Mexico.
Mexico sau đó nhanh chóng thành 1 lực lượng chủ yếu trên thị trường dầu mỏ thế giới. Tới năm 1920, Mexico cung cấp 20% nhu cầu dầu mỏ trong nước ở Mỹ và trở thành nhà sản xuất dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới với sản lượng 193 triệu thùng/năm vào năm 1921. Nhưng chính trị ở Mexico lúc đó rất rối loạn khi nhà độc tài Diaz bị lật đổ và các vụ cướp nổ ra khắp nơi ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động khai thác dầu và việc mở rộng đầu tư của các công ty nước ngoài là rất thận trọng bởi lo ngại sự rối loạn này. Các công ty dầu mỏ thì thúc giục chính phủ Mỹ bảo đảm quyền tài sản ở đây để bảo vệ lợi ích. Mexico thì quốc hữu hóa lại quyền sở hữu tài nguyên đất và mọi thứ rất rối loạn.
Việc rối loạn ở Mexico đã thúc đẩy các công ty dầu khí di chuyển tới đất nước Venezuela. Tại đây nhiều thế kỷ trước các nhà thám hiểu Tây Ban Nha đã thấy các vùng đất có thấm dầu và có triển vọng khai thác dầu từ sớm với việc người dân địa phương sử dụng rộng rãi sản phẩm được cho là hỗn hợp của dầu. Đất nước này giành được độc lập năm 1829 và bị chia nhỏ tự trị bởi các thủ lĩnh. Tới năm 1908, tướng Gomez đã thống nhất lại và trở thành nhà độc tài kiểm soát đất nước. Năm 1913, Royal Dutch Shell đã tới và làm việc với Venezuela với 1 dự án sản xuất thuowgn mại nhỏ năm 1914. Sau đó là Standard Oil Jersey mua lại 1 diện tích 4.200 mẫu của hồ Marocaibo để triển khai hoạt động tìm kiếm dầu mỏ. Nhưng đất nước trung Mỹ này rất khắc nghiệt cho việc khai thác dầu. Ngoài dịch bệnh, thời tiết họ còn gặp sự thù địch rất lớn của người Indian luôn tấn cộng đội ngũ thăm dò dầu khí.
Năm 1922, 1 giếng dầu Barroso của Shell tại mỏ La Rose ở Maracaibo bắt đầu tuôn trào dầu với sản lượng 100k thùng/ngày đã kích thích các công ty đánh giá lại triển vọng dầu mỏ của Venezuela. Hơn 100 tập đoàn khai thác dầu chủ yếu từ Mỹ đổ bộ vào Venezuela và triển khai hoạt động khoan thăm dò khắp mọi nơi. Năm 1921, Venezuela khai thác 1,4 triệu thùng dầu, thì tới năm 1929 sản lượng nhẩy vọt lên 137 triệu thùng đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Mỹ. Mặc dù có rất nhiều người tham gia nhưng sản lượng chính ở đây tới từ 3 công ty là Royal Dutch Shell, Gulf và Pan American. Tới năm 1925 thì Standard Oil Indiana mua lại Pan American.
Không giống mấy công ty thành công kia, Standard Oil Jersey dù tới Venezuela sớm nhưng không gặt hái được thành công gì đáng kể. Mãi tới năm 1928, nhờ kỹ thuật khoan dầu dưới nước họ mới bắt đầu có tiến triển đáng kể. Tới năm 1932, họ mua lại toàn bộ hoạt động quốc tế của Standard Oil Indina.
Nhưng nguy hiểm nhất và căng thẳng nhất là ở Nga nơi mà Royal Dutch Shell mua lại các mỏ dầu của nhà Rothschild nhưng Nga lại rơi vào chiến tranh I và cách mạng tháng 10 Nga của những người bolshevik lên nắm quyền. Nhà Nobel khi đó cũng phải bỏ trốn tới Phần Lan và Paris và nghĩ cách lấy lại được gì ở đế chế dầu mỏ ở Nga của họ. Họ đã thất bại trong thương lượng với Royal Dutch Shell và tiếp tục với Standard Oil Jersey thì tới năm 1920, những người Bolshevik đã chiếm Baku và quốc hữu hóa các nhà máy ở đây. Tới tháng 4/1920, Standard Oil Jersey đã mua lại công ty ở Nga của nhà Nobel với giá 6,5 triệu USD với niềm tin chính phủ Bolshevik sẽ sớm sụp đổ và mọi thứ sẽ quay trở lại nhưng sự thật không xảy ra như vậy. Sau giai đoạn bất ổn, dầu mỏ của Nga lại bắt đầu tuôn ra thị trường mạnh mẽ từ năm 1923 và giá của nó rẻ hơn rất nhiều các nguồn dầu mỏ khác tạo ra sức ép lớn về giá lên thị trường và các nhà nhập khẩu nhập nó với giá rẻ tạo ra cơn bão giảm giá trên toàn cầu.
- Cơn lũ
Cha Joiner là 1 người đam mê mạo hiêm và có niềm tin vô tận vào việc sẽ tìm thấy dầu ở khu vực xa xôi ở miền Đông Texas và đã kêu gọi được 1 lượng tiền để bắt đầu công việc khoan dầu vào năm 1927 và bất ngờ khoan trúng giếng đầu vào tháng 10/1930 và sau đó liên tục khoan được thêm các giếng dầu mới và cơn bùng nổ dầu ở miền đông Texas lại bắt đầu trong khi cả nền kinh tế Mỹ thì đang ảm đạm bởi cuộc đại suy thoái nổ ra vào cuối năm 1929. Sản lượng dầu khai thác ở khu vực này lên tới 340k thùng/ngày vào năm 1931.
Nguồn cung mới khổng lồ và bất ngờ này đã đẩy giá dầu giảm sâu từ 1,85$/thùng năm 1926 còn 15 xu/thùng vào năm 1931, và có lúc còn bị bán đổ bán tháo giá 2 xu/thùng. Mặc dù vậy hoạt động khai thác vẫn rất sôi nổi với 1.000 giếng dầu và sản lượng 500k thùng/ngày và tháng 6/1931.
Cha Joiner gặp nhiều áp lực kinh doanh nên sau đó đã nhường lại hoạt động cho Hunt với giá 1,33 triệu USD và ra đi. Nhưng việc khai thác quá độ đã làm giá dầu sụp đổ hoàn toàn và tình trạng rất hỗn loạn và tuyệt vọng không biết khi nào giá dầu có thể quay trở lại mức 1$/thùng. Texas đã phải ban hàn tình trạng khẩn cấp và dừng khai thác 1 số giếng dầu để kéo giá tăng trở lại nhưng bất thành và rất nhiều nhà sản xuất dầu bán với giá thấp hơn giá thành của họ.
Sau khi tổng thống Roosevelt câm quyền đã thực hiện chính sách kinh tế mới gọi là “New Deal” và đã được trao quyền để thực hiện các biện pháp. Luật dầu khí ra đời và đã yêu cầu nghiêm ngặt việc cắt giảm sản lượng và đã giảm về 300k thùng/ngày vào tháng 9/1933 nhằm kéo giá dầu lên. Các mỏ dầu khai thác lậu bị đóng cửa, thuế đánh lên 21 xu/thùng với dầu nhập khẩu được đưa ra vào năm 1932 nhằm ngăn chặn dầu rẻ từ nước ngoài tràn vào Mỹ. Nguồn dầu mỏ từ Venezuela bị buộc phải chuyển hướng xuất khẩu sang châu Âu và đã giảm áp lực rất lớn với dầu Mỹ ở nội địa nước Mỹ. Giá dầu ở Mỹ sau đó đã tăng trở lại ở mức 1-1,18$/thùng từ 1934-1940.
- Những người bạn và kẻ thù
Cuộc chiến giá cả dầu mỏ diễn ra mọi nơi trên thế giới khi Deterding của Royal Dutch Shell phát động hạ giá trả đũa Stardard Oil Jersey đã mua dầu giá rẻ từ Nga. Các cải tiến kỹ thuật liên tục diễn ra và sản lượng cũng tăng chóng mặt như ở Ba Tư, Iraq sản lượng cũng tăng gấp 4 lần. Các lỗ lực xây dựng liên minh để kiểm soát sản lượng đều gặp thất bại bởi sự bất đồng ý kiến giữa các bên.
Tại Ba Tư, Reza Khan, 1 sĩ quân quân đội đã tổ chức đảo chính và giành chính quyền và lên ngôi Vua Ba và lập ra nhà Pahlavi từ vào năm 1925 và chế độ này kéo dài tới tận năm 1979. Ông phản đối thỏa thuận năm 1901 của D’ Arcy và đòi xem xét lại thỏa thuận này để tăng lợi ích cho Ba Tư từ công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư. Nhà vua thực hiện các cải cách lớn về tôn giáo như bãi bỏ tập phụ nữ phải che mặt, hiện đại hóa đất nước. Ông tấn công rất mạnh mẽ các giáo sĩ hồi giáo và họ bị quy phục nhưng vẫn tỏ thái độ chống đối quyết liệt và âm ỉ lâu dài để sau đó lật đổ chế độ này vào năm 1979. Vị vua này đơn phương chấm dứt thỏa thuận với công ty An – Ba Tư vào năm 1932 là buộc công ty này phải đàm phán lại với các thỏa thuận tài chính nhượng bộ cho Ba Tư.
Tại Mexico, hiến pháp năm 1917 quy định các tài nguyên dưới lòng đất không chỉ thuộc về chủ sở hữu đất mà cả chính phủ. Các công ty dầu mỏ đã đầu tư quá lớn ở đây kiên quyết phản đối điều này. Nhưng vào những năm 1930, dầu Venezuela rẻ hơn nhiều tràn vào làm hoạt động khai thác dầu Mexico bị ảnh hưởng nặng nề. Công ty dầu mỏ Mexican Teagle chiếm 65% sản lượng dầu ở đây do Royal Dutch Shell quản lý cũng gặp vấn đề lớn về hiệu quả kinh doanh và sản lượng giảm mạnh từ mức 499k thùng/ngày còn 104k thùng/ngày. Các công ty chỉ cố duy trì những gì đang có và luôn né tránh việc mở rộng ở khu vực luôn bất ổn và rối loạn này. Chủ nghĩa dân tộc lên cao không chỉ ở Mexico mà lan tràn khắp các nước Mỹ La Tinh và làn sóng quốc hữu hóa các công ty nước ngoài làm các công ty dầu mỏ đang hoạt động ở các nước này rất e ngại. NĂm 1938, tổng thống Mexico Cardenes tiến hành quốc hữu hóa các nhà máy và mỏ dầu ở Mexico. Anh tiến hành cấm vận Mexico vì điều này và Mexico liền cấp dầu cho Đức quốc xã, phát xít Ý và phát xít Nhật. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1939, Mỹ buộc phải nhượng bộ nhằm cắt đứt nguồn nhiên liệu từ Mexico cho các nước phe phát xít. Cuối cùng các công ty nhận khoản tiền đền bù từ Mexico dù không được như ý và kết thúc mâu thuẫn kéo dài giữa 2 nước. Công ty dầu mỏ quốc gia Mexico là Petrleos Mexicanos là công ty sở hữu tất cả ngành dầu mỏ ở Mexico sau đó và trở thành 1 tay chơi lớn trong ngành dầu mỏ thế giới sau đó.
- Những vụ chuyển nhượng của Ả-Rập: Thế giới mà Frank Holmes tạo ra
Holmes là 1 kỹ sư mỏ đã lang thang khắp nơi trên thế giới từ khai thác vàng tới dầu khí. Sau thế chiến I ông tới Trung Đông và thành lập xanh-đi-ca kinh doanh thuốc nhưng niềm đam mê ám ảnh vẫn là dầu mỏ. Ông tin rằng bờ biển Ả-Rập có nguồn dầu mỏ vô cùng khổng lồ và quyết tâm theo đuổi giấc mơ đó. Holmes bắt đầu tìm kiếm dầu ở hòn đảo Bahrain nơi mà có dầu rò rỉ ra từ lòng đất. Holmes đã tìm kiếm nước và dầu mỏ rất thành công và ông nhận được 1 vụ chuyển nhượng dầu mở lớn vào năm 1925. Ngoài ra ông còn sở hữu các lô dầu mỏ ở Ả-rập Xê-Út và Cô-oét, rồi tới Iraq. Hoạt động của ông đã đụng chạm tới công ty dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng người đang kiểm soát dầu mỏ ở Iraq. Nhưng công ty Thổ Nhĩ Kỳ này tin vào các báo cáo địa chất cho rằng không hề có dầu ở Ả-rập Xê-út.
Xanh-di-ca của Holmes bất lực trong huy động vốn ở London và ông đã tới New York tìm kiếm cơ hội và gặp công ty dầu mỏ Gulf vào năm 1927 và hợp tác mua lại quyền kinh doanh ở các khu vực mà Holmes có. Chính phủ Anh phản đối rất quyết liệt việc các công ty Mỹ nhẩy vào khu vực vốn được Anh bảo hộ này. Sau đó tới năm 1929 thì Anh dừng phản đối và ủng hộ các công ty Mỹ. Năm 1931, công ty dầu mỏ Bahrain bắt đầu tiến hành khoan thăm dò và năm 1932 dầu bắt đầu được khai thác với sản lượng khá khiêm tốn.
Vương quốc Ả-rập Xê-út có lịch sử khá mạnh với vương triều Saudi lập năm 1700 và chiếm lĩnh bán đảo Ả-rập nhiều thập kỷ. Sau khi bị đế quốc Ottoman đánh bại họ lại thiết lập lại vương quốc vào năm 1913-1914 dưới sự lãnh đạo của Ibn Saud. Nước Anh sau chiến tranh thế giới I đã quá chán nản với các tranh cãi biên giới các nước ở khu vực dã tự vẽ ra đường biên giới giữa các nước khi đó và trở thành biên giới ngày nay vào năm 1922. Năm 1925, Ibn Saud cuối cùng đánh bại các đối thủ và thống nhất vương quốc Ả-rập Xê-út và lên ngôi vua.
Đang trong quá trình tái thiết đất nước thì hết tiền. Nhà vua đã bắt đầu chú ý đến khoáng sản dầu mỏ có thể có ở đất nước mình và tìm cách khai thác nó để có tiền. Họ đã mời Charles Crane ông trùm tham dò đầu mỏ Mỹ vào năm 1931 để tham dò đầu mở ở Ả-rập nhưng chưa đi tới đâu cho tới khi Standard Oil tìm thấy dầu ở Bahrain đã làm ông vững tin vào tiềm năng dầu ở al-Hasa.
Dự báo tiềm năng dầu mỏ ở al-Hasa tăng đã thúc đẩy nhiều công ty quan tâm và đám phán gia nhập thị trường Ả-rập Xê-út và họ rất tích cực đàm phán. Tới tháng 5/1933, thỏa thuận được ký với việc công ty dầu mỏ Standard Oil California thuê lại 360 dặm vuông trong 60 năm để phát triển dầu mỏ tại đây. Họ đã lập Casoc – Công ty dầu mỏ Standard Oil California – Ả-rập để thực hiện khai thác. Tới năm 1938, 1 giếng dầu khổng lồ cuối cùng cũng được tìm thấy ở Ả-rập Xê-út. Công ty Casoc đã nhanh chóng mở rộng quyền ưu tiên ên 440k dặm vuông ở đây để chiếm lĩnh khu vực khai thác.
Sự trỗi dậy của Ả-rập Xê-út tạo ra nỗi lo lớn cho tiêu vương quốc Cô-oét khi họ rất nhỏ bên cạnh các nước lớn. Vương quốc này giành được độc lập từ tế kỷ 18 và là điêm giao thương trên con đường chính ở vùng Vịnh. Khi Cô-oét thúc đẩy mạnh ngành dầu mỏ thì 2 công ty lớn ở khu vực là công ty dầu mỏ Anh – Ba Tư và công ty dầu mỏ Iraq (Thổ Nhĩ Kỳ cũ) đều nhẩy vào nhằm làm giảm ảnh hưởng của các công ty dầu mỏ Mỹ như ở Ả-rập Xê-út. Nhưng công ty dầu mỏ Gulf của Mỹ mới là người tích cực nhất ở khu vực này sau khi đã tham gia công ty dầu mỏ Iraq đã tiếp tục với các chuyển nhượng ở Bahrain và giờ đây là Cô-oét. Cuối cùng sự cạnh tranh của 2 công ty không có hồi kết đã thống nhất thành lập 1 liên danh công ty dầu mỏ Cô-oét với tỷ lệ 50-50 giữa Gulf và dầu mỏ Anh – Ba Tư để cùng vào khai thác Cô-oét vào năm 1933. Năm 1934, công ty này nhận được thỏa thuận khai thác trong 75 năm tại đây. Việc thăm dò bắt đầu từ năm 1935 và mãi tới năm 1936 các phát hiện dầu mỏ lớn mới có.
- Phần III – Chiến tranh và Chiến lược
- Con đường tham chiến của Nhật Bản
Nước Nhật sau chiến thắng Trung Quốc (1895) và Nga (1904) đã dần nổi lên thành cường quốc ở khu vực Đông Nam Á. Họ cũng chiếm khu vực Mãn Châu Lý của TQ và coi đó là nửa thuộc địa của mình. Nhật Bản liên tục cố gắng loại bỏ ảnh hưởng của các nước phương Tây khỏi khối thịnh vượng châu Đại Đông Á của họ. Những năm 1920 Nhật Bản phát triển tương đối ổn định và thể chế tốt. Nhưng khi đại suy thoái nổ ra Nhật đã gặp khó khăn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan lên ngôi và coi các nước phương Tây đang cản trở đà phát triển của Nhật và cần phải loại bỏ. Thủ tướng Hamaguchi thân Mỹ- Anh của Nhật bị ám sát năm 1931 đã dập tắt toàn bộ sự thân thiện của Nhật và nước này đã chuyển sang sự thù địch với chủ nghĩa quân phiệt, phát xít.
Nước Nhật có điểm yếu chí mạng là không có dầu. Họ chỉ tự sản xuất được 7% tiêu thụ và phải nhập khẩu toàn bộ phần còn lại. Khi đó họ nhập 80% từ Mỹ và 10% từ Đông Ấn Hà Lan. Năm 1934, chính phủ Nhật thông qua Luật Ngành dầu bảo hộ cao độ để phát triển các nhà máy lọc dầu trong nước nhằm loại bỏ ảnh hưởng của các công ty dầu mỏ nước ngoài và bị Anh – Mỹ phản đối quyết liệt và đe dọa cấm vận.
Năm 1931, sự kiện Mãn Châu Lý nổ ra và Nhật mở rộng sự ảnh hưởng ra địa bàn lớn hơn và dần lấn chiếm các khu vực rộng lớn ở Trung Quốc. Tới năm 1937 thì lực lượng dân tộc chủ nghĩa do Tưởng Giới Thạch câm đầu đã cứng rắn tấn công và chống lại sự mở rộng của Nhật và chiến tranh bùng nổ. Từ năm 1938, người Mỹ bắt đầu tỏ thái độ chống Nhật thay cho thái độ hửu hảo trước đó. Việc phụ thuộc hoàn toàn nguồn cùng vào nước ngoài là điểu yếu chí tử của Nhật và khi chiến tranh nổ ra chắc chắn họ sẽ chiếm công ty Đông Ấn Hà Lan để kiểm soát nguồn dầu mỏ cung cấp cho các hạm đội và hàng không của Nhật.
NĂm 1940, Nhật di chuyển hạm đội Mỹ từ Nam California đến Trân Châu Cảng trên đảo Oahu ở Hawai nhằm kìm chế quân Nhật. Ở TQ, quân Nhật tiến quân mà không gặp phải sự kháng cự nào của các nước phương Tây và họ càng gia tăng yêu cầu bảo hộ các vùng đất Đông Á và Đông Nam á lên cao hơn. Cuối tháng 7/1940, quân nhật tiến vào Đông Nam Á và kiểm soát các nước ở khu vực này từ các nước thực dân cũ. Lo ngại lệnh cấm vận dầu mỏ sẽ ngay lập tức kích động Nhật tấn công chiếm Đông Ấn Hà Lan đã làm người Mỹ rất lưỡng lự và vẫn tiếp tục bán dầu cho Nhật.
Tới tháng 9/1940, Nhật ký hiệp ước với Đức và Italia tạo ra liên minh mới, Mỹ đã chính thức áp đặt lệnh cấm vận tất cả các mặt hàng ngoại trừ dầu mỏ. Nước Nhật e ngại 1 hạm đội Mỹ đang giám sát và coi đó là vật cản trở họ trong cuộc mở rộng ở châu Á. Kế hoạch tấn công Trân Trâu Cảng được vạch ra cuối năm 1940 và thực hiện vào năm 1941 bởi đô đốc Yamamoto. Tháng 7/1941, Mỹ tuyên bố cấm vận hoàn toàn với Nhật và đóng băng các tài sản của Nhật ở Mỹ để phản đối việc Nhật chiếm đóng Đông Dương.
Các nỗ lực hòa giải đều bất thành ở cả 2 phía Mỹ – Nhật. Thủ tướng Konoye là hoàng thái tử Nhật từ chức và bộ trưởng chiến tranh, 1 phần tử hiếu chiến bậc nhất ở Nhật là Tojo lên làm thủ tướng vào tháng 10/1941. Mặc dù thảm họa chiến tranh đến gần và đã được cảnh báo ở Mỹ nhưng không mấy ai quan tâm. Và việc Mỹ cấm vận hoàn toàn Nhật chỉ có thể được giải quyết bằng chiến tranh để khơi thông lại nguồn tài nguyên mà Nhật bế tắc do Mỹ cấm vận.
Ngày 1/12/1941, hạm đội Nhật nhổ leo từ cảng Kurile và đích đến là Hawaii. Ngày 7/12, hạm đội Nhật bất ngờ tấn công dữ đội Hawaii nơi có hạm đội của Mỹ đóng tại Trân Trâu Cảng. Cùng lúc đó, Nhật ồ ạt tấn công đồng loạt các nước ở châu Á mà trọng tâm là Đông Á và Đông Nam Á và chiếm lĩnh hoàn toàn khu vực này sau đó. Mục tiêu quan trọng nhất là chiếm đóng khu vực Đông Ấn để chiếm lĩnh công ty dầu mỏ Đông Ấn.
- Công thức chiến tranh của người Đức
Hitle vào năm 1932 là người đứng đầu Đảng Đức Quốc xã nắm 20% ở quốc hội Đức và đang rất cổ vũ cho 1 nền công nghiệp năng lượng tự chủ. Hitler đã ủng hộ mạnh mẽ dự án dầu mỏ. Tại Đức khi đó than đá vẫn chiếm 90% nhu cầu năng lượng của nước này. Và khi lên làm thủ tướng năm 1933, Hitle đã đẩy mạnh chiến dịch sử dụng phương tiện giao thông mới là oto và chuyển sang sử dụng dầu mỏ. Chiếc xe nhân của nhân dân Volkswagen ra đời từ đó. Ông đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng nhiên liệu tổng hợp mà I. G. Farben đang tiến hành để la nhiên liệu cho oto, xe tăng, máy bay, xe tải,…
Dự án nhiên liệu tổng hợp từ than đá này được khởi xướng từ năm 1913 ở Đức và đã trải qua 1 thời gian dài và là quốc gia đi đầu về hóa học dạng này trên thế giới. Việc sản xuất dầu chiết suất rất tốt thì tới năm 1930 tình trạng dư thừa dầu diễn ra do các phát hiện dầu lớn ở miền Đông Texas làm hiệu quả kinh tế của dự án sụp đổ. Quá trình hydro hóa của I. G. Farben là công nghệ vượt trội nhất thế giới lúc đó đã được Đệ tam Quốc xã đảm bảo bao tiêu để nó tiếp tục mở rộng sản xuất nhằm đưa nước Đức tự chủ hoàn toàn nhiên liệu. Hitle đã cho người vào tiếp quản công ty I. G. Farben và loại các thành viên cũ để đưa nó thành 1 phần của nhà nước. Sản lượng nhiên liệu tổng hợp của Đức đã đạt 72k thùng dầu/ngày và chiếm 46% tổng cung dầu ở Đức. Phần còn lại Đức vẫn phải nhập khẩu từ Standard Oil và Nga.
Đức dễ dàng đánh bại các nước châu Âu xung quanh và cả nước lớn là Pháp. Trong khi Italia tấn công các nước châu Phi và giành được các khu vực này. Dù không thành công cuộc chiến tấn công London nhưng Hitle rất có niềm tin sẽ chiến thắng dễ dàng ở châu Âu và họ bắt đầu chuẩn bị tấn công về phía Đông là Liên Xô. Mục tiêu chính là khu vực dầu mỏ Baku và vùng đất đen Ukraine. Nước Liên Xô khi đó hoàn toàn không tin Đức sẽ tấn công mình vì họ luôn tuân thủ hiệp ước giữa Liên Xô – Đức quốc Xã ký năm 1939.
Sáng sớm ngày 22/6/1941, Quân Đức với 3 triệu quân, 600k moto, 625k kỵ binh tấn công ồ ạt LX. Ban đầu cuộc chiến rất thuận lợi nhưng sau đó họ gặp trở ngại lớn trên địa hình nước LX và vượt quá ước tính của họ trước đó rất xa. Thay vì dự báo sẽ chiến thắng trong 6-8 tuần tương tự như việc Đức chiếm các nước khác như Ba Lan, Bỉ, Hà Lan, Pháp, Nam Tư. Nhưng cuộc chiến không như ý khi quân Đức bị sa lầy ở ngoại ô Matxcova và bị lún sâu trong tuyến và thiếu thốn nhiên liệu, vật tư. Mặt trận đánh chiếm nguồn nguyên liệu Baku được mở ra nhưng quân đức đã ở quá xa nơi cung cấp nhiên liệu chính là Đức tới hàng nghìn km và việc tiếp tế không thể đáp ứng nhu cầu và họ cũng thất bại trong cổ gắng chiếm khu vực này để dùng nó là nơi cung cấp nhiên liệu chính. Trên mặt trận bắc Phi tướng Rommel giành chiến thắng liên tục trong giai đoạn đầu nhưng sự thiếu thốn về tiếp tế và nhiên liệu đã đánh bại ông vào năm 1943. Cục diện của Đức trở nên bế tắc và thất bại cả trên 2 mặt trận là Liên Xô và Bắc Phi.
Phe đồng minh có rất nhiều đợt không kích tấn công các nhà máy của Đức nhưng sản lượng công nghiệp của Đức vẫn tăng mạnh mẽ và số lượng khí tài quân sự bùng nổ. Nhưng điểm yếu chí mạng của họ là dầu và dù ngành sản xuất dầu tổng hợp của Đức vô cùng phát triển với sản lượng lên tới 124k thùng/ngày thì mới đáp ứng 59% nhu cầu trong nước. Và đồng minh thay vì tấn công khí tài quân sự họ đã tấn công các nhà máy dầu tổng hợp nhằm cắt đứt nguyên liệu cho cỗ máy chiến tranh của Đức. Sau đó là liên tục các đợt tấn công và khôi phục nhà máy giữa 2 bên và tổn thất với Đức ngày càng lớn và sản lượng dầu giảm sút làm các khí tài của Đức rất nhiều nhưng không được sử dụng mấy vì thiếu nhiên liệu.
- Gót chân Asin của Nhật Bản
Từ năm 1939, việc chuẩn bị cho chiến tranh đã được lên kế hoạch cho công ty Đông Ấn như việc phá hủy cơ sở khai thác dầu, các thiết bị dầu nếu bị tấn công chiếm đóng. Tháng 1/1942, quân Nhật tiến gần tới khu vực nhà máy và chuẩn bị đánh chiếm nhà máy thì quá trình hủy giếng bắt đầu diễn ra, toàn bộ thuốc nổ được kích hoạt và cả nhà máy nổ tung trong biển lửa. Tới tháng 3/1942, quân Nhật đã kiểm soát toàn bộ Đông Ấn và bắt đầu khôi phục lại hoạt động của các mỏ dầu và các cơ sở kinh tế khác. Sự phục hồi sản lượng rất nhanh với mức 25,9 triệu thùng năm 1942 và 49,6 triệu thùng năm 1943 và đạt 70% sản lượng so với năm 1940.
Thagns 6/1942, quân Nhật tự mãn đã tấn công vào hải quân Mỹ trong trận Midway và thất bại nặng nề sau chiến thắng bằng trận đánh nhanh và bất ngờ Trân Trâu Cảng trước đó. Nhật đã dữ trữ dầu đủ dùng trong 2 năm đầu chiến tranh và sau đó sẽ dùng dầu từ Đông Ấn. Nhưng họ đã sai khi không thể bảo vệ tuyến vận chuyển dầu mỏ từ Đông Ấn về Nhật dưới sự tấn công của tầu ngầm Mỹ và đây là điểm yếu chết người của Nhật. Việc vận chuyển dầu giảm nhanh chóng do các cuộc tấn công mạnh mẽ vào các đoàn tàu này. Không thể vận chuyển về Nhật, nguồn dự trữ dần cạn kiệt và mức tiêu thụ giảm chỉ còn bằng 4% so với trước đó. Các ngành công nghiệp, vận tải tê liệt vì thiếu nhiên liệu. Các tàu chiến của hải quân Nhật cũng không thể làm gì đáng kể vì thiếu nhiên liệu và sau đó liên tục thất bại. Do sự đẫm máu của trận chiến Okinawa với tỉ lệ thương vong tới 35% nên quân Mỹ do sự cuồng tín của lính Nhật, nên Mỹ đã quyết định ném boom nguyên tử xuống Nhật để giảm thiểu thiệt hại thương vong cho quân Mỹ.
- Cuộc chiến của quân đồng minh
Winston Churchill không có ảnh hưởng chính trị gì đáng kể trong suốt những năm 1930 sau khi không còn là bộ trưởng hải quân Anh cho tới năm 1939 khi chiến tranh đã nổ ra thì ông đột ngột được triệu quay lại làm bộ trưởng hải quân và sau đó lực lượng nhượng bộ Hitler xuống đài do Tây Âu đã bị Hitler tàn phá và Pháp thất thủ. Churchill lên làm thủ tướng Anh vào mùa xuân năm 1940 và đột nhiên chỉ còn Anh chiến đấu với Đức khi đó. Nước Anh khi đã đã loại bỏ kế hoạch sử dụng than dồi dào ở nội địa là nhiên liệu và tập trung vào nhập khẩu than rồi rào từ 2 công ty họ sở hữu là Shell và Anh – Ba Tư cùng nguồn dầu rồi rào từ Mỹ. Khi chiến tranh nổ ra, các công ty này được quản lý thống nhất trong 1 ủy ban chung và Bộ dầu lửa được lập ra để chỉ đạo.
Năm 1941, các đoàn tàu chở dầu từ Mỹ sang Anh bắt đầu được vận chuyển tối đa để cung cấp nhiên liệu cho phe đồng minh với giá xác định và sẽ được trả nợ vào 1 giai đoạn trong tương lai khi chiến tranh kết thúc. Nước Mỹ khi đó kiểm soát 2/3 sản lượng dầu mỏ của thế giới và là nguồn cung rồi rào và chắc chắn cho phe đồng minh. Nước Mỹ đang trải qua giai đoạn thừa dầu và giá rất thấp trong 1 thời gian dài trước đó giờ đây lại có nguồn tiêu thụ lớn và rất hân hoan. Mặc dù việc việc vận chuyển dầu xuyên Đại Tây Dương của Mỹ gặp rất nhiều khó khăn do các cuộc tấn công của tầu ngầm Đức nhằm phong tỏa các tầu vận chuyển tới Anh. Tới năm 1942 thì tầu ngầm Đức phong tỏa luôn mặt phía đông của Mỹ và số tàu chở đầu bị đắm nhiều gấp 4 lần số tàu được đóng mới và nguy cơ thiếu hụt nguồn cung lại tái diễn. Tới tháng 3/1943, các tầu ngầm Đức đã hoạt động rất hiệu quả và đánh đắm 108 tàu của quân Đồng minh. Khi quân đồng minh khóa được mật mã và quân Đức không thể phá nữa và quân Đồng minh lại phá được mật mã quân Đức thì cục diện trên biển đã thay đổi khi tầu ngầm Đức không còn gây trở lại được và quân Đồng minh còn phá hủy được 30% tầu bè của Mỹ trên biển. Sản lượng dầu của Mỹ tăng mạnh từ 3,7 triệu thùng/ngày năm 1940 lên 4,7 triệu thùng/ngày năm 1945. Nước Mỹ giai đoạn này khai thác 7 tỷ thùng dầu và chiếm 6/7 tổng sản lượng của phe Đồng Minh. Nước Mỹ khi đó cũng phải áp đặt các hạn mức tiêu thụ xăng dầu và nhiều sản phẩm khác để phục vụ cho nền công nghiệp chiến tranh. Trong công tác hậu cần, dầu chiếm 50% lượng vật tư hậu cần cho chiến tranh thế giới II. Công nghệ cracking cũng được cải tiến mạnh mẽ ở Mỹ với việc ra đời cracking xúc tác và Sun Oil là công ty tiên phong thử nghiệm đã sản xuất quy mô lớn xăng có trị số octant 100 có hiệu năng cao cho máy bay thay vì loại xăng có trị số octant 87 thông thường. Điều này đã giúp không quân của Đồng minh hoạt động tốt hơn nhiều không quân Đức.
- Phần IV – Kỷ nguyên Hydrocarbon
- Trọng tâm mới
DeGolyer là nhà địa chất về dầu mỏ hàng đầu thế giới. Ông là người đã tìm ra mỏ dầu ở Mexico và là mỏ lớn nhất thế giới từng được tìm thấy tới lúc đó. Sau đó ông xây dựng công tyw tư vấn xây dựng lớn nhất trong ngành dầu mỏ thế giới. Ông cũng là nhà sáng lập công ty Texas Instruments. Năm 1943, ông tới Ả-rập Xê-út và ngại nhiên về dự báo trữ lượng dầu mỏ ở đây khi họ ước tính khoảng 750 triệu thùng nhưng ông tin con số thực tế lớn hơn rất nhiều. Sau chuyến khảo sát cả khu vực ông ước tính trữ lượng khoảng 25 tỷ thùng là con số rất thận trọng. Còn ông tự ước đoán khoảng 300 tỷ thùng và riêng Ả-rập Xê-út khoảng 100 tỷ thùng. Và 1 sự thay đổi trọng tâm ngành dầu mỏ thế giới sẽ dịch chuyển từ khu vực vịnh Caribe sang khu vực vịnh Ba Tư.
Khu vực Ả-rập lúc đó mới chỉ chiếm 5% sản lượng của thế giới và sự dịch chuyển trọng tâm mới chỉ ở lúc bắt đầu. Khu vực này vẫn chủ yếu ảnh hưởng bởi Anh và người Mỹ chưa mấy quan tâm tới. Chỉ sau khi DeGolyer khảo sát và Bộ trưởng Nội vụ Ickes của Mỹ mới bắt đầu thay đổi chính ách đặt trọng tâm dầu mỏ vào vùng Vịnh. Họ bắt đầu tài trợ cho vua Ibn Saud để giúp Ả-rập Xê-út vượt qua khủng hoảng tài chính và thâm nhập sâu vào thị trường này. Khi đó chỉ có 2 công ty dầu mỏ tư nhân ở Mỹ là Socal và Taxeco thông qua Casoc có mặt ở đây.
- Trật tự dầu lửa sau chiến tranh
Chế độ định mức xăng tại Mỹ bị bãi bỏ vào năm 1945 đã thổi bùng cơn khát tiêu thụ dầu mỏ tại Mỹ sau mấy năm bị kìm chế. Số lượng xe hơi ở Mỹ nhẩy vọt từ 26 triệu xe năm 1945 lên 40 triệu xe năm 1950, lượng xăng tiêu thụ ở Mỹ tăng 42% trong thời kỳ đó. Sản lượng khai thác cũng tăng 45% nhưng giá dầu thì twang mạnh thời kỳ này. Năm 1948, lần đầu tiên Mỹ phải nhập khẩu ròng dầu mỏ.
Tại Ả-rập Xê-út, các mỏ dầu nằm trong tay công ty dầu lửa Ả-rập (Aramco) là liên doanh giữa Socal và Texaco của Mỹ. Texaco là công ty lớn vững mạnh nhưng Socal là công ty nhỏ và khá bấp bênh trong liên doanh này. Sức ép của vua Ibn Saud lên liên doanh này rất lớn đòi hỏi họ phải liên tục gia tăng sản lượng và đầu tư rất lớn tại đây nhằm duy trì quyền khai thác dầu. Để mở rộng, Aramco đã mời thêm 2 công ty khác là Standard Oil Jersey và Socony tham gia liên doanh để mở rộng hoạt động nhanh hơn. Họ đã phải hủy bỏ thỏa thuận Ranh giới đỏ ở liên doanh IPC tại Iraq. Họ đã phân chia lại cho Socal, Texaco và Jersey mỗi công ty 30% cổ phần và Socony 10% cổ phần.
Công ty dầu mỏ khác của Mỹ ở khu vực là Gulf Oil (Công ty dầu lừa Vùng Vịnh) ở Cô-oét cũng gặp các rắc rối không kém với đối tác là công ty Anh – Iran. Họ chủ yếu bán dầu cho châu Âu và giờ đây cơn lũ dầu ập đến và họ cần tìm kiếm thị trường mới. Họ đã tìm tới Shell để bán dầu của mình với sản lượng khoảng ¼ trữ lượng của Gulf và 30% nhu cầu của Shell với giá 50:50 mỗi bên được hưởng 50%.
Thỏa thuận dầu lửa lớn thứ 3 tới từ Iran. Iran đang rất lo lắng khi Liên Xô tiến quân tới Azerbaijan và nằm trong khu vực Ba Tư trước đó. Anh và Mỹ đã cố gắng để bảo vệ Iran tránh bị LX xâm chiếm và đã thành công. Sau chiến tranh Anh kiệt quệ và tuyên bố từ bỏ vai trò đế quốc ở nhiều khu vực như Ấn Độ và các nơi khác và trao cho Mỹ các đặc quyền. Tới năm 1951, 80% lượng dầu châu Âu sử dụng là tới từ Trung Đông.
Đang trong mối quan hệ tốt đẹp với Ả-rập Xê-út thì Mỹ lại ủng hộ Israel phục quốc và thành lập đất nước Israel độc lập mới nằm trong lòng các nước hồi giáo. Điều này làm mối quan hệ giữa Mỹ và các nước hồi giáo xấu đi rõ rệt. Các nước Ả-rập đã tổ chức đội quân tấn công người Israel ở Palestine và người Israel ngay lập tức tuyên bố thành lập nhà nước Israel vào 14/5/1948 sau khi Anh rút quân. Ngay sau đó Liên Xô và Mỹ công nhận nhà nước Israel và Liên đoàn Ả-rập tổ chức cuộc tổng tấn công. Cuộc chiến tranh đầu tiên giữa người Ả-rập và Israel bắt đầu. Ả-rập Xê-út sau đó đạt được hiệp định phòng thủ chung với Mỹ và Anh để đảm bảo an ninh cho đất nước mình. Nước Mỹ khi đó dự kiến phát triển nhiên liệu tổng hợp nhưng nó quá đắt đỏ, khai thác xa bờ thì mới bắt đầu và đắt, cuối cùng Mỹ phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu giá rẻ từ các khu vực khác mà đặc biệt là Trung Đông.
- 50-50: Thỏa thuận mới về dầu lửa
Những năm cuối 1940 đầu 1950, các chính phủ đã liên tục đòi hỏi phân chia lại lợi ích dầu mỏ với các công ty khai thác dầu. Họ thấy cách phân chia trước đây quá thiệt thòi cho họ. Venezuela sau khi nhà độc tài Gomez qua đời đã trở nên rối ren với 1 nền kinh tế 90% phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ. Và Mỹ cũng sợ mất Venezuela như đã mất Mexico trước đó và rất quan tâm đất nước này nhằm đảm bảo các công ty dầu mỏ của Mỹ ở đây an toàn và không bị quốc hữu hóa. Sau đó Standard Oil Jersey là nhà khai thác dầu mỏ chính ở Venezuela đã đồng ý phân bổ lại phân chia lợi nhuận theo nguyên tắc 50-50 giữa nước chủ nhà và Jersey. Điều này làm tổng thu ngân sách của Venezuela sau đó tăng 6 lần trong giai đoạn từ 1942-1948.
Tại khu vực Trung Đông, viêc thiết lập lại tỷ lệ phân chia cũng đã được nêu ra và trong các vòng đám phán lại. Mỹ cũng khuyến khích các công ty dầu mỏ nhỏ hơn gia nhập khu vực này. Lần lượt ở Cô-oét có liên doanh Amioil và Ả-rập Xê-út có nhà kinh doanh tài ba Jean Paul Getty gia nhập và chỉ trong 8 năm ông đã trở thành người giầu nhất nước Mỹ nhờ khai thác dầu ở đây. Getty là 1 nhà kinh doanh tài ba từ sớm và cũng là nhà đầu tư chứng khoán cực kỳ thành công ở Mỹ. Getty đã cho Walton là nhà địa chất tài năng ở công ty dầu mỏ Tây Thái Bình Dương tới Ả-rập Xê-út để tiến hành tham dò và mua quyền khai thác trị giá 9,5 triệu USD trả trước, mỗi năm 1 triệu USD và mức nhượng quyền là 55 xu/thùng. Trải qua 5 năm tới tận năm 1953 cả 2 công ty của Getty và Amioil đã phải chi ra 30 triệu USD nhưng vẫn chưa thấy dầu đâu. Cuối cùng họ cũng thành công tìm thấy dầu ở ngọn đồi trong vùng trung lập, Getty tổ chức lại công ty dầu mỏ thành người khổng lồ ở Mỹ, Tâu Âu và Nhật Bản. Tới năm 1957, công ty của Getty là công ty dầu mỏ lớn thứ 7 ở Mỹ và trở thành tỷ phú USD duy nhất của nước Mỹ và là người giầu nhất thế giới lúc đó.
Nguồn dầu từ Trung Đông rẻ và nhiều đã cạnh tranh với Venezuela. Nên họ đã tới đây để phổ biến lợi ích từ việc chia 50-50 để làm cho giá dầu tại Trung Đông cao lên nhằm giảm áp lực cạnh tranh. Cuối cùng năm 1950, Aramco phải đồng ý thỏa thuận phân chia mới 50-50 ở Ả-rập Xê-út. Sau đó là Cô-oét đòi thay đổi điều khoản, rồi Iran, Iraq cũng đổi điều khoản sang 50-50 và điều này trở thành thực hành chung của cả khu vực Trung Đông.
- Mossy già và cuộc xung đột ở Iran
Năm 1941, trong thế chiến I thì vau Reza Pahlavi của Iran bị thay thế bởi người con là Mohamed Pahlavi và mất vào năm 1944 khi sống lưu vong ở Nam Phi. Iran bị mắc kẹt bởi sự can thiệp của Liên Xô và Anh vào đất nước mình. Mohamed là được giao cho 1 gia sư người Pháp rồi học tại Thụy Sĩ và ông là nhà lãnh đạo bị tây hóa từ sớm và rất khác với các vị quốc vương ở khu vực Trung Đông khi đó. Ông lên ngôi vua khi mới 21 tuổi.
Ở trong nước, chính quyền nhà Pahlavi vẫn bị đặt dấu hỏi về tính hợp pháp của nó, họ gặp rất nhiều về vấn đề đẳng cấp, khu vực, tôn giáo và hiện đại đối nghịch với truyền thống. Đặc biệt là sự chống đối quyết liệt của những người Hồi giáo chính thống mà đứng đầu là Kashani, người căm ghét mọi sự xâm nhập của thế giới hiện đại, đặc biệt là sự có mặt của các cố vấn nước ngoài, và đã lên án chính sách của vua Reza cho phép phụ nữ được bỏ mạng che mặt. Ngoài ra, còn những người ở phe đảng Cộng sản, những người phe cải cách dân tộc chủ nghĩa. Đất nước Iran chìm trong mâu thuẫn và lộn xộn. Nhưng họ thống nhất với nhau 1 điều là đổ mọi tội lỗi mà đất nước này phải chịu lên người Anh, và kẻ chịu đả kích chính là công ty Anh – Iran.
Công ty Anh – Iran đã thu được lợi nhuận 250 triệu Bảng trong giai đoạn 1945-1950 nhưng chỉ nộp tiền thuê đất 90 triệu Bảng cho Iran và họ rất bị người dân Iran căm ghét. Liên Xô rút quân khỏi Iran năm 1949 và Mỹ rất lo lắng về sự bất ổn ở đây có thể ảnh hưởng tới sự ổn định của cả khu vực Trung Đông nên đưa Iran vào tầm chiến lược thay vì để mặc cho Anh tự ảnh hưởng như trước. Mỹ khi đó đã thúc đẩy việc thay đổi thỏa thuận cũ về thuê đất sang thỏa thuận 50-50 như ở Venezuela để giải quyết mâu thuẫn này. Người Anh ban đầu cương quyết phản đối vì chính phủ Anh có 51% cổ phần ở công ty Anh-Iran. Công ty này vào những năm 1950 là công ty sản xuất dầu thô lớn thứ 3 thế giới và hoạt động hoàn toàn ở Iran và chiếm 40% sản lượng khai thác ở Trung Đông.
Các thỏa thuận thay đổi phân chia được xác định vào cuối năm 1950 và khi chưa kịp ký kết thì xuất hiện Mohamed Mosadegh đã đề xuất quốc hữu hóa công ty Anh-Iran và được chính phủ Iran phê chuẩn và thực hiện vào tháng 5/1951. Nước Anh già cỗi với đủ ràng buộc thì đang cố gắng giàn sếp để cứu tài sản của công ty Anh-Iran 1 cách tốt nhất. Nhưng người Iran thì muốn loại bỏ hoàn toàn người nước ngoài khỏi Iran. Người Anh áp đặt lệnh cấm vận dầu mỏ lên Iran làm sản lượng khai thác và tiêu thụ của công ty Anh-Iran sụt giảm mạnh. Tới tháng 10/1951 thì toàn bộ người Anh ở nhà máy bị buộc rút khỏi Iran. Iran hoàn toàn bị cô lập và không thể xuất khẩu dầu. Sản lượng dầu của Iran tụt từ 660k thùng/ngày còn 20k thùng/ngày. Cùng thời kỳ đó, sản lượng thế giới tăng mạnh từ 10,9 triệu thùng/ngày lên 13 triệu thùng/ngày vào năm 1952.
Nước Anh thì muốn can thiệp quân sự để lật đổ Mossy già này để có 1 chính phủ hợp lý hơn. Mỹ thì lo ngại khi đó những người Cộng sản sẽ lên nắm quyền ở Iran và đẩy nước này về phê Liên Xô. Họ nghĩ rằng tốt hơn hết nên thỏa thuận được với chỉnh phủ hiện tại về vấn đề công ty dầu mỏ Anh-Iran. Mussy sử dụng sự kích động quần chúng tạo ra các cuộc biểu tình lớn hàng trăm nghìn người tham gia để đè bẹp quốc hội, đảng phái khác và hoàn toàn năm chính quyền Iran vào năm 1953. Nhưng ông cũng ngày càng có xu hướng ngả về Liên Xo tạo ra nỗi lo lắng rất lớn với Mỹ người vẫn cố gắng thỏa thuận với ông.
Khi cuộc hành quân Ajax bắt đầu là sự phối hợp của Mỹ – Anh và vua Iran nhằm lật đổ Mossy bị lộ thì Mossy đã huy động lực lượng chiếm giữ thủ đô Tehran và nhà vua phải vội vã chạy sang Baghdad của Iran để lánh nạn. Tướng Zahadi là người nhận chỉ thị cách chức Mossy từ vua và đã công bố ở Iran, các cuộc biểu tình đòi Mossy từ chức diễn ra khắp nơi. Mossy sau đó bỏ trốn và nhà vua Iran giành lại chính quyền. Mỹ sau đó đã năng nổ tìm cách giải quyết vấn đề dầu mỏ Iran để tránh nước này rơi vào vòng tay LX. Các công ty dầu mỏ Mỹ không mấy mặn mà với thương vụ này vì sự bất ổn ở Iran. Các nước đã xây dựng 1 Công-xooc-xiom mới về dầu mỏ Iran với sự tham gia của Aramco – Jersey, Socony, Texaco, Standard California, Gulf, công ty Anh – Iran, Shell và CPF. 7 công ty cùng tham gia do công ty Anh-Iran đã bị chính phủ Iran loại bỏ. Tới tháng 10/1954 thì thỏa thuận với Iran mới được ký kết chính thức. Sau đó là 1 liên minh nhỏ các công ty lọc dầu độc lập ở Mỹ cũng tham gia. Giờ đây Mỹ là người chỉ đạo đứng đầu của liên minh mới về dầu ở Iran.
- Cuộc khủng hoảng Suez
Dự án xây kênh đào có từ lâu nhưng người ta không chứng minh được tính thực tế của nó cho tới năm 1859 nó được cấp cho 1 công ty tư nhân tên Công ty kênh Suez do Leseps người Pháp khởi xướng. Con kênh này đào 1 đường dài 100 dặm xuyên qua sa mạc ở Ai cập để nối từ Biển Đỏ và Địa Trung Hải và nó hoàn thành 10 năm sau đó vào năm 1869. Con kênh đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian đi tới Ấn Độ và làm nước Anh rất hối tiếp vì đã bỏ lỡ. Tới năm 1875, do khó khăn tài chính mà chính quyền Ai Cập đã bán đi 44% kênh đào này cho Anh để có tiền.
Khi Anh từ bỏ Ấn Độ sau chiến tranh thế giới 2 thì con kênh này bỗng nhiên không còn quan trọng với Anh nữa. Nó giờ đây là tuyến đường quan trọng cho các tầu chở dầu từ vịnh Ba Tư sang châu Âu nhiền hơn. Đất nước Ai cập phong trào dân tộc chủ nghĩa lên cao sau chiến tranh dù vẫn dưới sự bảo hộ của Anh nhưng năm 1952, 1 cuộc đảo chính diễn ra lật đổ vua Ai Cập rồi năm 1954, Đại tá Nasser tiếp tục đảo chính và giành quyền trở thành nhà độc tài tại Ai Cập từ đỏ trở đi. Sau khi giành độc lập cho Ai Cập, Nasser muốn nhiều hơn khi muốn loại bỏ cả Israel ra khỏi lòng các nước hồi giáo. Từ năm 1955, Ai Cập bắt đầu đòi hỏi quyền lợi ở kênh đào Suez vì kênh đào này đang đem lại lợi nhuận chính cho Anh và Pháp. Tháng 7/1956, Nasser sử dụng vũ lực chiếm kênh đào Suez. Nhưng lo ngại mọi hành động có thể làm ngưng trệ hoạt động của con kênh ảnh hưởng tới vận chuyển dầu tư vùng Vịnh về châu Âu nên không có nước nào có hành động gì đáng kể. Mặc dù Anh và Pháp muốn can thiệp quân sự vào để lấy lại con kênh nhưng bị Mỹ từ chối.
Trong khi đó, Nasser lại tỏ ra thân với Liên Xô và trang bị vũ khí và quân đội từ việc mua trang thiết bị của LX. Sau đó Ai Cập gia tăng áp lực lên Israel và rất gây hấn thù địch. Pháp và Anh sau đó đã hợp tác với Israel vì cả 2 rất muốn loại bỏ Nasser. Họ cũng lên phương án dầu khí nếu kênh đào Suez bị phong tỏa. Với sản lượng lớn từ Mỹ và Venezuela thì có vẻ không có nhiều lo ngại.
Tháng 10/1956, Israel bắt đầu tấn công vào Sinai và chiếm đóng dải Gaza, không quân Anh ném bom các sân bay của Ai Cập và tiến đến chiếm lại kênh đào Suez từ tay quân Ai Cập. Quân Ai Cập đã phải rút khỏi khu vực này về lại Ai Cập. Việc kênh Suez bị đóng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn cung dầu ở Tây Âu trong khi Mỹ chưa kịp cung cấp để bù đắp. Cuối cùng cuộc tấn công nhằm chiếm lại kênh đào Suez của Anh và Pháp đã thất bại và Ai Cập kiểm soát hoàn toàn kênh đào này từ năm 1957 trở đi.
- Những con voi
Các mỏ dầu lớn thuật ngữ trong ngành gọi là “con voi”, và ở Trung Đông số lượng các con voi tăng lên nhanh chóng trong những năm 1950. Giai đoạn này sản lượng dầu mỏ tăng chóng mặt từ mức 8,7 triệu thùng/ngày năm 1948 lên 42 triệu thùng/ngày năm 1972. Ở Mỹ sản lượng tăng từ 5,5 triệu thùng/ngày lên 9,5 triệu thùng/ngày ở cùng thời kỳ. Tỷ trọng khai thác dầu của Mỹ giảm từ 64% thế giới về còn 20%. Ở Trung Đông sản lượng tăng từ 1,1 triệu thùng/ngày lên 18,2 triệu thùng/ngày. Trữ lượng dầu ở các nước không tính các nước XHCN từ mức 62 tỷ thùng ước tính năm 1948 lên tới 534 tỷ thùng vào năm 1972. Mỹ trữ lượng ước tính từ 21 tỷ thùng lên 38 tỷ thùng trong khi Trung Đông từ mức ước tính 28 tỷ thùng nhẩy lên 367 tỷ thùng.
Tại Trung Đông, nhóm 7 chị em gồm Aramco – Exxon – Mobil – Chevron – Texaco – Gulf – Royal Dutch Shell – BP là nhóm kiểm soát hầu hết hoạt động dầu mỏ tại khu vực này và gọi là câu lạc bộ Anglo-Saxon. Các công ty dầu mỏ ở các nước khác cũng cố gắng thâm nhập vào khu vực này để có thể tự chủ dầu mỏ như Italia, Nhật Bản với tỷ lệ cho nước chủ nhà cao hơn so với nhóm 7 công ty cũ.
Tại khu vực phức tạp này, Nasser sau khi thành công có khoản tiền vay từ Liên Xô xây đật Aswan đã vận động ủng hộ việc Iraq lật đổ nhà vua bù nhìn do Anh dựng lên trước đây khi tách Iraq độc lập. Cuộc đảo chính của quân đội nổ ra năm 1958 ở Iraq đã chấp dứt chế độ quân chủ của nhà Faisal. Venezuela cũng trải qua nhiều lần thay đổi chính quyền từ dân chủ sang độc tài rồi lại dân chủ độc tài làm chín sách khác bất ổn tại đây. Nước Nga cũng tăng sản lượng rất mạnh vào những năm 1950 ở khu vực Volga-Ural khi Nga vươn lên sản lượng khai thác số 2 thế giới và bằng 3/5 sản lượng khu vực Trung Đông vào năm 1955 và trở thành đối tác xuất khẩu lớn toàn cầu vào năm 1958. Năm 1959, hội nghị dầu mỏ Ả-rập tại Cairo, Ai Cập đã quy tụ các nhà sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới đã rất bất bình với nhóm các công ty Anglo-saxon và họ đã bắt đầu thỏa thuận với nhau các kế hoạch phân chia lại mới như việc đổi phân chia lợi nhuận từ 50-50 sang 60-40 nghiên về nước chủ nhà, họ lập ra Ủy ban tư vấn đầu mỏ để bảo vệ cơ cấu giá và liên minh này là tiền đề cho Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ – OPEC sau này.
- OPEC và giếng dầu sôi sục
Sản lượng dầu liên tục tăng và tình trạng dư cung ở mức độ toàn cầu liên tục diễn ra, đặc biệt khi Liên Xô liên tục đẩy mạnh khai thác và bán dầu vào Tây Âu và liên tục hạ giá bán để cạnh tranh. Các ông chủ của các công ty dầu mỏ ở Mỹ thì không hiểu tâm lý các lãnh đạo theo dân tộc chủ nghĩa ở các nước xuất khẩu dầu mỏ và việc giảm giá dầu cạnh tranh của họ đã gây tổn hại lớn lao tới các nước xuất khẩu dầu.
Năm 1959, BP đơn phương giảm giá lần đã gây ức chế lên toàn bộ các nước xuất khẩu dầu ở Trung Đông thì tới năm 1960, Standard Oil Jersey (Exxon) lại tiếp tục giảm giá thêm 7% giá dầu Trung Đông và cơn bạo phát của những người xuất khẩu dầu bắt đầu. Iraq lúc đó đã cầm đầu các nước từng ký liên minh năm 1959 thành lập Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ OPEC gồm 5 quốc gia sáng lập là: Ả-rập Xê-út, Venezuela, Cô-oét, Iraq, Iran vào ngày 14/9/1960. Mặc dù vậy, vai trò của OPEC là ít ảnh hưởng trong thập niên đầu khi nó được thành lập. Ít công ty để ý tới tổ chức này.
Năm 1958, sau các nỗ lực nhằm tự chủ dầu mỏ của Pháp thì họ cũng tìm thấy dầu ở Angieri và bắt đầu khai thác dầu và xuất khẩu về Pháp. Nguồn dầu mỏ từ xa mạc Sahara mặc dù khó khai thác nhưng cũng đã đáp ứng 94% nhu cầu của Pháp. Nhóm các công ty khai thác dầu ở châu Phi này sau đó sáp nhập lại với nhau thành công ty dầu mỏ Elf hiện nay. Libya là đất nước nghèo đói bị lãng quên sau chiến tranh thế giới II sau khi bị tướng Rommel của Đức và quân Anh quần thảo liên tục trong các cuộc chiến. Họ tập hợp nhau lại thành nước Libya ngày nay. Tại đây họ bắt đầu đấu thầu với 17 công ty tham gia thăm dò tại đây. Năm 1959 mỏ dầu bắt đầu được tìm thấy ở Zelten và tới năm 1961 có 10 mỏ dầu lớn được phát hiện và quốc gia này bắt đầu xuất khẩu dầu mỏ với tên được gọi là “dầu ngọt”. Loại dầu này là nguyên liệu sản xuất xăng chất lượng cao tuyệt vời, và họ có tuyến đường vận chuyển rất dễ dàng và an toàn sang châu Âu. Tới năm 1965, Libya đã trở thành quốc gia xuất khẩu dầu lớn thứ 6 thé giới, cung cấp 10% lượng dầu xuất khẩu toàn cầu với sản lượng hơn 3 triệu thùng/ngày, sản lượng thực của Libya năm 1969 còn vượt qua cả Ả-rập Xê-út.
Tại Ý, Mattei đã tăng cường mạnh mẽ thu mua dầu của Liên Xô và biến công ty ENI và AGIP thành lực lượng cung cấp dầu lớn ở quy mô toàn cầu và gây sức ép lên các chính phủ Mỹ và châu Âu. ENI của ông là công ty dầu mỏ độc lập nằm ngoài nhóm lớn kia lớn nhất thế giới. Năm 1962 ông bất ngờ qua đời vì tai nạn máy bay nhưng cũng đã làm cán cân quyền lực trong ngành dầu mỏ thế giới đã thay đổi hoàn toàn. Số lượng công ty dầu mỏ gia nhập ngành tăng chóng mặt và người ta đi tìm dầu ở khắp mọi nơi. Trước đây chỉ có 7 ông lớn sở hữu trên 200 triệu thùng dầu vào năm 1953 thì tới năm 1972, có ít nhất 13 đấu thủ mới ngoài 7 công ty này có dự trữ trên 2 tỷ thùng và sở hữu tới 112 tỷ thùng dầu dự trữ, sản lượng hơn 5,2 triệu thùng/ngày. Thị trường rõ ràng đã trở nên rất đông đúc người chơi và hệ quả là giá giảm và hiệu quả kinh doanh đi xuống.
Để giá dầu lên, họ cần kiểm soát nguồn cung từ khu vực Trung Đông và đặt các hạn ngạch khai thác, xuất khẩu cho từng nước. Mối bất hòa giữa Ả-rập Xê-út và Iran bắt đầu khi không ai chịu ai trong phân chia hạn gạch dầu này. Họ cũng căng thẳng về tôn giáo khi 1 nước theo dòng Sunni còn nước kia theo dòng Shia và ai cũng muốn là nước lãnh đạo thế giới hồi giáo. Vai trò của vua Iran lên rát cao trong giai đoạn này và các công ty và cả nước Mỹ đều phải nhượng bộ họ.
Tại Iraq, quốc gia này khá cực đoan đã thu lại 99,5% quyền khai thác của IPC và công ty này đã dừng đầu tư mở rộng ở đây và sản lượng của Iraq tăng rất chậm. Trong khi Ả-rập Xê-út tăng tới 387%, Iran tăng 258%. Exxon cũng đã từ chối cơ hội ở Oman do lo ngại Ả-rập Xê-út phản đối và đã để lại đất nước này cho Shell chiếm lĩnh. Nước Mỹ cũng đặt ra hạn ngạch nhập khẩu dầu để bảo vệ việc khai thác dầu ở Mỹ và đảm bảo an ninh năng lượng nếu có biến động trong tương lai.
- Con người hydrocarbon
Cả thế giới bước vào khuynh hướng tiêu thụ dầu mỏ nhiều hơn từ dùng làm nhiên liệu đơn thuần cho tới ứng dụng dầu mỏ vào các lĩnh vực khác. Mức tiêu thụ dần mỏ ở Mỹ tăng gấp 3 từ 5,8 triệu thùng/ngày năm 1948 lên 16,4 triệu thùng/ngày vào năm 1972. Nhu cầu dầu ở Đông Âu tăng 15 lần từ 970k thùng/ngày lên 14,1 triệu thùng/ngày. Ở Nhật cũng tăng 137 lần từ 32k thùng/ngày lên 4,4 triệu thùng/ngày. Điều này đến từ sự giâu có lên nhanh chóng của các nước phát triển. Như ở Mỹ lượng oto tăng mạnh từ 45 triệu chiếc năm 1949 lên 119 triệu chiếc vào năm 1972. Ở ngoài nước Mỹ, số lượng oto còn tăng mạnh hơn nhiều từ 18,9 triệu chiếc lên 161 triệu chiếc. Giá dầu cực rẻ trong những năm 1950-1960 cũng khuyến khích ứng dụng dầu vào rất nhiều mặt hàng đặt biệt là chất dẻo, nhựa. Giai đoạn này than đá cũng bị hoàn tòa hạ bệ vai trò trên phạm vi toàn cầu nhường chỗ cho than đá. Chỉ còn các nước đang phát triển là vẫn sử dụng nhiều than đá. Các công ty khai thác dầu dư thừa công suất gặp hạn gạch nhập khẩu ở Mỹ đã chủ yếu tập trung bán vào châu Âu. Các công ty cũng tung ra đủ chiêu trò quảng cáo xăng của mình như thêm phụ gia, hiệu suất cao hơn, công kích sản phẩm đối thủ có thể gây hỏng hóc máy móc,… nhìn chung hầu hết là các chiêu trò marketing của các hãng. Nước Mỹ đã có quá trình đô thị hóa rất lớn khi các vùng nông thông xây dựng các thị trấn, các con đường cao tốc được xây dựng khắp nơi đã tạo ra 1 văn hóa sử dụng xe oto bùng nổ ở Mỹ và sản lượng tiêu thụ xăng tăng bùng nổ theo.
Mọi thứ đang yên bình thì Nasser của Ai Cập không chịu chấp nhận thất bại năm 1956 với Israel và tiếp tục tìm cách trở thành thủ lĩnh của thế giới hồi giáo. Ai Cập lại tiếp tục tạp trung quân đội và quay trở lại Jordan và tiến về Sinai. Lần này có thêm sự tham gia của Iraq và các nước vùng Ả-rập đều có mục tiêu kẻ thù chung là Isael. Ngày 5/6/1967, Israel đã tấn công và cuộc chiến tranh thứ 3 giữa Ả-rập và Israel bắt đầu. Cuộc chiến chỉ diễn ra 6 ngày và quân Ai Cập nhanh chóng bi đánh bại và sụp đổ. Quân Israel tiến tới tận bờ đông kênh đào Suez và Ai Cập phải ngừng bắn khẩn cấp. Israel sau đó chiếm hoàn toàn Sinai, vùng bờ Tây, Jerusalem và cao nguyên Golan.
Các nước Ả rập đã thực hiện sức mạnh dầu lửa bằng cách cấm vận dầu lửa của họ tới các nước ủng hộ Israel mà cụ thể là Mỹ, Anh và tây Đức. Cuộc khủng hoảng này đã loại bỏ 6 triệu thùng dầu/ngày từ khu vực này. Nó nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng ở kênh đào Suez nhiều. Mặc dù sốc trong 1 thời gian ngắn nhưng nguồn dầu bổ sung lại ồ ạt ra và chính sách của các nước Ả-rập thất bại hoàn toàn chỉ sau 4 tháng và lệnh cấm vẫn đầu mỏ bị bãi bỏ.
- Cuộc chiến giành quyền bá chủ thế giới
- Những năm tháng bản lề: Các quốc gia chống lại các công ty
Những năm cuối 1960, nền tảng chính trị của cả Anh và Mỹ đều suy yếu mạnh khi Mỹ sa lầy trong chiến tranh ở VN. Anh bắt đầu rút quân hoàn toàn khỏi khu vực vùng Vịnh kể từ khi có mặt những năm 1800. Họ để lại các nước mâu thuẫn nhau và 1 tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất tập hợp các tiểu quốc nhỏ lại. Mỹ thì áp dụng học thuyết Nixon với việc sử dụng các lãnh tụ địa phương để quản lý. Liên Xô thì đỏ quân lớn vào Iraq và ủng hộ nước này trở thành bá quyền khu vực, trong khi Mỹ lại ủng hộ vua Iran.
Về mặt cung cầu, cầu thị trường dầu mỏ đã bắt đầu bắt kịp cung khi sản lượng dầu mỏ toàn thế giới tăng từ 19 triệu thùng/ngày năm 1960 lên 44 triệu thùng/ngày năm 1970. Nguồn cung dầu giờ đây đã phụ thuộc rất nhiều vào Trung Đông và Bắc Phi. Nước Mỹ cũng kết thúc thời kỳ đủ dùng và bắt đầu suy giảm sản lượng và phải nhập khẩu dầu mỏ liên tục. Sản lượng nhập khẩu tăng liên tục từ 2,2 triệu thùng/ngày năm 1967 lên 6 triệu thùng/ngày năm 1973. Nhập khẩu và tổng mức tiêu thụ dầu trong thời kỳ này tăng từ 19% lên 36%.
Tại Mỹ, khu vực Alaska bắt đầu được quan tâm tìm kiếm thăm dò dầu mỏ mạnh mẽ hơn đặc biệt sau các cuộc khủng hoảng ở Trung Đông làm các nhà sản xuất dầu mỏ lo lắng về sự ổn định ở khu vực này. Richfield là công ty kiên trì tìm kiếm dầu ở đây nhất và sau đó họ có sáp nhập với công ty khác thành ARCO do Anderson điều hành. Họ đã tìm thấy dầu và bắt đầu các kế hoạch khai thác dầu ở đây nhưng rất khó khăn vì điều kiện thời tiết và hạn chế của công nghệ.
Tại Trung Đông, tiến sỹ Hammer, chủ tịch của hãng dầu lửa Occidental. Hammer là con 1 gia đình do thái nhập cư tại NY và rất năng nổ kinh doanh. Năm 1921 khi mới tốt nghiệp y khoa ông đã sang Liên Xô kinh doanh và rất được Lenin yêu quý. Khi tình hình xấu đi ông ra rời Nga và tiếp tục kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau ở Mỹ cho tới năm 1956 ông mua công ty gần phá sản tên Occidental và không hề biết gì về ngành dầu mỏ. NĂm 1961 họ bắt đầu thấy dầu ở California và doanh số tăng manh lên tới 700 triệu USD vào năm 1966. Hammer là bậc thầy về đàm phán hàng đầu và đã đưa Occidental thành công ty hàng đầu thế giới trong ngành dầu mỏ.
Hammer là cầu nối cho Liên Xô với Mỹ trong suốt thời gian dài, ông có quan hệ với 5 đời tổng bí thư Liên Xô và 7 đời tổng thống Mỹ. Occidental trúng thầu 2 lô 102 và 103 ở Libya vào năm 1965 và bắt đầu thăm dò tại đây. Họ đã khoang trúng giếng dầu với sản lượng 43k thùng/ngày vào năm 1966 và sau đó là 1 giếng 75k thùng/ngày. Tới năm 1967, Occidental sở hữu tới 3 tỷ thùng dầu dự trữ tại đây và nhanh chóng khai thác 800k thùng/ngày và đưa Libyra thành nước xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới và công ty Occidental thành công ty sản xuất dầu lớn thứ 6 thế giới từ con số 0.
Ngày 1/9/1969, al-Qaddafi đã tiến hành đảo chính nắm chính quyền ở Libya và lật đổ vị vua già ở đây. Sau đó Qaddafi bắt đầu tấn công ngành dầu mỏ vào tháng 1/1970 và mục tiêu là hãng Occidental không có nguồn dầu mỏ thay thế nào khác ngoài Libya. Cuối cùng họ phải chấp nhận việc Libya tăng 20% thuế và phí thuê mỏ dầu. Việc phân chia lợi nhuận cũng tăng từ 50 lên 55% cho Libya. Sau đó các nước vùng Vịnh cũng lũ lượt nâng lên 55%, và sau đó Venezuela tăng lên 60%. Sau đó Libya tiếp tục leo theo khi quốc hữu hóa từng phần các công ty dầu mỏ rồi sau đó quốc hữu hóa toàn bộ.
- Vũ khí dầu lửa
Tháng 10/1973, quân Ai Cập lại 1 lần nữa tấn công Israel nhằm lấy lại quyền kiểm soát bờ phía Đông kênh đào Suez và Sinai. Ở biên giới, máy bay chiến đấu của Syria cũng bắt đầu tấn công Israel đồng loạt với sự yểm trợ của pháo binh. Đây là khởi đầu cho cuộc chiến tranh lần 4 giữa Ả-rập và Israel. Lực lượng 2 bên có sự trang bị hùng hậu nhất với Mỹ ở Israel và Liên Xô ở phe Ả-rập. Vào đầu những năm 1970, cụm từ khủng hoảng năng lượng bắt đầu được nhắc đến ở Mỹ khi số lượng giàn khoan bắt đầu suy giảm nhanh chóng ở nội địa và đỉnh sản lượng được thiết lập và bắt đầu suy giảm hàng năm. Thị trường của người bán kiểm soát bắt đầu hình thành rõ ràng khi cầu bắt đầu vượt vung 1 cách rõ ràng.
Tháng 9/1973, Libya đã quốc hữu hóa 51% các công ty còn lại mà chưa quốc hữu hóa trước đây và nắm quyền chi phối các công ty dầu mỏ ở Libya. Các thành viên cấp tiến trong OPEC như Iraq, Angieri, Libya bắt đầu sửa đổi các thỏa thuận Tehran và Tripoli để kiểm soát mạnh mẽ hơn về giá và sản lượng trong khối OPEC. Họ viện dẫn việc lạm phát giá tăng và đồng USD mất giá nên cần thiết phải tăng giá bán và giá dầu đã tăng gấp 2 từ 1970 tới 1973. Khi Nasser qua đời để lại Ai Cập cho Sadat với 1 đất nước yếu kém về kinh tế do chủ nghĩa Ả-rập muốn lập 1 nhà nước thống nhất rtari dài từ Vịnh Ba Tư tới Đại Tây Dương nhưng đã thất bại 3 lần liên tiếp trong các cuộc chiến tranh với Israel. Ông muốn đàm phán kết thúc nhưng ở thế yếu và Mỹ không quan tâm tới Ai Cập. Vì vậy, Sadat đã sử dụng chiến thuật tham gia chiến tranh để tạo ra khủng hoảng để mở đường cho đàm phán.
Tháng 7/1973, sản lượng của khu vực Vùng Vịnh là 8,4 triệu thùng/ngày trở thành khu vực chiếm 21% sản lượng thế giưới và có vị thế nhất thế giới về nguồn cung dầu mỏ. Từ những năm 1950 vũ khí dầu mỏ đã được đề cập nhưng vị thế chưa đủ và giờ là lúc vũ khí này đủ vị thế để họ sử dụng. Vị vua Ả-rập Xê-út Faisal đã là đồng minh của Mỹ từ đầu nhưng rất lo ngại về chủ nghĩa phục hưng do thái của Israel và sự bành chướng của Liên Xô đã mong Mỹ phải hành động để kiềm chế Israel nhưng bất thành. Trong khi Sadat đang thuyết phục ông sử dụng vũ khí dầu mỏ để trừng phạt các nước ủng hộ Israel để mở ra mặt trận thứ 2 ngoài chiến tranh trên chiến trường.
Cuộc tấn công dù được dự báo và nhiều nguồn tin tình báo từ trước nhưng cả Mỹ và Israel đã bỏ qua chúng và coi thường Ai Cập nên khi cuộc chiến nổ ra thì liên quân Ai Cập – Syria đã giành áp đảo và Israel bị rơi vào bị động lớn. Israel đã phải khẩn cấp nhờ sự chi viện của Mỹ mới có thể sống sót qua cuộc chiến này. Lúc đó OPEC đang đòi hỏi tăng giá dần 100% và các công ty Mỹ đang cương quyết từ chối. Khi Mỹ chi viện cho Israel thì cả thế giới Ả-rập đều thấy điều đó. Tới 16/10/1973, các nước OPEC đơn phương tăng giá dầu thêm 70% lên 5,11$/thùng. Cuộc họp của OPEC đã bắt đầu ra các quyết định về các biện pháp cắt giảm sản lượng bán cho Mỹ để trừng phạt nước này vì đã công khai ủng hộ viện trợ cho Israel. Tới 20/10/1973, Ả-rập Xê-út đồng minh chính của Mỹ ở Vùng Vịnh cũng bắt giảm mạnh sản lượng và tầu vận chuyển đầu tới Mỹ để phản đối Mỹ. Ngay trong khủng hoảng Vùng Vịnh, vụ bê bối Watergate bùng nổ làm rối trí tổng thống Mỹ Richard Nixon.
- Trả giá cho cuộc sống
Cuộc trừng phạt và cắt giảm sản lượng diễn ra cùng lúc vào cuối năm 1973 đã gây sốc cho nước Mỹ và phần còn lại nhập khẩu dầu. Sản lượng khu vực từ 20,8 triệu thùng/ngày đã bị cắt giảm còn 15,8 triệu thùng/ngày. Nhưng riêng Iraq lại tăng sản lượng, sự thật là nguồn cung chỉ giảm khoảng 4,4 triệu thùng/ngày tức khoảng 9% trong tổng số 50,8 triệu thùng/ngày. Nhưng vì thiếu số liệu về sản lượng thực tế nên người ta đã phóng đại ảnh hưởng của nó lên và tạo ra sự hoảng loạn toàn cầu. Vì vậy giá dầu đã tăng 1 mạch lên 17$/thùng vào tháng 12/1973 tức tăng 600% so với giá ngày 16/10/1973.
Sự thiếu hụt thông tin thật sự đã để lại thảm họa cho nền kinh tế thế giới vào kéo cả thế giới vào đợt suy thoái lớn từ Mỹ tới châu Âu, Nhật Bản đều chìm trong lo lắng thiếu hụt nguồn cung nhiên liệu, giá hàng hóa tăng vọt gấp 2, gấp 4 trước đợt cấm vận dầu mỏ và tạo ra lạm phát khủng khiếp cho các nước. Các công ty dầu mỏ trở thành đối tượng bị tấn công vì cho là đã chủ động đầu cơ đẩy giá lên, rồi tới các chính phủ vì sự yếu kém trong dự trữ và chuẩn bị ứng phó với các khủng hoảng tiềm tàng có thể xảy ra.
Các nước OPEC thì cung cấp dầu cho các nước ưu tiên và dừng bán cho 1 số nước bị cấm vận mà chủ yếu là Mỹ. Giá cả niêm yết chính thức cũng bị đẩy lên cao từ mức 1,8$/thùng năm 1970 lên 11,65$/thùng vào tháng 12/1973 và sau đó họ nới lỏng lệnh cấm vận vào cuối tháng 12/1973 và sau đó dỡ bỏ hoàn toàn vì chiến tranh giữa Israel và liên quân Ai Cập – Syria cũng đã kết thúc. Nhưng rõ ràng các tay chơi Trung Đông đã thành công đưa dầu mỏ thành quân bài chiến lược và có tâm ảnh hưởng toàn cầu và nâng cao vị thế chiến lược vô cùng quan trọng của họ trên bản đồ địa chính trị toàn cầu.
- Uy quyền tuyệt đối của OPEC
Dù ban đầu không được mấy chú ý, nhưng tới đầu những năm 1970, OPEC đã trở thành tay chơi chính trên diễn đàn thế giới với hầu hết các nhà xuất khẩu dầu mỏ tham gia trừ Liên Xô. Họ có uy quyền quyết định liệu có lạm phát hay suy thoái không. Hò là nhà băng của thế giới và thời kỳ hoàng kim có quyền lực nhất của họ là những năm 1974-1978 khi tất cả phải tâng bốc, chỉ trích, lên án họ.
Giá xăng dầu tăng 4 lần trong 1 thời gian ngắn, quyền lực định giá nằm trong tay OPEC đã tạo ra sự thay đổi lớn lao trong xã hội các nước. Tổng thu nhập từ dầu của các nước xuất khẩu tăng từ 23 tỷ USD năm 1972 lên 140 tỷ USD năm 1977. Họ đã tích góp được khoản thặng dư rất lớn về tài chính. Và các nước này bắt đầu thời kỳ xây dựng hạ tầng, chi tiêu chóng mặt cho đủ mọi thứ từ quân sự, nhu yếu phẩm, hàng xa xỉ, tham nhũng,…và từ mức thặng dư 67 tỷ USD năm 1974, sự chi tiêu quá mức làm các nước OPEC sang thâm hụt -2 tỷ USD vào năm 1978 dù thu nhập vẫn tăng vọt.
Quá phấn kích với việc tăng giá dầu mạnh năm 1973 và Shah vị vua của Iran coi đây là chiến thắng cá nhân và khẳng định vai trò của Iran dẫn dắt nhóm OPEC. Và cuộc cạnh tranh vai trò dẫn đầu của Iran với Ả-rập Xê-út đã âm thầm diễn ra trong nội bộ tổ chức này. Mỹ thì lo lắng sự bất ổn nên không thật sự tích cực trong việc hạ giá dầu mà giữ nó ổn định. Khi tiền lớn đổ về thì cả 2 nước Iran và Ả-rập Xê-út đều mua lượng lớn vũ khí từ Mỹ đặc biệt là Iran họ là khách hàng lớn nhất ở khu vực này của Mỹ. Và Iran vẫn thể hiện là đồng minh thân cận nhất của Mỹ suốt những năm 1970 này. Nhờ mối quan hệ mất thiết với cả Iran và Ả-rập Xê-út, Mỹ cuối cùng cũng kiểm soát được đà tăng của giá dầu và chỉ có cấc đợt tăng nhỏ với giá năm 1977 được ấn định là 12,7$/thùng do 2 nước này chiếm tới 48% sản lượng của khối OPEC.
Việc chấm dứt nhượng quyền khai thác ở khu vực cũng được thực hiện trong những năm 1970 này khi Iraq quốc hữu hóa IPC vào năm 1972, sau đó là Cô-oét, Venezuela, Ả-rập Xê-út cũng lần lượt quốc hữu hóa và nắm quyền kiểm soát các công ty dầu khí các nước này. Tới năm 1972, Cô-oét quốc hữu hóa hoàn toàn công ty dầu mỏ Cô-oét và 2 đối tác là BP và Gulf nhận 50 triệu USD và ra đi. Ở Venezuela, các hợp đồng nhưỡng quyền tới năm 1983 hết hạn và không hợp đồng nào được gia hạn nữa và chính quyền Venezuela nắm lại ngành dầu mỏ nhưng họ thấy quá lâu và đẩy nhanh tiến trình lấy lại quyền kiểm soát dầu mỏ vào năm 1976. Tại Ả-rập Xê-út, Aramco cũng được quốc hữu hóa hoàn toàn vào năm 1976 và các công ty Mỹ cũng phải rút khỏi liên doanh này.
- Sự điều chỉnh
Các quốc gia những năm 1970 tập trung phát triển công nghiệp nhưng thường trực nỗi lo phụ thuộc hoàn toàn vào dầu mỏ và cần phải thúc đẩy chính sách an ninh năng lượng nhằm giảm phụ thuộc việc nhập khẩu dầu mỏ. Các công ty dầu mỏ có mức lợi nhuận lợi những năm này khi giá dàu tăng vào và trở thành tâm điểm bị thù ghét ở nước Mỹ và khắp mọi nơi trên thế giới. Các đợt điều tra lớn về các loại lợi nhuần mờ ám, đòi hỏi điều chỉnh cách kiểm soát dầu mở ở Mỹ nhằm làm hạ giá dầu được đặt ra. Các công ty dầu mỏ bị các cuộc điều tra, điều trần bủa vây liên tục không ngừng. Các chính sách năng lượng của Mỹ giai đoạn này rất rối loạn và không đi đến đâu.
Các công ty dầu mỏ lớn ở Mỹ chứng kiến sụt giảm mạnh dự trữ khi dữ trữ dầu giảm 27%, dự trữ kí giảm 24% và nhiều công ty đã đa dạng hóa sang các lĩnh vực khác ngoài dầu mỏ do lo ngại hết dầu ở Mỹ. Các quốc gia OPEC chiếm 65% tổng sản lượng dầu thế giới năm 1970 và giảm còn 62% vào năm 1978. Các công ty dầu mỏ đa quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề do các quốc gia thế giới thứ 3 đã quốc hữu hóa hầu hết các công ty dầu mỏ của họ trước đây và giờ đây họ đang tập trung phát triển ở các khu vực Alaska và biển Bắc. Năm 1978, dường ống dẫn đầu dài 800km từ Alaska cũng hoàn thành và bắt đầu đưa dầu về Mỹ với sản lượng 2 triệu thùng/ngày. Ngoài ra, nguồn cung từ vùng biển Mexico và biển Bắc bắt đầu gia nhập thị trường. Đặc biệt khi tổng thống Portillo giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử và nhận chức năm 1976. Năng lực khai thác dầu ở Mexico bùng nổ từ mức 830k thùng/ngày năm 1972 lên 1,9 triệu thùng/ngày năm 1980 và nước này quay trở lại xuất khẩu dầu thay vì chỉ dùng trong nước như trước đây.
Khi Hà Lan thấy 1 mỏ khí lớn vào năm 1965 thì mối quan tâm tới khu vực biển Bắc bắt đầu và người ta bắt đầu thăm dò ở đây. Người đi đầu là hãng Phillip của Mỹ từ năm 1962 nhưng không mấy kết quả. Khi đã quá chán nản, thì tháng 11/1969, họ tìm thấy dầu ở Block 2/4 ở mở Ekofisk trên lãnh hải Na Uy. Sau đó là cuộc đổ bộ ồ ạt tích cực khoan sâu của các công ty trên khắp vùng biển Bắc trải dài tới Anh với hàng loạt tên tuổi như BP năm 1970, Exon năm 1971. Khu vực này khí hậu thất thường và chi phí khai thác thật sự rất tốn kém. Tới năm 1978, 3 khu vực mới là Alaska, Mexico và biển Bắc gộp lại cung cấp khoảng 6-7 triệu thùng/ngày nhưng vẫn là quá ít so với nhu cầu tổng thể và so với khối OPEC.
- Cú sốc thứ 2: Đại khủng hoảng
Khi mối quan hệ giữa Mỹ và vua Iran Shah đang tốt đẹp thì cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran nổ ra. Đây là cuộc chiến kéo dài âm ỉ từ lâu giữa Reza Shah và các tu sĩ dòng Shiite mà đứng đầu là thủ lĩnh Khomeini đang sống lưu vong tại Iraq. Đất nước này có nguồn tài chính khổng lồ từ dầu mỏ nhưng nó lại phát triển trong sự rối loạn và hoang phí. Khomeini mồ côi sớm và sau đó lfa 1 giảng sư nổi tiếng về luật và triết học Hồi giáo và là hiện thân cho hồi giáo chính thống và thủ lĩnh phe chống đối nhà vua. Khomeini luôn truyền bá tư tưởng về 1 nước Cộng hòa Hồi giáo dưới sự kiểm soát của giới tăng lữ. Tới năm 1962 thì ông bị bỏ tù và nhiều lần vào ra nhà tù rồi sang đó ông trốn sang tị nạn ở Iraq và từ đó tuyên truyền chống đối lại vua Iran.
Thêm vào đó, chính quyền Carter những năm này lại liên tục cổ vũ nhân quyền và đánh giá Iran ở cuối bảng nhân quyền càng làm cho phe hồi giáo chính thống tuyên truyền mạnh với người dân trong nước Iran về 1 bạo chúa và mất nhân quyền ở Iran, vẽ ra viễn cảnh 1 chính quyền sống điều độ theo đạo đức hồi giáo. Biển tình bắt đầu nổ ra tại Qom quê hương của Khomeini và lan rộng ra khắp cả nước. Cảnh sát Iran đã dùng vũ lực giải tan biểu tình nhưng bất thành. Nhưng vua Iran lúc đó đã nắm quyền 37 năm và tỏ ra khinh thường các đối thủ đối lập của mình và tin chắc vào vị thế giầu có và lực lượng an nình hùng mạnh của mình đang có. Lực lượng an ninh Mỹ thì bị mù tịt thông tin ở Iran nên cũng chậm chạp không có phản ứng đáng kể nào.
Các cuộc biểu tình kéo dài suốt 2 năm làm tan rã hoàn toàn nền kinh tế và chính trị của Iran. Các cuộc biển tình đã thu hút cả những người làm ở ngành công nghiệp dầu mỏ và sản lượng của Iran tụt mạnh từ 5,5 triệu thùng/ngày còn <1 triệu thùng/ngày. Nước Mỹ thì chính sách rối loạn và không quyết liệt ở Iran. Các cuộc biển tình và sẵn sàng tử vì đạo bùng phát khắp Iran, hoạt động khai thác dầu tê liệt hoàn toàn vào tháng 12/1978 và các nhân viên Exxon ở đây bắt đầu chuẩn bị di tản. Mỹ vẫn chưa thể có bất kỳ kế hoạc gì vì lung lay giữa giúp vua Iran hay ủng hộ chính phủ tiếp theo. Giá dầu tăng vọt sau khi sản lượng của Iran bị đứt gãy.
Ngày 16/1/1979, vua Iran ra san bay và rời đất nước bỏ lại 1 chính quyền đầy rối loạn và đất nước hoang toàn sau 2 năm bạo loạn và biển tình triền miên. Ngày 1/2/1979, Khomeini trở về Iran từ Pháp nơi ông sống lưu vong và được chào đón như người anh hùng giải phóng dân tộc. Giai đoạn sụt giảm sản lượng của Iran này tạo ra 1 cơn hoảng loạn khá lớn vì nó làm thiếu hụt 4-5% sản lượng dầu thế giới. Dầu đã tăng 150% trong giai đoạn này. Và sau khi cách mạng hồi giáo nổ ra, giá dầu lại tiếp tục tăng mạnh do lo sợ cơn địa chấn này có thể bùng nổ ở nhiều vùng dầu khí khác. Giá dầu đã thật sự tăng từ mức 13$/thùng lên 34%/thùng sau 2 năm kể từ rắc rối biểu tình ở Iran năm 1978.
Sự thiếu hụt của Iran đầu tiên gây khủng hoảng cho hãng dầu BP vì 40% sản lượng của họ là từ Iran. Sự thiếu hụt đã làm họ điên cuồng thu gom đầu ở nơi khác đẩy ra lên rất mạnh. Rồi kéo theo Exxon, rồi các nhà máy lọc dầu ở Nhật nơi cũng phụ thuộc 20% vào dầu Iran,…Cơn khủng hoảng lo ngại thiếu nguồn cùng năm 1979 lại ùa về khi năm 1973 vừa mới xảy ra. Hàng đoàn người đứng chờ đợi đổ xăng do lo ngại thiếu hụt nguồn cung. Trong khi đó Ả-rập Xê-út vẫn giữa sản lượng 8,5 triệu thùng/ngày như quy định trong OPEC và thiếu hụt từ Iran mãi tới tháng 7/1979 họ mới tăng sản lượng lên 9,5 triệu thùng/ngày để giảm cơn khát dầu mỏ.
Năm 1978, Mỹ đã là trung gian cho hiệp đình hòa bình giữa Israel và Ai Cập là trại David. OPEC sức mạnh dầu khí lên cao Iraq sau đó tuyên bố áp đặt lệnh cấm vận đầu mỏ lên Ai Cập để phản đối nước này tư bỏ khối liên minh Ả-rập. Sản lượng của khối OPEC vẫn được giữ ở mức thấp nhằm hỗ trợ giá cao, các nước nhập khẩu vẫn lo sợ và tiêp tục gia tăng dự trữ dầu mỏ. Các nước OPEC thì không ngừng tăng giá dầu bằng mọi cách cỏ thể để trục lợi.
- Chúng tôi cùng đường rồi
Sau khi vua Iran rời đi, các phần tử quá khích đã đốt cháy 1 phần đại sứ quán Mỹ tại Tehran vì coi Mỹ là đầu trò giật dây vua Iran và là kẻ thù của Iran tương tự như trước đây người dân Iran ghét người Anh. 63 người Mỹ còn lại ở đây bị bắt và trở thành con tin trong cuộc khủng hoảng con tin ở Iran vào tháng 1/1979 này. Đây là hành động của các phần tử cuồng tín nhằm phản đối chính phủ mới lập của Bazargan vì ông ta đang đối thoại với Mỹ. Các phần tử dưới sự chỉ đạo của Khomeini đã gợi nên sự lo lắng rằng chính phủ mới của Iran sẽ vẫn là 1 chính phủ thân Mỹ và không khác mấy vị vua vừa bị phế truất. Vụ khủng hoảng con tin kéo dài 15 tháng và Mỹ đã ra lệnh cấm vận hoàn toàn Iran và đóng băng mọi tài sản của Iran ở Mỹ. Iran cũng ra lệnh đáp trả cấm xuất khẩu cho công ty Mỹ. Giá dầu nhẩy vọt có lúc lên tới 45-50$/thùng.
Hành động tại Iran đã lan tràn ra các nước khu vực như vụ nổi loạn ở Ả-rập Xê-út vào tháng 12/1979 với phong trào chống Mỹ, bài Mỹ ở khu vực và sự lên ngôi của thần quyền tại đây. Vài tuần sau, Liên Xô đưa quân và Afghanistan tiếp tục tạo ra 1 cú sốc về địa chính trị mới cho thế giới và khu vực bất ổn này và lo ngại Liên Xô sẽ nhân cơ hội này nhẩy vào vùng Vịnh.
Ả-rập Xê-út là nước ôn hoàn nhất ở khu vực khi luôn phản đối việc tăng giá dầu quá mạnh vì nó có thể phá hủy nền kinh tế các nước khác làm giảm nhu cầu tiêu thụ trong tương lai. Trong khi Iran và Libya lại là các nước rất tiêu cực và luôn cố gắng đẩy giá lên bằng mọi cách có thể nhằm trả thù. Giá dầu của Ả-rập Xê-út khi đó chỉ 18$/thùng và các nước khác là 28$/thùng, và giá giao ngay là 40-50$/thùng. Ả-rập Xê-út sau đó tăng lên 24$ thùng và mong muốn các nước khác giảm về mức đó nhưng các nước lại tăng theo +5$/thùng. Sản lượng các nước OPEC đã tăng lên 31 triệu thùng/ngày vào năm 1979 và cao hơn 3 triệu thùng/ngày so với năm 1978 bất chấp việc Iran giảm sản lượng.
Cuộc giải cứu con tin của Mỹ ở Iran vào tháng 3/1980 thất bại ê chề. Giá dầu tiến tục leo thang lên múc 32$/thùng vào tháng 6/1981, tăng gấp 3 lần so với 1,5 năm trước và giá giao ngay họ rao lên mức ~ 60$/thùng. Các công ty tích trữ dầu do lo ngại đã tích trữ quá thừa, nền kinh tế các nước gặp suy thoái kéo dài làm kéo tụt nhu cầu.
Trong tháng 9/1980, bỗng nhiên Iraq tổ chức tấn công bằng vũ trang vào Iran với các đợt không kích vào các mục tiêu và quân đội bắt đầu tràn vào Iran. Người ta cho rằng 2 nước này vốn là kẻ thù truyền kiếp của nhà từ hơn 2.000 năm trước khi mà người Mesopotamia (Iraq ngày nay) và người Elam (Iran ngày nay) luôn tấn công tàn sát lẫn nhau. Họ mâu thuẫn nhau về tôn giáo, sắc tộc, lãnh thổ, vị thế ảnh hưởng khu vực,… Mặc dù Iraq đã chứa chấp Khomeini trong 14 năm ông sống lưu vong nhưng khi Iran yêu cầu trục xuất thì Iraq đã trục xuất ông này và ông này rất thù hận Iraq và Saddam Hussein người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, thủ lĩnh đảng Ba’th ở Iraq.
Hussein lớn lên với phong trào thanh niên Ả-rập phục hưng và sự ra đời của đảng Ba’th. Sau chiến thắng của Nasser ở cuộc chiến kênh đào Suez thì Hussein càng củng cố tư tưởng và chính thức nắm quyền năm 1979. Sự ra đi của vua Iran và mâu thuẫn trong chính quyền mới là cơ hội cho Iraq tấn công chớp nhoáng nước này để phủ đầu. Nhưng Iraq đã sai lầm khi không tính tới đội quân tử vì đạo ở Iran và họ đã gặp sự kháng cự rất quyết liệt của Iran.
Cuộc chiến làm xuất khẩu dầu của 2 nước bị đình trệ khi Iran bị Iraq ném boom phá hủy nhà máy lọc dầu ở Abdan, trong khi Iran đã thuyết phục Syria cắt đứt tuyến đường ống của Iraq qua đây và phong tỏa đường biển, chỉ còn duy nhất tuyến đường ông qua Thổ Nhĩ Kỳ còn hoạt động. Sản lượng tổng thể 2 nước giảm 4 triệu thùng/ngày ~ 8% nguồn cung toàn cầu. Cú sốc tiếp theo này làm giá dầu lên mức cao nhất lịch sử 42$/thùng. Ả-rập Xê-út là nước rất tích cực gia tăng sản lượng để giảm giá dầu nhất trong các nước OPEC và họ vẫn tiếp tục tích cực gia tăng sản lượng và thuyết phục các nước giảm giá dầu lại. Chu kỳ giá dầu tăng tới tháng 10/1981 thì bắt đầu chấm dứt.
- Dầu mỏ – một loại hàng hóa đại trà?
Giá dầu lên chóng mặt đã làm giấc mờ làm giầu từ dầu mỏ bùng nổ khắp nơi. Tại nước Mỹ dầu đá phiếu cũng được kích hoạt trở lại khi giá dầu đã ở mức rất cao so với trước đây. Trước đây sự kém hiệu quả kinh tế do chi phí cao đã ngăn cản các công ty phát triển dầu đá phiếu nhưng giờ đây giá đã đủ cao để họ thực hiện lại dự án. Các công ty như Occidental, Unocal, Exxon,… bắt đầu tinh chế dầu đá phiến thành sản phẩm dầu mỏ và có hiệu quả cao. Nhiều tỷ đô la đã được đổ vào nghiên cứu và xây dựng các nhà máy cho lĩnh vực này.
Các nước trải qua cú sốc dầu dẫn tới suy thoái và tích cực tiết kiệm năng lượng, giảm việc sử dụng các thiết bị tiêu tốn năng lượng hơn. Thêm vào đó trữ lượng tham dò cho thấy cao hơn rất nhiều so với trước đây và các đường ống như Alaska ở Mỹ sản lượng tăng từ 1,7 triệu thùng/ngày lên 21, triệu thùng/ngày giúp giảm căng thẳng cho Mỹ. Tiêu thụ dầu các quốc gia tư bản đạt 45,7 triệu thùng/ngày giảm so với cao điểm 51,6 triệu thùng/ngày của năm 1979. Trong cùng thời kỳ các quốc gia OPEC đã tăng sản lượng thêm 6 triệu thùng/ngày, các quốc gia ngoài OPEC thì tăng thêm 4 triệu thùng/ngày nên về cơ bản tình trạng dư cung lại xuất hiện. Thay vì khan hiếm dầu mỏ như người ta nghĩ do cuộc chiến Iraq-Iran làm xuất khẩu tê liệt ở 2 nước, sự dư thừa lại xảy ra.
Khi nguồn cung biển Bắc trở nên nhiều hơn thì sự cạnh tranh bùng nổ và áp lực giảm giá kéo tới OPEC nếu họ không giảm sản lượng. Mức giá 34$/thùng vẫn được các nước áp dụng nhưng giá của BP chào đã giảm còn 30$/thùng vào tháng 2/1983. Tháng 3/1983, OPEC họp đã phải quyết định giảm giá dầu của khối từ 34$/thùng về còn 29$/thùng và cắt giảm sản lượng còn 17,5 triệu thùng/ngày.
Ngày 30/3/1983, dầu thô West Texas Intermediate được chính thức giao dịch tại sàn gia giao dịch hàng hóa New York (Nymex) đánh dấu thời khắc lịch sử của dầu mỏ khi các hợp đồng giao dịch điện tử được hình thành, chuẩn hóa và giao dịch với quy mô lớn. Hợp đồng tương lai dầu thô WTI này đã định hình lại cuộc chơi các công ty dầu mỏ sau đó. Giá dầu từng được xác lâp bởi Standard Oil – Ủy ban đường sắt Texas – OPEC – và giờ đây là WTI ở Nymex. Giá dầu được xác định bởi các hợp đồng kỳ hạn và công khai cho mọi người được thấy. Các vụ sáp nhập thâu tóm trong ngành dầu khí cũng diễn ra rầm rộ trong kỷ nguyên biến động mạnh của giá dầu những năm 1970 kéo dài tới những năm 1980.
Công ty Getty Oil của Paul Getty từng là công ty rất lớn ở quy mô toàn cầu những năm 1950 khi sở hữu mỏ dầu rất lớn ở biên giới Ả-rập Xê-út và Cô-oét với tỷ phú giầu nhất thế giới Getty đã suy yếu khi ông qua đời năm 1976 và người con của ông chỉ đam mê âm nhạc không mấy quan tâm tới công ty. Cuối cùng công ty này bị bán lại cho Texaco với giá 10,2 tỷ USD. Pickens khi đó là doanh nhân dần mỏ nổi tiếng sở hữu công ty Mesa đã bắt đầu nhắm tới Texaco là miếng mồi cho hoạt động thâu tóm và đang chờ đợi cơ hội để hành động. Pickens cũng để ý tới Gulf Oil, 1 công ty toàn cầu khác trong nhóm 7 công ty lớn nhất thế giới trước đây đã trở nên kém cỏi trong kinh doanh và nhà Mellon đã bán đi nhiều cổ phần ở đây và dần mất kiểm soát nó.
Tháng 8/1983, Mesa đã bắt dầu gom cổ phiếu Gulf thông qua các tài khoản ở các ngân hàng nằm rải rác khắp cả nước. Tháng 10, họ lập Gulf Investors Group để huy động thêm nguồn lực chuẩn bị tấn công vào Gulf. Sau khi thất bại trong cuộc chiến ủy quyền đầu tiên vào tháng 12/1983, Pickens bắt đầu huy động thêm tiền từ vua trái phiếu rác Mikel từ Drexel và tiếp tục đẩy giá chào thầu lên 65$/cổ phiếu cao hơn mức ARCO chào là 62$/cổ phiếu. Sau đó có sự gia nhập cảu Chevron trong thương vụ và giá tiếp tục bị đẩy lên cao nhưng khoảng giá rất lớn giữa các đối thủ. Cuối cùng Chevron chiến thắng với giá chào 80$/cổ phiếu và tổng giá trị 13 tỷ USD. Mesa của Picken giành được thắng lợi lớn từ khoản đầu tư này. Quá trình tái cơ cấu ngành dầu khí diễn ra mạnh mẽ với các xu hướng quốc hữu hóa ở các nước thế giới thứ 3 và sáp nhập mạnh mẽ ở Mỹ đã dẫn tới các đợt cắt giảm nhân sự lớn diễn ra khắp nơi trong ngành.
- Tiếp tục bơm dầu vào thị trường: Giá sẽ thấp đến mức nào?
Những năm 1980, giá dầu là yếu tố bấp bênh và biến số chính trong phương trình quản lý vĩ mô của các nước. Giá dầu có lúc tăng rồi lại giảm mạnh và cứ đan xen như vậy rất khó dự báo dài hạn. Ả-rập Xê-út là quốc gia chủ đạo trong sản xuất dầu ở vùng Vịnh. Có nắm cao nhất như 1981 doanh thu tới 119 tỷ USD, nhưng có năm thấp như 1985 chỉ còn 26 tỷ USD. Tình trạng gian lận quota trong các nước OPEC đã làm Ả-rập Xê-út điêu đứng vì sự nghiêm túc của mình và họ đang không chấp nhận sự sụt giảm sản lượng để giữ giá nữa. Họ đang đánh mất vị thế chính trị và tầm ảnh hưởng dầu mỏ lớn của mình như những năm 1973 đã có.
Sản lượng của Ả-rập Xê-út đã sụt giảm thê thảm còn 2,2 triệu thùng/ngày để cố giữ gia dầu cao cho các nước khác hưởng lợi như Anh và nhiều nước khác. Họ cảm thấy không có lý gì mình chịu thiệt hại để nước khác hưởng lợi nhu vậy. Tới năm 1985, Ả-râp Xê-út bắt đầu ngừng giảm sản lượng và chuyển sang giữ sản lượng mà không giữ giá nữa. Sau khi gia dầu WTI ở sàn Nymex tăng vọt lên 31,75$/thùng, thì các nước OPEC chính thức tuyên bố tăng sản lượng lấy lại thị phần đã mất từ tay các nước ngoài OPEC, giá bắt đầu sụt giảm mạnh. Giá đã rơi thẳng đứng từ mức đỉnh 31,75$/thùng về còn 10$/thùng vào tháng 11/1985. Sản lượng của OPEC tăng lên 17,8 triệu thùng/ngày, thật ra nó chỉ tăng 9% nhưng giá lại giảm 70%. Và cuộc khủng hoảng lần 3 này lại khác vì dầu mỏ lại trở thành dư thừa và người mua rất thoải mái trong khi người bán điên cuồng tìm kiếm thị trường để bán hàng.
Các nước trong OPEC chia rẽ sâu sắc khi 1 số muốn giảm sản lượng tăng giá nhưng 1 số lại cương quyết giữ sản lượng để lấy lại thị phần. Các cuộc họp giữa OPEC và các nhà xuất khẩu ngoài OPEC diễn ra nhằm tăng giá dầu nhưng cũng không đi tới đâu. Các công ty đua nhau cắt giảm chi phí để đối phó với giá dầu thấp, các hoạt động thăm dò đình trệ hoàn toàn. Giai đoạn này cũng chứng kiến hoạt động kinh doanh nổi tiếng của tổng thống Bush tại công ty Zapata chuyên kinh doanh dầu mỏ ngoài khơi vịnh Mexico và rất am hiểu ngành dầu khí từ những năm 1950. Bush đã rất quan tâm tới vùng Vịnh và dành nhiều thời gian và công sức tại đây vì ông xuất thân từ ngành dầu mỏ và rất hiểu vai trò của khu vực.
Năm 1986, các thành viên OPEC tiếp tục gặp nhau và họ mong muốn giá dầu ổn định ở mức 17-19$/thùng thay vì các mức giá thấp 6-10$/thùng tại thời điểm đó. Nước Mỹ cũng rất trí cao với mức giá đồng thuận 15-18$/thùng này. Và sau đó giá dầu đã thật sự dao động quanh mức này suốt thời gian sau đó. Cuộc chiến giữa Iraq và Iran vẫn tiếp tục và lợi thế lúc này lại nghiêng về Iran và họ còn tấn công bằng tên lửa sang cả cô-oét và các tầu chở đầu của họ khi qua eo biển Hormuz đang ủng hộ Iraq lúc đó. Sau đó Mỹ đã phải điều hải quân tới đây để bảo hộ tầu của Cô-oét đi qua eo biển này. Lúc đó Iran đang mua vũ khí từ Mỹ và dùng vũ khí này tấn công các nước vùng Vịnh. Tháng 7/1988, Mỹ đã tấn công bắn nhầm 1 máy bay dân sự của Iran là 290 người thiệt mạng và căng thẳng giữa Mỹ – Iran tăng cao. Tháng 8/1988, Iran gửi thư tới Liên Hiệp Quốc công bố dừng bắn và chấm dứt chiến tranh.
Phần kết
Cả thế giới hân hoan vì hòa bình lặp lại ở vùng Vịnh, chiến tranh lạnh kết thúc, bức tường Berlin sụp đổ 2 nước Đức tái thống nhất và chuẩn bị cho 1 Liên Xô tan rã. Cuộc đối đầu trường kỳ giữa Mỹ – Liên Xô cũng kết thúc sau đó. Các cải cách kinh tế sâu rộng được thực hiện ở Liên Xô vào những năm này. Lượng dự trữ dầu mỏ thế giới gia tăng mạnh từ mức 670 tỷ thùng năm 1984 lên 1.000 tỷ thùng năm 1990. Khu vực Vùng Vịnh vẫn chiếm 2/3 trữ lượng dầu mỏ thế giới vào lúc đó.
Ảo tưởng về sự ổn định qua đi khi vào 2/8/1990, hơn 100k quân Iraq bất ngờ tấn công Cô-oét khi họ vừa kết thúc chiến tranh với Iran 2 năm trước đó. Thái đồ thù địch với cả các nước vùng Vịnh và cả các khách hàng của họ là Mỹ và phương Tây tạo ra sự dị loại khác biệt của Hussein so với các lãnh đạo khác. Hussein muốn dùng cuộc tấn công này để củng cố vị trí lãnh đạo khu vực và gia tăng ảnh hưởng dầu mỏ của Iraq lên thế giới. Iraq muốn đẩy giá dầu lên cao vì đất nước 18 triệu dân này có hơn hơn 1 triệu quân nhân và 30% ngân sách cho quốc phòng, Iraq là nước chi tiêu cho quốc phòng lớn nhất khu vực. Hussein hy vọng sẽ nhanh chóng chiếm được Cô-oét vào tạo ra sự kiện sự đã rồi và ông sẽ có thêm 10% trữ lượng dầu mỏ thế giới và có quyền hơn trên chính trường thế giới.
Các lệnh cấm vận ngay lập tức được áp đặt lên Iraq và nguồn cung từ Iraq và Cô-oét loại khỏi thị trường với khoảng 4 triệu thùng/ngày đã gây cú sốc lên thị trường dầu mỏ và thị trường tài chính thế giới. Iraq còn đe dọa phá hủy cung cấp dầu của Ả-rập Xê-út nếu nước này ủng hộ Cô-oét làm sự hoảng loạn gia tăng giá dầu nhẩy vọt lên 40$/thùng. Sau khi chiếm Cô-oét, Iraq không hề có dấu hiệu dừng lại và buộc Mỹ phải tăng cường quân đội tới Ả-rập Xê-út để bảo vệ quốc gia chiến lược này với Mỹ.
Sau thời gian dài Iraq không rút quân, ngày 12/1/1991, quốc hội Mỹ bỏ phiến tán thành chiến tranh với Iraq và Mỹ bắt đầu dùng máy bay ném boom các mục tiêu tại Iraq rồi sau đó là lính thủy đánh bộ đổ bộ lên đất nước này. Sau khi Mỹ tham chiến, dù giá dầu nhẩy vọt lên 40$ nhưng ngay sau đó nó đã giảm về 20$/thùng. Người Iraq dùng tên lửa của Liên Xô tấn công vào Israel và Ả-rập Xê-út để tạo ra sự bất ổn lớn khu vực nhưng cuối cùng chỉ sau 5 tuần lính Mỹ đổ bổ lên Iraq thì đất nước này đã thất thủ hoàn toàn.



















