Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc – Kim Byung Kook & Ezzra F.Vogel
Park Chung Hee là 1 nhà hoạt động chính trị người Hàn Quốc (“HQ”), từng là thiếu tướng và thủ lĩnh Đảng Dân chủ Cộng hòa. Ông nắm quyền trong 1 cuộc đảo chính vào năm 1961 và trở thành vi Tổng thống thứ 3 của Đại Hàn Dân Quốc từ 17/12/1963. Tổng thống Park Chung Hee tại nhiệm trong 4 nhiệm kỳ cho đến khi ông bị ám sát bởi chính giám đốc tình báo của mình vào tháng 10/1979. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ 3 trong lịch sử HQ.
Cuốn sách này lần đầu được xuất bản vào tháng 4/2011 tại NXB Đại học Harvard. Sau đó được dịch sang tiếng Việt lần đầu vào năm 2015. Giai đoạn hiện nay mô hình Chaebol HQ đang được ưa chuông ở VN và đang dần chiếm ưu thế trong chính sách là lúc phù hợp ta nghiên cứu chính sách HQ.
- Phần I – Sinh ra trong khủng hoảng
- Cuộc đảo chính quân sự ngày 16 tháng 5
Năm 1945, sau khi được giải phóng khỏi Nhật Bản, Hàn Quốc dù thành lập nền cộng hòa (gọi là đệ nhất cộng hòa) nhưng miền Bắc bị kiểm soát bởi Liên Xô và miền Nam bởi Mỹ đã có chia rẽ sâu sắc. Tới 1948, miền Nam Hàn Quốc tự bầu cử và thành lập nền Cộng hòa của riêng mình và được liên hợp quốc công nhận. Sau đó, bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc và mở đầu cho cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên mà sau đó kéo theo Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia và mãi năm 1953 hiệp định đình chiến mới được ký. Chính phủ đầu tiên này do Lý Thừa Vãn điều hành tồn tại tới năm 1954 rồi bị thay thế và tái quay lại năm 1960 thì sụp đổ bởi các vụ biểu tình và bạo động của sinh viên.
Đệ nhị Cộng hòa được thành lập vào năm 1960-1961 hoạt động dưới cơ chế nghị viện hệ thống, họ hoạt động dưới dạng hệ thống nội các không có tổng thống. Nhưng chính quyền này bị tê liệt bởi các phe phái tranh giành quyền lực với nhau.
Vào 16/5/1961, Park cũng nhiều người khác đã lật đổ chính quyền Chang Myon là tổng thống nền cộng hòa thứ 2 bằng 1 cuộc đảo chính quân sự và thành lập nên nền cộng hòa thứ 3 ở Hàn Quốc. Park lúc đó chỉ là 1 lãnh đạo cấp trung trong quân đội HQ và không hề có sự trung thành của toàn thể quân đội. Liên minh đảo chính của ông cũng bao gồm đủ cấc thành phần hỗn tạp nhưng vẫn thành công.
Park sinh năm 1917, ông ban đầu làm nghề thầy giáo sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Deagu. Sau đó ông gia nhập quân đội Mãn Châu của Nhật Bản năm 1940, rồi hteo học tại trường Tân Kinh Mãn Trâu năm 1940, rồi sang Học viện Quân đội Nhật Bản năm 1942 học. Năm 1944 ông tốt nghiệp rồi được điều đến Quân đoàn Bộ binh Mãn Châu với quân hàm thiếu úy tại TQ. Sau khi HQ được giải phóng năm 1945, ông trở lại trong lực lượng quốc phòng HQ, rồi gia nhập trường Bảo vệ Quốc phòng Joseon mới thành lập năm 1946. Năm 1948, sau khi tốt nghiệp ông được điều vào lực lượng Mỹ – Hàn trấn áp bạo loạn năm 1948 nhưng ông nhanh chóng bị bắt do đã gia nhập Đảng CS trước đó và đây là cuộc đàn áp sự nổi dậy của lực lượng CS ở HQ. Ông ban đầu suýt bị tử hình, sau đó giảm xuống 20 năm tù khi cung cấp thông tin các lực lượng đảng CS ở HQ.
Chiến tranh bán đảo Triều Tiên bùng nổ năm 1950, Park sau khi bị đuổi khỏi quân đội, ông đã được gọi trở lại quân đội HQ để tham gia chiến tranh với quân hàm thiếu tá nhờ sự ủng hộ của những người bạn học cùng với ông những năm 40s và đã làm các chức vụ cao trong quân đội HQ khi đó. Sự nghiệp ông thăng tiến như tên lửa khi năm 1951 đã lên hàm đại tá chỉ sau 1 năm. Ông giành nhiều huân huy chương trong chiến đầu và sau đó lên hàm chuẩn tướng thì bắt đầu chậm lại do các vấn đề hồ sơ ông từng là đảng viên đảng CS. Mãi năm 1958 ông mới lên được hàm thiếu tướng nhờ sự can thiệp của đại tướng Pail Sun Yup, Tổng Tham mưu trưởng quân đội HQ.
Quân đội HQ là tổ chức bị chia rẽ sâu sắc ngay sau khi đất nước lập lại với tính chất vùng miền, nơi đào tạo khác nhau chia thành 3 nhóm chính đấu đá lẫn nhau. Quân đội HQ khi đó lên tới 600k quân và rất thiện chiến và mức độ tổ chức hoạt động rất chuyên nghiệp và hiệu quả khi vừa trải qua cuộc chiến với bắc Hàn. Mâu thuẫn trong con đường thăng tiến trong quân đội rất căng thẳng và mâu thuẫn với các chính trj gia dân sự. Nhưng họ chưa thể đoạt được quyền lực nếu thiếu 1 vị chỉ huy có thể liên kết vô số bè phái quân sự vào 1 liên minh rồi truyền vào đó nguồn cảm hứng chung về sứ mệnh và mục đích bằng tầm nhìn, sức hấp dẫn, đầu óc chiến lược và khả năng tổ chức của mình. Vị chỉ huy dó chính là Park Chung Hee. Thời điểm đó, Park chỉ là phó tư lệnh tập đoàn quân 2. Chìa khóa đưa đến thành công của ông chính là chiến lược chia để trị nhằm vô hiệu hóa các đối thủ mặc dù họ có sức mạnh lớn hơn trong quân đội.ư
Cuộc cách mạng sinh viên vào 19/4/1960 làm chính quyền Lý Thừa Vãn sụp đổ đã vô tình đưa quân đội thành lực lượng nắm quyền tại HQ nhằm ổn định đất nước và thực thi thiết quân luật. Lãnh đạo cấp cao quân đội khi đó thường can thiệp vào việc bầu cử qua việc chỉ đạo từ trên xuống nhưng cũng là điểm để các lãnh đạo trẻ cấp dưới quay lại gây sức ép đòi họ từ chức khi chính quyền sụp đổ năm 1960. Park không bị lý lịch về tham nhũng, và chống CS quyết liệt nên dần nắm quyền trong hệ thống quân đội sau khi hạ bệ Tổng tham mưu trưởng Song Yo-Chan. Các nỗ lực chống tham nhũng từ trong và ngoài quân đội lên cao nhưng các lãnh đạo cũ trong quân đội hầu hết đều dính vào tham nhũng đã tạo ra sự căng thẳng và mầm mống để các lãnh đạo trẻ lên ý định đảo chính.
Park khi đó đóng quân ở Busan xa xôi và không có mấy quân, ông đã liên lạc với các sỹ quân cấp trung từ thiếu tá tới thiếu tướng mà từng học cùng ở trường quân sự với ông làm các lực lượng liên kết với nhau để đảo chính. Họ lấy lý do chống tham nhũng là lý do cho cuộc đảo chính.
4 nguyên tắc chi phối áp dụng trong cuộc đảo chính:
- Mục đích là giải phóng nhân dân khỏi sự tha hóa chính trị và nghèo đói kinh tế bằng 1 liều thuốc đặc hiệu, cuộc cách mạng, chấp nhận sự thật rằng đất nước giờ đây đã mất đi động lực cải tổ quân đội trong hòa bình
- Lực lượng cách mạng sẵn sàng đánh đổi cả mạng sống đẻ vươn đến chân lý vĩ đại
- Nhiệm vụ tổ chức cuộc cách mạng phải được giữ tối mật
- Quyết định tiến hành đảo chính dựa trên phân tích khách quan về hiện trạng đất nước và kỳ vọng của nhân dân.
Kế hoạch của Park và các đồng sự dự kiến vào 19/4 khi kỷ niệm 1 năm cuộc bạo loạn của sinh viên và hy vọng có biểu tình lớn để quân đội tham gia giữ trật tự nhưng điều đó không xảy ra. Thông tin cuộc đảo chính bị rò rỉ và Park quyết định tiến hành vào 16/5/1961 với bài diễn vân đầy truyền cảm hứng của ông và ngay cả lực lượng an ninh được cử đi bắt lực lượng đảo chính cũng tham gia đảo chính do sự mất niềm tin vào chính phủ hiện tại. Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề sau khi cuộc đảo chính thành công, nhưng các lực lượng ủng hộ đảo chính là chiếm áp đảo đặc biệt do tệ tham nhũng lúc đó ở HQ và lực lượng đảo chính nêu cao ngọn cờ chống tham nhũng quyết liệt. Chính quyền quân sự của Park cũng áp đặc nhiều quy định về tuyên truyền và ép các nhà hoạt động xã hội, giáo sư đại học phải ủng hộ chính quyền quân sự mới để mua chuộc lòng dân.
- Chế ngự và bị chế ngự bởi Hoa Kỳ
Nước Mỹ giải phóng Triều Tiên năm 1945 từ Nhật, rồi kiểm soát bán đảo này 3 năm bằng chính quyền quân sự sau đó. Rồi tiếp tục bảo vệ HQ trong cuộc chiến Triều tiên 1950-1953 và họ thường xuyên duy trì lực lượng vũ trang lớn ở HQ sau đó. HQ khi đó vẫn còn phần lớn sống nhờ viện trợ của Mỹ và khoản tiền Mỹ chi cho quân sự cho cả quân Mỹ và quân đội HQ. Khi Park tiến hành đảo chính đã biến thành việc đã rồi và buộc Mỹ phải công nhận chính quyền quân sự, dù bắt Park phải chuyển giao chính quyền cho 1 chính phủ dân sự được bầu ra sau đó. Park đã trì hoãn điều này cho tới năm 1963 mới tổ chức bỏ phiếu và Park giành chiến thắng sau khi đã củng cố quyền lực xong xuôi.
Hoàn cảnh HQ rất chênh vênh khi các nước kém phát triển đi theo mô hình Liên Xô như Triều Tiên kinh tế phục hồi rất nhanh sau chiến tranh trong khi HQ vẫn rất kém phát triển và vô cùng bấp bênh cả về chính trị lẫn kinh tế. GDP/người Triều Tiên khi đó đạt 160$/người cao gấp 2 HQ. Với các khó khăn như vậy từ những năm 1957, Mỹ đã phải điều chỉnh lại chính sách khi cắt giảm quân đội quá đông đảo của HQ khi nước này đang là nước nhận viện trợ lớn nhất của Mỹ. 90% ngân sách của HQ khi đó là tới từ viện trở của Mỹ (tương tự miền Nam VN khi đó).
Khi cuộc đảo chính của thiếu tướng Park nổ ra (16/5/1961), Mỹ đã không có hành động gì rõ ràng ủng hộ hay phản đối việc này. Tuy nhiên, chính quyền quân sự này mãi sau đó chưa được Mỹ chính thức công nhận và Mỹ luôn trì hoãn việc này để đảm bảo có lợi thế khi đàm phán yêu cầu chính phủ quân sự HQ phải thực hiện các điều khoản. Mãi tới tháng 7, khi Park thanh loại bỏ các đối thủ trong quân đội và lên làm chủ tịch SCNR ông bắt đầu thực hiện các chính sách mạnh mẽ với các cuộc bắt bớ thanh trừng, các chính sách kinh tế trái với các nguyên tắc kinh tế thị trường. Khi đó đại sứ mới của Mỹ là Berger tới nhận chức ở HQ và quá trình đàm phán giữa 2 nước mới bắt đầu có tiến triển và dần đi tới thống nhất và Mỹ chấp nhận chính quyền của Park.
Giai đoạn 1962-1963 là giai đoạn đệm của chính quyền quân sự trước khi tổ chức bầu cử chính thức vào cuối năm 1963. Park đã củng cố các lực lượng quân đội để họ trung thành với mình, và làm mọi cách để giúp Park có thể thắng cử vào năm 1963.
Park đã sử dụng Kim Jong Pil là người lãnh đạo cơ quan an ninh tình báo HQ để thực hiện các chiến lược củng cố quyền lực, thành lập đảng chính trị DRP để dùng đảng này đi tham gia bầu cử nhằm hợp thức hóa từ chính quyền quân sự thành chính quyền dân sự được bầu chính thức. Cuộc bầu cử diễn ra vào 15/10 đã giúp Park trở thành tổng thống dân cử với chiến thắng suýt sao chỉ cao hơn đối thủ thứ 1 150k phiếu bầu (1,4%).sau đó DRP giành chiến thắng áp đảo ở Nghị viện Quốc gia và Park hoàn toàn nắm quyền kiểm soát chính quyền dân sự được lập lại tại HQ.
Về kinh tế, chính quyền quân sự sau đảo chính đã thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn cũng là kế hoạch kinh tế đầu tiên đặt nền móng cho “kỳ tích sông Hàn”. Chính sách kinh tế phát triển theo định hướng nhà nước dẫn dắt. Kế hoạch này kêu gọi xây dựng 1 nền kinh tế độc lập thông qua quá trình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, và xác định sự hình thành các ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng là động lực cho sự tăng trưởng kinh tế. GDP tăng trưởng bình quân của kế hoạch này đặt ra là 7%/năm. Đây được Mỹ đánh giá là kế hoạch viển vông, thiếu thực tế. Chính quyền đã sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng dẫn tới các thảm họa về khủng hoảng tài chính sau đó.
- Kiến tạo quốc gia: Con đường từ chính quyền quân sự đến chính quyền hiện đại thông qua cải cách hành chính
Các học thuyết phát triển quốc gia đã lý giải sự chuyển đổi thành công sang 1 nền kinh tế công nghiệp hiện đại chủ yếu dựa trên việc áp dụng mô hình nhà nước “Weber” (đọc các tác phẩm triết học Max Weber). Lý thuyết chỉ ra cách huy động nguồn lực theo kiểu từ trên xuống 1 cách rất nhịp nhàng đổ tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi ích, cách ly các quy trình ra chính sách với các lực lượng chính trị và nhóm lợi ích xã hội để từ đó tinh thần duy lý theo kế hoạch lan rộng và định hướng cho việc hoạch định chính sách. Tuy nhiên các lý thuyết này chỉ là lý thuyết trong khi thực tế quản lý nhà nước phức tạp hơn rất nhiều.
Các nhà điều hành kinh tế HQ thủa ban đầu này lại là cơ quan An ninh tình báo KCIA chứ không phải các nhà kỹ trị kinh tế. Các chính sách họ đưa ra cũng rất bất thường và các liệu pháp sốc không theo lý thuyết kinh tế nào được chấp nhận rộng rãi cả.
Từ cuộc đảo chính 1961 tới cuối 1963 trước khi bầu cử thì Hội đồng Tái thiết Quốc gia (SCNR) là cơ quan tối cao kiểm soát cả 3 nhánh với 30 quân nhân cấp cao nhất trong lực lượng quân đội HQ. SCNR đã chỉ định các thành viên nội các, các ủy ban quản lý mọi vấn đề của HQ khi đó mà các vị trí cấp cao hầu hết đều do các tướng tá nòng cốt trong cuộc đảo chính nắm giữ.
Liệu pháp sốc của Park – Phil đưa ra như đợt thanh lọc hơn 40k công chức chính phủ sau đảo chính và đẩy tất cả những ai trên 50 tuổi phải nghỉ hưu đã dần biến chính quyền hành chính hoạt động có hơi hướng của quân đội. SCNR cũng giả tất tất cả các đảng chính trị, bắt giam các kẻ trục lợi bất chính, trốn thuế, có cảm tình với CS,…đi cùng vao đó là việc Park bổ nhiệm hàng loạt các lãnh đạo trẻ có tài năng đáng kể vào các vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế.
Ban đầu các chaebol bị Park coi như những lũ soi lang tham lam cực độ đáng bị trừng trị thích đáng nhân danh quốc gia, vì tội lợi dụng quyền lực trên thị trường độcq uyền dể giành lấy các giấy phép, khoản vay ngân hàng và viện trợ Mỹ dười thời Lý Thừa Vãn. Park và các đồng sự rất muốn vào kiểm soát cộng đồng doanh nghiệp và hướng họ theo định hướng của mình. Nhưng mọi việc khó khăn hơn rất nhiều so với việc cải tổ bộ máy hành chính quan liêu.
Vào 14/7, sau đợt bắt bớ lớn các doanh nhân khi các doanh nhân chấp nhận “tình nguyện đóng góp” cho SCNR để tái thiết đất nước thì họ đã được trả lại tự do, trong đó có cả ông chủ của Samsung khi đó. Các chaebol sau đó đã đình công sản xuất chống lại các chính sách này của chính quyền. 12 chaebol lớn nhất phải chịu khoản phạt khoảng 35m$ lúc đó. Sau đó Park được đại sứ Mỹ thuyết phục và đã bắt đầu chấp nhận các chaebol này như 1 phần của kế hoạch phục hồi kinh tế sau đảo chính. Bù lại, 12 chaebol phải cam kết đầu tư vào 6 ngành công nghiệp nặng để hiện đại hóa nền kinh tế là: xi măng, sợi tổng hợp, điện, phân bón, sắt và lọc hóa dầu.
Năm 1962, các chính sách đóng băng tài khoản tiền gửi lớn để bắt họ mua cổ phần Tập đoàn Phát triển Công nghiệp Hàn Quốc nhằm huy động tiền trong dân vào phát triển công nghiệp, đổi tiền từ hwan sang won với tỉ lệ 10:1 gặp thất bại nặng nề. Mỹ dọa cắt viện trợ vì các chính sách thiếu tính toán cẩn trọng, nóng vội này của Park và Kim. Sau thất bại này vai trò của KCIA và Kim trước sức ép của Mỹ và các đối thủ bị thu hẹp và sau đó Kim phải nghỉ hưu. Sau thất bị đổi tiền, Cục Quản lý Tài chính, hoạt động với các quân chức dân sự đã kiểm soát tài chính thay cho cac đơn vị quân sự và an ninh như KCIA trước đây.
Sau khi rời KCIA, tư duy chiến lược của Kim vẫn nổi trội so với tất cả những người thân tín của Park. Vì vậy, Park đã giao nhiệm vụ khởi động Đảng chính trị DRP để chuẩn bị cho việc tranh cử sớm hơn các đối thủ khác. Các mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền quân sự bùng phát khi rò rỉ thông tin thành lập đảng chính trị và chuẩn bị tổng tuyển cử. Kim trở thành kẻ phải chịu trách nhiệm và chính thức rời khỏi chính trường để nhường lại vị trí cho Park nắm quyền chủ tịch đảng DRP để tham gia tranh cử tổng thống vào năm 1963.
- Phần II – Chính trị
- Chiến lược hiện đại hóa: Tư tưởng và Ảnh hưởng
Park là 1 con người của hành động, ông cũng là 1 nhà tư tưởng và những gì ông tin tưởng có tác động mạnh mẽ đến HQ. Ông pha trộn tư tưởng chỉ huy từ trên xuống của Nhật Bản với các tinh thần kỹ trị của Mỹ và chủ nghĩa dân tộc HQ theo những cách phi Nhật Bản và phi Mỹ nhất để hình thành con đường phát triển kinh tế.
Park kết hợp chủ nghĩa trung ương tập quyền + chủ nghĩa trọng thương + chủ nghĩa tập đoàn + chủ nghĩa tự do Hoa kỳ đã làm nên tư tưởng đặc trưng của riêng ông. Các chiến lược và chính sách mới không phải được hình thành dưới áp lực bên ngoài, chúng chính là sản phẩm của các ý thức hệ, ý niệm và thông tin đã ăn sâu vào bên trong thế giới tinh thần của Park.
Park đã cố gắng tập trung mọi nguồn lực khan hiếm vào 1 số rất ít những dự án công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất để biến HQ thành 1 Nhật Bản thứ 2 ở châu Á trong 1 thời gian ngắn. Đặc biệt lĩnh vực sản xuất thép được Park coi là nguồn gốc để từ đó sản xuất được mọi sản phẩm công nghiệp, quốc phòng hiện đại như Nhật Bản. Với ảnh hưởng lớn của Nhật trong suốt thời kỳ lớn lên và giáo dục phong cách Nhật, Park đã mô phỏng rất nhiều cách thức triển khai, tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Nhật để áp vào HQ. Rất nhiều các luật của HQ giai đoạn 1960s-1970s được sao chép lại từ các luật của Nhật được công bố trước đó. Giai đoạn đầu những năm 60s, ông chỉ tập trung vào chủ nghĩa dân tộc, chỉ trích tư tưởng Khổng giáo, sau đó vào những năm 70s bắt đầu đề cao vai trò của văn hóa dân tộc, khơi gợi, kêu gọi lòng tự tôn dân tộc, truyền thống văn hóa Khổng giáo trước đây để cùng xây dựng đất nước trở thành nền công nghiệp hiện đại hóa theo mô hình lai giữa Nhật và Mỹ.
Chính sách bảo hộ của Park rất chặt cho sản xuất nội địa suốt thời gian cho tới tận những năm 80s, mặc dù chào đón vốn đầu tư nước ngoài từ bất cứ đâu, nhưng danh mục hạn chế đầu tư rất nhiều, ông ưu tiên vay nước ngoài hơn vì tự tin khả năng phân bổ nguồn vốn này tốt hơn là đầu tư trực tiếp FDI vào HQ. Park đã cố gắng tạo ra nhánh hành pháp mạnh và nhánh lập pháp, tư pháp yếu. Nền dân chủ kiểu HQ là nền dân chủ dân tộc chủ nghĩa. Park không có sự hòa hợp về văn hóa với Mỹ như là với Nhật, và ông thấy xa cách với nền văn hóa ý. Ông học tập mô hình chỉ huy từ trên xuống của Nhật nhưng tập trung xuất khẩu sang Mỹ, viện trợ từ Mỹ. Tuy vậy, các nhà kỹ trị kinh tế HQ hầu hết đều theo các trường phái kinh tế học Mỹ.
- Mê cung của sự cô độc: Park và cách thức sử dụng quyền lực tổng thống
Tài lãnh đạo chính trị là chìa khóa lý giải cho thành công của Park khi kéo dài được thời gian câm quyền và đem lại tăng trưởng kinh tế cho HQ. Việc duy trì được tăng trưởng kinh tế và an ninh đã tạo ra 1 vòng phản hồi quyền lực giúp Park duy trì qua nhiều nhiệm kỳ tổng thống. Mặc dù tính chính danh của ông luôn bị đặt dấu hỏi, thời kỳ ông cũng trải qua 3 đợt khủng hoảng kinh tế lớn, hay các vấn đề chính trị khi bình thường hóa quan hệ với Nhật và can thiệp quân sự vào miền nam Việt Nam.
Hệ thống kiểm soát quyền lực rất phức tạp thời Park tập trung vào 2 trụ cột là cơ quan tình báo trung ương HQ (KCIA) che chắn cho ông về lĩnh vực chính trị và Bạn kế hoạch Kinh tế (EPB) phối hợp với Ban thư ký nhà Xanh lãnh đạo các bộ ngành nhà nước theo 1 chương trình huy động nguồn lực có điều phối. Park luôn chán ghét các việc bầu cử, là cái các nhà chính trị thường sử dụng để nắm quyền qua các đợt tuyển cử, các trò chơi chính trị, đảng phái họ sử dụng để leo lên nắm quyền.
KCIA là đơn vị trung tâm quyền lực chính trị tại HQ và được lập ra ngay khi Park tiến hành đảo chính. Nó có thẩm quyền như KGB của Nga hơn là CIA của Mỹ với đầy đủ các quyền lực và lạm quyền vào mọi việc, cũng như được từ chối trả lời các thẩm vấn từ các cơ quan hành pháp, lập pháp. Ngoài ra Park còn sử dụng Văn phòng An ninh Tổng thống và Tổng cục An ninh Quân đội để tham gia kiểm soát chéo quyền lực của KCIA. Mỗi khi có các vấn đề khủng hoảng về xã hội trong các cơn thịnh nộ về dân chủ của quần chúng chình KCIA luôn là chỗ bị Park đổ lỗi và phải chịu trách nhiệm cho điều đó.
KCIA sau thất bại của giải quyết các vấn đề kinh tế năm 1962 thì nó đã bị loại bỏ khỏi việc điều hành các hoạt động kinh tế của quốc gia. Thay thế cho nó là Ban Kế hoạch Kinh tế. Ban này thực chất là 1 ban thư ký để điều phối giữa tổng thống và các bộ chuyên ngành. Các thư ký của ông thường được lựa chọn kỹ càng về kiến thức, kinh nghiệm và được bảo trợ con đường chính trị về sau khi đi cùng Park.
Tại mỗi thời kỳ, Park sẽ sử dụng chính 1 người sau đó nếu tham vọng chính trị lên cao ông sẽ dùng cấc thế lực đối đích để loại bỏ người đó và thay thế bằng 1 người khác trẻ hơn. Các đối tượng được Park lựa chọn luôn là người đúng đầu sóng ngọn gió và là bia đỡ đạn cho ông nếu khủng hoảng xảy ra. Các thành viên đi cùng Park đều phải chấp nhận việc bị Park nắm hồ sơ và nếu chống đối thì hồ sơ sẽ được KCIA xử lý. Chính sách của Park dựng lên không có chỗ cho người kế nhiệm. Các thành viên tỏ ra trung thành tuyệt đối thì luôn được đối xử tốt, nhưng những ai chống đối sẽ bị đối xử rất tàn nhẫn, đặc biệt trong giai đoạn quyền lực của ông gặp phải rủi ro. Ngoài các giai đoạn bầu cử, sửa đổi hiến pháp thì KCIA chủ yếu tập trung vào các hoạt động chia rẽ bè phái các đảng đối lập, nâng đỡ người thân cận lên nắm quyền các đảng đó,…
Trái lại với nền chính trị dưới thời Park hầu nhưu bị chi phối bởi ý chí quyền lực của ông, chính sách kinh tế lại cho thấy 1 mặt khác trong nhân cách của Park: 1 lãnh tụ có tầm nhìn. Ông đã cho thấy tầm nhìn rộng lớn hơn hẳn những người khác: biến HQ thành 1 “Nhật Bản thứ hai”, 1 nhà nước hùng mạnh về quân sự và thịnh vượng về kinh tế. Chính tầm nhìn kinh tế giúp ông nổi bạt hơn hẳn các đối thủ chính trị khác và duy trì quyền lực cho ông suốt 18 năm liên tục. Các chủ sở hữu Chaebol (tiêu biểu là Jeon Ju-Young của Huyndai) là những người sẵn sàng thực hiện các dự án kinh doanh mạo hiểm có khả năng thành công thấp nhát 1 khi Park đã hạ quyết tâm làm, với 1 niềm tin không hề suy chuyển vào lười hứa rằng Park sẽ giải cứu ông ta nếu doanh nghiệp của ông gặp phải rắc rối.
Dự án đường cao tốc đầu tiên của HQ được triển khai năm 1967 với việc giao thẳng cho 12 nhà thầu được Park tuyển chọn với kinh phí dự toán từ 18 – 65 tỷ won, chỉ trong 2,5 năm sau dự án hoàn thành với kinh phí 43 tỷ won. Các công ty gặp rủi ro về tài chính sẽ được giải cứu, nhưng nếu là kiểm soát kém sẽ vẫn bị trừng phạt bằng cách thanh lý tài sản, và phá sản.
- Các lực lượng vũ trang
Các lực lượng vũ trang HQ bắt đầu tham gia mạnh vào chính quyền HQ kể từ sau cuộc đảo chính và luôn là lực lượng dự bị cung cấp nhân sự trung thành cho Park sau đó. Trong thời kỳ nắm quyền, Park đã 5 lần sử dụng tuyên bố thiết quân luật, và 3 lần sử dụng sắc lệnh quân đồn trú để dập tắt sự chống đối của các phe đối lập.
Sự kiện bình thường hóa quan hệ với Nhật năm 64 gây ra rất nhiều cuộc biểu tình và phản đối lớn chống lại Park dù sau đó ta thấy đây là quyết định hoàn toàn đúng đắn. Việc gửi quân tới miền nam Việt Nam lại gây ra ít tranh cãi hơn rất nhiều do các tuyên trồng chống CS rất mạnh của Park trước đó. Việc đưa quân này giúp HQ tranh thủ được tiền và thị trường Mỹ để xuất khẩu sang Mỹ nhiều hơn, và quân đội Mỹ đồn trú ở HQ không phải di chuyển quân sang VN. HQ lúc đó đã nhận được khoảng 1 tỷ USD viện trợ nhờ việc gửi quân này.
Cuộc đột kích của lính Triều Tiên vào Seoul đã làm dấy lên các vấn đề an ninh rất lớn ở HQ khi đó. Triều Tiên cũng được tiếp thêm năng lượng khi thấy chiến trường miền nam Việt Nam đang tỏ ra hiệu quả nhưng họ phải thất vọng vì người dân HQ rất ủng hộ Park nên các chiến lược thống nhất Triều Tiên không thành. Năm 1969, Mỹ đưa ra học thuyết Guam đã bắt đầu cắt giảm sự xuất hiện của Mỹ và cắt giảm chi tiêu quốc phòng làm dấy lên lo ngại của Park về an ninh quốc gia và HQ đã phải tăng cường chủ động quân sự nhằm thay thế việc rút lui của Mỹ. HQ cũng nhận khoản viện trợ 1,5 tỷ$ của Mỹ cho việc củng cố quân sự này.
Các nguồn lực này được Park tập trung hiện đại hóa công nghiệp nặng và hóa chất nhanh chóng. Nền kinh tế HQ phát triển cực kỳ cao và tới năm 1974 đã vượt qua Triều Tiên và tiếp tục tăng trưởng vũ bão và năm 1977 gấp 1,5 lần Triều Tiên. Các viện trợ của Mỹ chính thức chấm dứt vào năm 1978. Trong giai đoạn này, HQ đã hiện đại hóa mạnh hệ thống quốc phòng từ việc đưa quân sang miền nam Việt Nam và nhận viện trợ quân sự trực tiếp từ Mỹ. HQ đã tự sản xuất được các loại vũ khí hạng nhẹ từ nguồn cung cấp nội địa của mình.
Park cũng gia tăng kế hoạch đưa những người trong lĩnh vực quân sự sang nắm các vị trí tại các bộ ngành liên quan như bộ nội vụ, thanh tra, ban kiểm toán, cơ quan thuế quốc gia. Trong khi không đưa họ sang các bộ liên quan tới tài chính, kinh tế. Hệ thống 2 lộ trình trong quân đội của Park đã triển khai hiệu quả cho tới khi ông bị ám sát. 1 lộ trình cho quân sỹ theo hướng quân đội truyền thống đảm bảo an ninh quốc gia, và 1 lộ trình cho những người sang làm chính trị để làm đội cận vệ bảo vệ Park khỏi các đối thủ chính trị tiềm tàng.
- Leviathan: Bộ máy quan liêu kinh tế dưới trướng Park
Dưới sự cầm quyền của Park, HQ gần như đã đạt tới trạng thía lý tưởng của 1 “nhà nước phát triển”. Khái niệm này đừng được gán cho Nhật Bản. Peter Evans đã áp dụng học thuyết này cho HQ.
Nhà nước phát triển ở trạng thái lý tưởng sở hữu tính thống nhất nội bộ, đặc tính này tạo ra cho bộ máy nhà nước phát triển 1 vài quyền tự chủ và nhớ các quyền này, nhà nước có thể đứng trên lợi ích của các lực lượng xã hội trong quá trình hoạch định mục tiêu và chiến lược, đồng thời nhà nước này cũng bị gắn chặt vào 1 nhóm các mối liên hệ xã hội cụ thể, kết nối bộ máy chính phủ với xã hội. Khi đã phát triển được nhưng kênh truyền dẫn sâu rộng mang tính thể chế gắn kết chính mình với khu vực tư nhân, nhà nước được cho là có đủ khả năng tác động đến nền kinh tế để hỗ trợ và khuyến khích tăng trưởng kinh tế theo rất nhiều cách. Nói cách khác, thay vì phải thay thế các doanh nghiệp tư nhân ở vai trò người sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nhà nước phát triển này không ngừng đàm phán và tái đàm phán về các mục tiêu, chính sách với các chaebol và các doanh nghiệp khác, cũng như hỗ trợ mở rộng các dự án đầu tư từ nhân mạo hiểm với mục tiêu phát triển công nghiệp. Nhà nước phát triển ở trạng thái lý tưởng vẫn giữ được tính tự chủ của mình bất chấp những đan xen phức tạp trong các mối liên hệ của nó với xã hội.
Cụ thể hóa bằng các kế hoạch tham vọng làm các dự án rất rất lớn với quy mô nền kinh tế HQ khi đó, nhưng lại khá nhỏ trên phạm vi toàn cầu. Nếu dự án chưa đủ hấp dẫn Park sẽ thêm cho nó đủ hấp dẫn để lôi kéo nhà đầu tư thực hiện nó. Đặc biệt các cam kết chính thức hoặc phi chính thức với các chaebol sẽ giải cứu để họ không chết nếu họ triển khai các dự án rất lớn và đầy rủi ro đó. Hỗ trợ các chaebol xây dựng các thương hiệu quốc gia, tập trung cho xuất khẩu. Vì vậy, phát triển và trục lợi từ chính sách là 2 mặt song song tồn tại trong quá trình phát triển của HQ.
Sau bầu cử tống thống HQ năm 1963, Park đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang 1 nhà nước chuyên nghiệp nhưng chuyên chế. Các ràng buộc chính sách khôn quá chặt chẽ mà quyền lực tập trung chính vào Tổng thống Park và 3 cơ quan điều phối an ninh được ông quản lý từ việc đưa các thành viên thân cận trong quân đội sang quản lý. Về mặt kinh tế thì 2 bộ EPB là vai trò trung tâm tối cao, bên cạnh đó mà MoF triển khai thực thi hiệu quả các kế hoạch kinh tế của Park. Các bộ khác đóng vai trò thứ cấp hơn. Các vị trí quan chức trong EPB và MoF thường xuyên được điều động lẫn nhau nhất là từ EPB sang MoF và nâng cao được vai trò chủ trì của EPB khi bộ trưởng phụ trách EPB thường là phó thủ tướng chủ trì hoạt động kinh tế, và cũng giúp 2 bộ này cách xa các hoạt động quan liêu khác để tập trung cho mục tiêu phát triển kinh tế thần tốc của HQ. 60% các bộ trưởng, thứ trưởng các bộ còn lại được lấy từ người ở 2 bộ EPB và MoF trong suốt thời kỳ này.
Với nguồn vốn quá khan hiếm, lại muốn xây dựng các tập đoàn có sức cạnh tranh toàn cầu thì không còn cách nào khác sẽ phải tập trung vốn cho 1 số lượng nhỏ các công ty lớn nhất – các chaebol. Tuy nhiên, để đạt được sự cân bằng phù hợp giữa tập trung và cạnh tranh là 1 vấn đề kinh tế và chính trị khó khăn khi vẫn phải giúp các doanh nghiệp khác phát triển mới thúc đẩy được cả nền kinh tế HQ phát triển. Các chaebol thủa ban đầu chạy đua nhận các loại giấy phép ngành chủ lực vào tạo ra năng lực sản xuất dư thừa tiêu thụ nội địa nhưng lại chưa xuất khẩu được nhiều ra thế giới. Các hỗ trợ về khoản vay ưu đãi, đặc quyền dự án đặc thù đã giúp các chaebol ít có động lực tham gia vào thị trường chứng khoán như yêu cầu từ Park để thay đổi cách huy động vốn, họ lo ngại việc phát hành cổ phiếu làm suy yếu việc kiểm soát của các chủ sở hữu chính. Cuộc khủng hoảng thanh khoản lớn nổ ra ở HQ vào năm 1968 kéo dài làm tê liệt nhiều chaebol, và buộc Park phải đưa ra các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ nhằm giải cứu họ khỏi khủng hoảng thanh khoản. Kinh tế HQ đã có tốc độ tăng trưởng bình quân 11,2%/năm từ sau năm 1973 trở đi, Park đã tận dụng được nguồn nhân lực xuất khẩu mạnh sau bùng nổ chiến tranh VN, tới bùng nổ Trung Đông xây nhà máy lọc hóa dầu. Ngành công nghiệp hóa chất của HQ khi đó chiếm tới hơn 50% tổng GDP nước này. GDP/người của HQ vượt 1k$ vào năm 1978.
- Nguồn gốc chế độ Yushin: Machiavelli lộ diện
Sau 2 nhiệm kỳ tổng thống, Park đã tiến hành sửa đổi hiến pháp cho phép mình làm tổng thống nhiệm kỳ thứ 3 vào năm 1969 và vào 17/10/1972 để cho phép mình có thể làm tổng thống chọn đời và không có thể chế nào giám sát và đối chọi lại với Park nữa. Hệ thống vẫn duy trì thay vì “chính trị” đã được thay thế bởi các cực sĩ quan quân đội và các nhà kỹ trị với vai trò “quản trị”. Chế độ Yushin đã đảo ngược việc dân chủ hóa, nhưng nó cũng là yếu tố góp vần tạo ra sự biến đối của nền kinh tế HQ để trở thành 1 mô hình nhà nước phát triển ở Đông Á. Ông thực hiện mô hình chuyển đổi như thời Minh Trị Duy Tân của Nhật, và cũng chuyển đổi DPR như đảng độc tôn giống Quốc Dân Đảng ở Đài Loan.
Những năm 70s này, HQ xuất khẩu sang Mỹ 40% kim ngạch và nhập khẩu từ Nhật Bản cũng 40% kim ngạch. Các cú sốc trong chính sách của tài chính của Mỹ năm 71 đã gây thiệt hại và kích hoạt mạnh mẽ cuộc khủng hoảng thanh khoản trong các doanh nghiệp HQ. Nhiều khoản vay thương mại lãi suất cao đã được chuyển đổi sang các khoản vay dài hạn lãi suất thấp được chính phủ bảo lãnh giai đoạn này ở sắc lệnh đặc biệt.
- Phần III – Kinh tế và Xã hội
- Chaebol
Chaebol khổng phải là tù nhân cũng như không phải là chủ nhân của nhà nước. Chúng là các tổ chức không chỉ phụ thuộc vào các mối liên kết gia đình truyền thống mà còn dựa vào hoạt động kinh doanh duy lý hiện đại, ra quyết định độc lập dù vẫn trong những giới hạn của chính sách nhà nước. Nên nhìn nhận mối quan hệ nhà nước – chaebol như 1 cuộc đàm phán đang diễn ra, tái định hướng và tài khởi động liên tục dưới các áp lực từ sự thay đổi kinh tế xã hội và chính trị. Cả Park và các chaebol đều chia sẻ tầm nhìn muốn thay đổi đất nước, vươn lên thoát khỏi đói nghèo, chiến tranh, kiệt quẹ của đất nước để đưa HQ như Nhật Bản.
Để giữ cân bằng giữa hợp tác nhà nước – chaebol, ông phải tạo ra đủ lợi nhuận cho họ hoạt động trong các lĩnh vực mạo hiêm cao, cũng như không gây hiểm họa đạo đức tới mức kích hoạt khủng hoảng toàn hệ thống. Park đã phát triển bộ nguyên tắc và chuẩn mực cho quan hệ hợp tác này:
- Đảm bảo “thân hữu” kinh doanh của mình cũng là những cá nhân với tinh thần khởi nghiệp không bao giờ lùi bước, các đối tác có quá trình kinh doanh chấp nhận rủi ro, có khả năng quản lý và kết quả kinh doanh tốt. Như Huyndai, Daewoo, Hanjin,…
- Xây dựng cấu trúc cạnh tranh độc quyền nhóm trong các ngành công nghiệp chiến lược theo thời gian, tìm kiếm những kẻ thách thức trong số các tập đoàn chaebol quy mô tầm trung hại 2 và hạng 3 để cạnh tranh với những người dẫn đầu.
- Hỗ trợ các đồng minh chaebol bằng các nguồn trợ cấp khổng lồ, ông cũng sẵn sàng chuẩn bị để cho các tập đoàn chaebol sa sút phải giải thể khi cho rằng mình đã dùng hết các biện pháp giải cứu.
- Các chaebol phải xác định rằng sự ủng hộ của Park cho họ đi kèm là họ không được theo đuổi quyền lực chính trị. Park muốn chaebol duy trì vai trò là doanh nhân chứ không phải chính trị gia.
Thủa ban đầu, khi Park lật đổ chính quyền dân sự được bầu ra hợp pháp đã phải thuyết phục cộng đồng doanh nghiệp, người dân là mình sẽ chống lại tham nhũng, đưa HQ thành nước phát triển tiên tiến như Nhật Bản. Để hiện thực hóa giấc mơ này, Park đã phải lựa chọn các doanh nghiệp đầu tầu – các chaebol để tập trung phát triển họ nhằm kéo nền kinh tế HQ đi lên khỏi đói nghèo, lạc hậu. Các chaebol chấp nhận các dự án đầy rủi ro, mạo hiểm nhưng bù lại họ được hỗ trợ mạnh mẽ về chính sách, các khoản vay ưu đãi thời hạn dài, lãi suất siêu thấp, các khoản vay nước ngoài được chính phủ bảo lãnh. Park còn quốc hữu hóa hệ thống ngân hàng để bơm tiền vào các chaebol này cho thuận tiện hơn. Các công ty đa quốc gia nước ngoài bị loại bỏ khỏi danh sách các đối tác của ông. Mô hình kêu gọi FDI từ các doanh nghiệp nước ngoài không được Park ủng hộ giai đoạn đầu cầm quyền.
Park tìm kiếm hợp tác với các chaebol theo 1 tiêu chí là dám chấp nhận rủi ro trong kinh doanh- kinh doanh thành công và những doanh nhân có đặc điểm cùng địa phương Gyeongsang với ông. Các chaebol ban đầu phần lớn kiếm được tiền do các lợi thế phân bổ và đầu cơ tích trữ từ tiền viện trợ của Mỹ cho HQ. Chủ tịch Samsung Yi Byeong Cheol sau khi từ Nhật Bản về đã thuyết phục được Park thay vì bỏ tù họ hãy hợp tác để các chaebol cùng hành động giúp HQ phát triển. Liên đoàn công nghiêp HD KDI ra đời giai đoạn này nhằm tổ chức các công ty lớn tránh cạnh tranh quá mức làm lãng phí nguồn lực quốc gia. Rất nhiều ý tưởng kinh tế của Park có được là nhờ tham vấn các ông chủ của chaebol để hình thành.
Các kế hoạch cải tổ kinh tế sau khi Park lên đều gặp các thất bại thảm hại và mãi từ năm 1964 trở đi sau khi điều chỉnh chính sách, và giao cho các nhà kĩ trị kinh tế kiểm soát EPB thì nền kinh tế nói chung và mối quan hệ với các chaebol mới tốt đẹp và các chaebol bắt đầu tăng tốc phát triển. Các chaebol này hưởng lợi lớn từ các khoản vay nước ngoài được chính phủ bảo lãnh. Họ đã nhận 52% vào năm 1966 và 69% vào năm 1968. Các ngân hàng được quốc hữu hóa cũng là đơn vị cung cấp vốn liên tục với lãi suất rất thấp, bảo lãnh thanh toán và kỳ hạn dài cho các chaebol để nuôi dưỡng các chaebol lớn và cạnh tranh được ở quy mô quốc tế đặc biệt ở thị trường Mỹ. Các công ty trong chaebol sẽ nắm giữ cổ phiếu chéo lẫn nhau, các khoản bảo lãnh cho vay lẫn nhau. Nhìn như độc lập nhưng thật ra là chung 1 gia đình quản lý. Công ty được hưởng lợi lớn nhất lúc đó là Huyndai vì mặc dù chỉ là chaebol hạng 2 khi Park lên nắm quyền nhưng chủ tịch Huyndai lại có tầm nhìn về công nghiệp giống Park. Samsung thì mối quan hệ với chính quyền lúc nóng lúc lạnh do các bê bối về kinh doanh trong các khoản trợ cấp bị phanh phui.
Tới năm 1968, với 12,4% doanh nghiệp lớn đã chiếm 65,2% tổng giá trị gia tăng và 64,8% tổng khối lượng sản xuất của HQ. Cuộc khủng hoảng dư thừa năng suất bùng nổ do cạnh tranh quá khốc liệt, tài chính kiệt quệ vào năm 1968 và kéo dài tới tận năm 1972. Các chaebol hầu hết có các lĩnh vực kinh doanh gần như nhau, từ sắt thép, xây dựng, hóa dầu, bán lẻ, tài chính,…
Khoảng 10 chaebol lớn ngoại trừ Samsung (“SS”) và Lucky Gold Star là những công ty được hưởng lợi lớn nhất trong chương trình hỗ trợ của Park với hơn 70% các nguồn quỹ dồn cho 10 chaebol này. SS đã lấy được các hợp đồng điện tử với các công ty Nhật, Lucky Gold Star lấy được hợp đồng với các công ty Mỹ, Đức và Nhật ở giai đoạn sau những năm 70s mặc dù không được hỗ trợ mạnh. 2 ông lớn này vẫn trụ lại trong nhóm 4 chaebol lớn nhất HQ.
- Ngành công nghiệp Oto
Sự trỗi dậy của ngành công nghiệp oto của HQ được cho la 1 phép màu. Đó là sự kết hợp của 1 nhà nước kỹ trị và các doanh nhân có tầm nhìn xa trông rộng và quyết tâm không bỏ cuộc. Ngành oto HQ đầy trông gai với các doanh nghiệp nước ngoài và hầu như thất bại toàn bộ khi tham gia vào thị trường HQ. Chỉ có Huyndai là người trụ vũng lại cuối cùng và tồn tại được tới ngày nay, Kia Motor, tay chơi đến sau thành công cũng sụp đổ năm 97 và bị Huyndai mua lại sau đó. Phép màu không xảy ra ở ngành oto HQ, nó chỉ xảy ra ở công ty Huyndai. Nhưng để được như ngày nay, họ đã phải trải qua cuộc khủng hoảng năm 1972, 1979-1980, và năm 2000. Đặc biệt là sau khi người bảo trợ cho Huyndai là Park bị ám sát năm 1979.
Thị trường oto nội địa HQ quá nhỏ với sản lượng tiêu thụ 150k xe/năm không đủ cho Park thực hiện việc siêu tăng trưởng ngành oto như ông mong muốn. Các hãng xe nước ngoài không hề mong muốn tạo ra 1 thương hiệu nội địa HQ và đi cạnh tranh ngược lại với họ ở quốc tế. Xây dựng doanh nghiệp độc tôn là 1 cuộc chơi chính trị khó khăn hơn rất nhiều đối với Park so với khi nó được mô tả trong các lý thuyết về nhà nước phát triển và các nghiên cứu về chaebol.
Ngành công nghiệp oto HQ bắt đầu vào năm 1962 khi chính quyền quân sự khuyến khích các nhà sản xuất nội địa lắp ráp các loại xe được chuyển nhượng vì nó cung cấp cho nhu cầu nội địa và kéo theo nhiều ngành cùng đi lên. Nhà máy lắp ráp oto Nissan là nhà máy đầu tiên được cấp phép nhưng sụp đổ nhanh chóng vào năm 1963 vì thiếu ngoại tệ nhập khẩu linh kiện. Sau đó là hàng loạt các hãng oto khác như Toyota cũng lắp ráp dạng CKD tại Sinjin và thu hiệu quả lớn. Nhưng hiệu quả lớn này đã kích thích các chaebol nhẩy vào lĩnh vực này. Năm 1967, Park cho Huyndai tham gia vào ngành oto với công nghệ của Ford, và Asia Motor với công nghệ Fiat. Sau khi Toyota rút khỏi HQ để tham gia thị trường TQ, Huyndai với chiến lược tự chủ thiết kế và sản xuất các mẫu xe bình dân dung tích nhỏ của mình dần chiếm được sự ủng hộ của Park – dự án Pony.
Pony nhanh chóng giành thắng lợi ở thị trường HQ nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ của chính quyền Park. Nhưng Huyndai nhanh chóng thất bại khi xuất khẩu nó ra các nước khác. Đặc biệt khi người bảo trợ tuyệt đối cho Huyndai là Park bị ám sát, chính trị và kinh tế trở nên hỗn loạn ở HQ. Ngành oto HQ rơi vào tình trạng dư thừa và khủng hoảng và phải tái sắp xếp lại với 3 hãng xe chính còn lại là Huyndai, Daewoo và Kia.
- Công ty Sắt thép Pohang (POSCO)
Khi phát triển POSCO (Công ty Sắt thép POHANG), tài năng lãnh đạo của Park là nhân tố cực kỳ quan trọng. POSCO gọi nhắc về Park ở cương vị 1 người lính và 1 nhà hiện đại hóa. HQ với sự mong manh về quân sự để chống lại Triều Tiên và sự bảo trợ quân sự không đủ an tâm của Mỹ dành cho đã thúc giục Park phải phát triển ngành công nghiệp sắt thép hiện đại hóa càng sớm càng tốt để có thể chủ động được về thiết bị quân sự.
Quá trình biến đổi ngành công nghiệp thép HQ là câu chuyện về 1 công ty duy nhất, POSCO. Công ty được thành lập tháng 4/1968 và bắt đầu hoạt động chính thức vào tháng 7/1973 với sản lượng 1,03 triệu tấn/năm. Tới năm 1983, qua 5 lần nâng cấp sản lượng sắt thép của Posco đã lên 9,1 triệu tấn. Tới năm 1992 lên 21,1 triệu tấn và đến năm 2000, Posco là nhà sản xuất thép lớn thứ 2 thế giới với sản lượng 28 triệu tấn. Dự án này ban đầu bị WB bác bỏ cho vay vì không nhìn thấy giá trị về mặt kinh tế, nhưng kết quả kinh doanh của nó đã cho thấy như 1 phép mầu với sản lượng tăng 28 lần trong 27 năm, tỷ suất lợi nhuận 18% cao top đầu thế giới. Nổi bật vai trò của CEO Park Tae-jun, trưởng ban cố vấn đầu tiên của Park Chung Hee khi ông đảo chính năm 1961.
Các ý tưởng ban đầu nhờ sự giúp đỡ của Mỹ để phát triển ngành thép HQ đều đi vào ngõ cụt. Cuối cùng HQ tìm tới Nhật Bản sau thỏa thuận bình thường hóa và có 1 khoản đền bù tổn thấp của Nhật cho Hàn do chiến tranh và Park cùng Posco đã tranh thủ khoản này cho việc xây dựng nhà máy và mua công nghệ sản xuất thép của Nhật Bản. Khẩu hiệu của Posco khi đó là “Bắt kịp thép Nippon”.
- Nông thôn
Khu vực nông thôn với lối sống truyền thống, cam chịu, sẵn sàng chấp nhận sự chỉ đạo của các quan chức ở địa phương mặc dù là đối tượng bị thiệt hại trong chiến lược hiện địa hóa nhưng họ lại là những người ủng hộ Park trong tiến trình cầm quyền và hiện đại hóa đất nước. Trong khi thành phố là nơi hưởng lơi lại thường là những người chống đối Park quyết liệt nhất. Park đã tập hợp được lực lượng kiểm soát đông đảo ở nông thôn và chính sách củ cà rốt với hứa hẹn giải quyết cải thiện cuộc sống cho khu vực này khi mà có tới 59% người lao động vẫn ở vùng nông thôn khi đó với chiến lược “cuộc trỗi dậy xanh”. Park cũng mạnh mẽ thực hiện chiến lược chèn ép phát triển nông thông khi hầu như chỉ tập trung nguồn lực vào phát triển công nghiệp và thành thị mà gần như bỏ quên vùng nông thôn. Điều này là không thể tránh khỏi do việc quá thiếu thốn nguồn lực cho phát triển của HQ khi đó. Khu vực nông nghiệp chỉ tăn trưởng khoảng 4%/năm, trong khi khu vực công nghiệp tăng trưởng 18,5%/năm, thu nhập ở khu vực nông thông chỉ bằng 55,8% khu vực thành thị. Park hiểu được rằng người nông dân HQ là những người sẽ lựa chọn hành động tối thiểu hóa tổn thất thay vì tối đa hóa lợi ích.
- Lực lượng Chaeya
HQ là trường hợp hiếm hoi thành công dưới dạng nhà nước phát triển. HQ được truyền lửa bởi tầ nhìn và sức mạnh của Park Chung Hee, được tiếp thêm sức mạnh bằng những lý luận kỹ trị, quền tự do và itnh thần đồng chí, nhà nước HQ đã đạt được siêu tăng trưởng kinh tế từ trên xuống trong vòng 1 thế hệ. Đi kèm với thành tích kinh tế được ví nhu kỳ tích này, các lực lượng trí thức – các chaeya nhóm bất đồng chính kiến phải đối mặt với rất nhiều sự thù địch. Điều này làm tồn tại đầy nghịch lý giữa 1 nhà nước hùng mạnh và xã hội dân sự gây tranh cãi trong thời Park câm quyền là 2 mặt của 1 đồng tiền.
Nhà nước hùng mạnh của HQ cũng là 1 nhà nước cứng rắn mà, vì sự nghiệp siêu tăng trưởng, đã từ chối phát triển 1 mạng lưới các liên kết tổ chức với các lực lượng xã họi, bởi Park cho rằng các lực lượng đó sẽ là mất đi tính tự chủ của nhà nước, tổn hại đến lý luận kỹ trị và đòi hỏi trợ cấp ngân sách. Sự đàn áp chính kiến, dân chủ là đặc trưng rõ ràng của thời kỳ Park cầm quyền, ôn đẹp hết các ý kiến phản đối, và chỉ khuyến khích các ý kiến chính thống phù hợp với đường lối, quan điểm của mình. Chủ nghĩa thực dụng hiện địa hóa của Park là tăng trưởng trước, phân phối sau. Park nó niềm tin vô cùng mạnh mẽ, tự tin vào việc mình đã lựa chọn con đường đúng đắn cho HQ, và việc còn lại là tất cả toàn xã hội phải làm việc cật lực để thực hiện được con đường đó dù phải trả giá bằng bất cứ giá nào dù phải hy sinh lợi ích 1 rất nhiều tầng lớn, người dân trong 1 thế hệ. Chính trị HQ hiện đại được đánh dấu bằng cuộc đụng độ dai dẳng giữa 2 nhân vật chính: nhà nước cứng rắn và xã hội hay tranh cãi.
- Phần IV – Quan hệ quốc tế
- Bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản: Hướng đến 1 quan hệ, đối tác mới
Mối quan hệ Nhật Bản – HQ là mối quan hệ vô cùng phức tạp. Tính mẫu thuẫn trong mqh thể hiện ở việc dù 2 bên vẫn dễ bị tổn thương trước những mâu thuẫn lặp đi lặp lại về các di sản thực dân chưa được giải quyết, nhưng họ vẫn giữ quan hệ cộng sinh từ giữa năm năm 1965 tới nay. ở HQ vẫn thi thoảng nổ ra các đợt thịnh nộ, bài trừ Nhật Bản nhưng 2 bên vẫn là các đối tác thương mại lớn nhất của nhau suốt mấy chục năm.
Nhật và HQ chính thức nối lại quan hệ với nhau vào năm 1965 dưới thời Park sau 20 năm HQ giành được độc lập từ Nhật năm 1945. Mặc dù lúc đó các chỉ trích cho quyết định bình thường hóa quan hệ với Nhật là vô cùng gay gắt. Ở đây rõ ràng đã chỉ ra được tính thực dụng mạnh mẽ để phát triển kinh tế và quân sự của HQ vì chỉ có đối tác gần gũi với họ Nhật Bản về mặt địa lý, ngoài ra có Đài Loan là có thể giúp họ trong cuộc chiến trống lại Triều Tiên và phía sau đó là TQ, và lực lượng CS đang lên rất nhanh ở châu Á khi đó. Hiệp định bình thường hóa này bị cả người dân HQ và Nhật phản đối mạnh mẽ vì bên nào cũng cho rằng bên nước mình đã nhượng bộ quá nhiều cho bên còn lại. Mỹ là người rất khẩn trương thúc đẩy việc bình thường hóa quan hệ này vì họ đang leo thang chiến tranh ở VN và không thể để 2 đồng minh thân cận nhất, nhì ở khu vực Đông Á lại mâu thuẫn với nhau.
- Bế tắc an ninh, chính trị và quyền con người, 1974-1979
Quan hệ giữa Mỹ – HQ đi xuống rõ rệt từ giữa những năm 70s khi Jimmy Carter lên làm tổng thống Mỹ, ông đã lên án chính sách nhân quyền của Park, vận động rút quân khỏi bán đảo Triều Tiên trong kế hoạch rút quân khỏi Đông Á, là bước triển khai của học thuyết Guam năm 1969 của Nixon. Tranh cãi giữa Park và Mỹ nổ ra khi hiến pháp yushin được thông qua năm 1972 cho phép Park có thể làm tổng thống trọn đời, 1 điều bị Mỹ coi là vi phạm nghiêm trọng không thể chấp nhận được về dân chủ. Thêm vào đó, Park thường xuyên ra các sắc lệnh khẩn cấp để loại bỏ các phần tử chống đối với mình. Park đã tiến hành vận động hành lang quyết liệt để ngăn không cho Mỹ rút quân khỏi HQ như kế hoạch và gay ra vụ bê bối Koreagate. Cuối cùng khi Carter thất bại trong bầu cử tổng thống thì kế hoạch rút quân khỏi Đông Á mà trong đó có HQ cũng tạm dừng lại.
- Tìm kiếm phòng vệ: Lựa chọn hạt nhân của Park
HQ đã thực sự bắt đầu nghiên cứu công nghệ hạt nhân từ năm 1956 với mục đích hòa bình, sau dó là ký các hiệp ước cấm thử 1 phần năm 1964, và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968. Với lo ngại sự thiếu chắc chắn của Mỹ cho vấn đề an ninh của HQ, Park đã lên ý tưởng về việc phát triển vũ khí hạt nhân ở HQ vào năm 1971. Họ đã cố gắng nhập khẩu công nghệ tái chế nhiên liệu plutonium từ Pháp và Bỉ dưới vỏ bọc năng lượng thay thế. Tuy nhiên, kế hoạch phát triển vũ khí hạt nhân bị Mỹ cương quyết phản đối và Park không còn lựa chọn nào khác ngoài từ bỏ kế hoạch phát triển vũ khí hạt nhân của riêng HQ.
Năm 1973, ADD trình kế hoạch bí mật phát triển vũ khí hạt nhân cho Park với việc phát triển boom Plutonium nặng 20 tấn tương đương quả boom thả xuống Nagasaki của Nhật với chi phí khoảng 1,5-2 tỷ USD trong thời gian phát triển từ 6-10 năm. Giai đoạn này các nước đang phát triển liên tục phát triển vũ khí hạt nhân do Mỹ không mấy quan tâm. Ấn Độ thử nghiệm thành công vũ khí hạt nhân lần đầu tiên vào tháng 5/1974 đã làm Mỹ sau đó thay đổi rất nhiều quan điểm về chương trình vũ khí hạt nhân bùng nổ ở các nước đang phát triển. Mỹ cũng lo ngại việc HQ tự phát triển được vũ khí hạt nhân thì vai trò của Mỹ sẽ suy giảm mạnh ở HQ nên đã tích cực ngăn chặn kế hoạch phát triển vũ khí hạt nhân của HQ từ năm 1975 trở đi. Sau khi bị Mỹ ngăn trở, Park đã chuyển qua mặc cả với Mỹ để nhằm có sự đảm bảo về mặt chính trị và an ninh cho HQ, mặc dù Park luôn lo ngại các cam kết thiếu chắc chắn của Mỹ như việc Mỹ đã từng rút 1 phần bộ binh đóng ở HQ vào năm 1971.
- Phần V – Góc nhìn so sánh
- Những nhà tái thiết quốc gia: Mustafa Kemal Ataturk, Lý Quang Diệu, Đặng Tiểu Bình, và Park Chung Hee
Trong số rất nhiều nhà lãnh đạo quốc gia kiệt xuất của thế kỷ 20, chỉ có 4 người khi thừa hưởng đất nước trong tình trạng hỗn loạn khủng khiếp đã hiện đại hóa đất nước của họ bằng cách xây dựng hệ thống mới và bắt đầu tăng trưởng rất nhanh, khiến các quá trình chuyển đổi tiếp tục sau thời của họ: Ataturk của Thổ Nhĩ Kỳ, Lý Quang Diệu của Singapore, Đặng Tiểu Bình của TQ và Park Chung Hee của HQ. Nhật Bản, Đài Loan, Hong Kong cũng thay đổi và phát triển rất nhanh nhưng được dẫn dắt bởi các lực lượng, thế lực bên ngoài hùng mạnh kiểm soát sự phát triển trong nước hơn là nội lực các nước. Ở Nhật, từ Tổ chức Chiếm đóng Đồng minhl ở Hong Kong, tư chính quyền thực dân Anh, ở Đài Loan, từ quân đội Quốc dân Đảng mới đến. Không quốc gia nào trong 4 quốc gia tự phát triển căn bản từ bên trong và đạt được tăng trưởng nhanh, kéo dài mà không có 1 lãnh đạo độc tài mạnh dẫn đường cho những thay đổi đó.
Sau thế chiến I, Ataturk nắm quyền 1 vương quốc cổ đang tan rã, củng cố 1 số vùng lãnh thổ biên giưới còn lại và xây dựng nên thể chế mới nhằm biến đổi Thổ Nhĩ Kỳ từ đế quốc Ottoman hùng mạnh xưa đã sụp đổ thành nước Thổ hiện đại mang phong cách phương Tây và hướng đến phương Tây. Ông thành lập quốc hội Thổ lâm thời năm 1920 khi ông 39 tuổi và cầm quyền cho tới khi mất năm 1938.
Lý Quang Diệu góp phần đẩy nhanh việc Anh rút quân khỏi Singapore, trở thành thủ tướng của Singapore tự trị năm 1959 trong Malaysia và thủ tướng Singapore khi nước này độc lập năm 1965, ông đã biến đất nước thành nơi sạch sẽ, trận tự, hấp ẫn, và thịnh vượng bậc nhất châu Á và sau đó là bậc nhất thế giới chỉ sau 1 thế hệ, Ông tiếp tục lãnh đạo đất nước cho tới năm 1990 mới nghỉ hưu.
Đặng Tiểu Bình đã lãnh đạo quốc gia đông dân nhất thế giới, bị kiệt quệ bởi phong trào Đại Nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa, với 1 hệ thống ngừng hoạt động và đã hàn gắn đất nước đồi thời tái xác định hướng đi căn bản của dân tộc này thông qua chính sách cải cách và mở cửa của ông. Dưới sự lãnh đạo của Đặng, đất nước TQ đã tiến hành thành công cải cách kinh tế và dần vươn lên trở lại thành bá chủ thế giới. Ông trở thành lãnh đạo tối cao năm 1978 khi 73 tuổi và trao lại quyền cho Giang Trạch Dân vào năm 1989 để nghỉ hưu.
Park Chung Hee, nắm quyền sau cuộc đảo chính ở HQ với chính trị rốn ren, các vấn đề chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên còn đè nẵng ở mảnh đất này. Với tinh thần kỷ luật và lòng quyết tâm theo phong cách quân đội, ông đưa HQ vào con đường trở thành 1 trong những cường quốc tầm trung hàng đầu thế giới và lãnh đạo HQ cho tới khi bị ám sát năm 1979 (62 tuổi).
Cả 4 ôn đều đến từ những đất nước tụt hậu xa so với phương Tây công nghiệp. HỌ đều có tinh thần yêu nước sâu sắc, 1 khát vọng chấm dứt sự thống trị của các cường quốc phương Tây mà họ cho là gây tổn hại đến lợi ích của nhân dân và kìm hãm sự phát triển của đất nước họ.
Cả 4 họ đều tham gia tích cực vào giải phóng dân tộc, Artuturk, Park, Đặng đều xuất thân là quân nhân trước khi nắm quyền. Lý xuất thân từ dẫn dắt đấu tranh chính trị để giành độc lập cho đất nước và họ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro, hy sinh cho cách mạng nước nhà. Họ đều tiếp thu nền học vấn của các nước phát triển đặc biệt các nước đang chiếm đóng nước họ. Tất cả họ đều có sự am tường lịch sử sâu sắc, hiểu rõ về các cường quốc và cách thức mà các cường quốc đó ảnh hưởng đến an ninh và sự phát triển của các quốc gia yếu hơn. Họ biết cách vận dụng kiến thức, khoa học để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh hơn nhiều các quốc gia đã phát triển. Không có ai trong số họ là doanh nhân hay nhà kinh tế học, nhưng họ luôn sẵn sàng lắng nghe ý kiến và điều chỉnh chiến lược kinh tế theo hướng tốt nhất có thể trong điều kiện nguồn lực vô cùng thiếu thốn của nước mình.
Tất cả họ đều giỏi duy trì quyền lực. Thời gian tại nhiệm dài của họ có nghĩa rằng họ có thể củng cố công tác xây dựng thể chế mới và chứng kiến sự cất cánh kinh tế mà họ đã khởi động trước đây. Park và Artartuk mất khi đang tại nhiệm, 2 người còn lại nghỉ hưu khi đã quá già nhưng di sản của tất cả họ vẫn tiếp tục rất nhiều năm sau dù họ không còn nữa.
- Xem xét 2 hình ảnh trái ngược: HQ thời Park Chung Hee và Philippine thời Ferdinand Marcos
Cả 2 đều sinh năm 1917, lớn lên vào thời kỳ đất nước dưới chế độ thực dân, nổi lên là lãnh đọa quốc gia những năm 1960, và ban hành thiết quân luật gần như cùng lúc vào cuối năm 1972. Đất nước họ cầm quyền đều có những gắn kết lịch sử và kinh té sâu sắc với Hoa Kỳ và Nhật Bản, và vào những năm sau chiến tranh, cả HQ và Phil đều tập trung những căn cứ quân sự của Mỹ và gắn kết mạnh mẽ với phương Tây.
Dù sự tương đồng đáng ngạc nhiên như vậy, nhưng chế độ của 2 vị lãnh đạo đã tạo ra những tương phản rất lớn trong kết quả chính trị – kinh tế: công nghiệp hóa nhanh chóng ở HQ và tình trạng bóc lột khủng khiếp về mặt kinh tế ở Phil. Nhận định: “Park.. định hình nền kinh tế chính trị HQ hiện đại, và những di sản của ông để lại đều vừa đáng ngưỡng mộ vừa kinh hoàng”. Còn Marcos: “Ông tin rằng ông có thể địn hướng cho xã hội…mà vẫn vơ vét xã hội”. Marcos được cho là đã tham ô lớn thứ 2 trong lịch sử thế giới với khoảng 5-10 tỷ USD khi ông nắm quyền ở Phil. Từ đó Phil hình thành nên các doanh nghiệp gia tộc to lớn trong khi phần còn lại của đất nước đói nghèo.
Park bị ám ảnh bởi phát triển kinh tế quốc gia và có vẻ ít tích lũy tài sản cá nhân, trong khi Marcos phát biểu cho người dân rất hay nhưng bản chất độc cơ phía sau lại tích lũy tài sản cho bản thân và các tư bản thân hữu của ông ta. Park được mô tả là “cá thể tư với mục đích công”, còn Marcus được mô tả là “cá thể công với mục đích tư”. Và thuật ngữ chủ nghĩa tư bản thân hữu lần đầu được sử dụng là ở Phil và dành cho những người quanh Marcus.
- Chính sách công nghiệp trong các lĩnh vực phát triển chủ chốt: HQ so với Nhật Bản và Đài Loan
Sự gia tăng đột ngột ở sản lượng sản xuất và xuất khẩu hàng hóa đã nâng cao đáng kể mức sống ở HQ và trở thành 1 trong những di sản lâu dài nhất trong kỷ nguyên của Park. Đến cuối chế độ của Park, các sản phẩm công nghiệp nặng thâm dụng vốn ngày càng gia tăng, bổ sung vào các mặt hàng thâm dụng lao động như dệt may. Mô hình của HQ khác cấc nước Mỹ La tinh về cách thức phát triển. Mô hình HQ khá giống các mô hình Nhật Bản, Đài Loan. Trong đó Nhật là nước đi đầu làm tấm gương các các nước còn lại đi theo trong mô hình phát triển kinh tế, đặc biệt từ thời hậu chiến tranh thế giới thứ 2 trở đi.
Vào cuối thập niên 1960 trở đi, sự phát triển kinh tế ở cả 3 nước đều có những đặc điểm điển hình sau: trình độ dân trí cao, sự gia tăng đáng kể của tiết kiệm, đầu tư và tốc độ phát triển, cũng như sự cải thiện đáng kinh ngạc của các chỉ số ý tế công cộng như tỷ lệ tử vong ở trẻ sở sinh và tuổi thọ. Các đảng phái chính trị đại chúng yếu, chính phủ vẫn ra các luật lệ áp đặt lên xã hội và nhìn chung xã hội chịu đựng các luật lệ này với các phản kháng yếu ớt.
Nhật Bản với dân cư đông đảo, thị trường nội địa lớn hơn, phát triển từ sớm và qua quá trình phục hồi kinh tế đã nhanh chóng lấy lại được sức sống với các doanh nghiệp vừa sản xuất được quy mô lớn vừa đủ linh hoạt cân bằng giữa phát triển và lạm phát. Đài Loan thì có lực lượng doanh nghiệp nội địa mạnh mẽ và sự ủng hộ của chính phủ ĐL tập trung xây dựng các doanh nghiệp lớn với sử dụng hộ của chính phủ. HQ nền kinh tế tụt hậu lâu do chiến tranh kéo dài đi sau 2 nước này và Park đã phải tập trung mọi nguồn lực để phát triển 1 số ngành mũi nhọn then chốt. Cả 3 nước đều tâp trung rất mạnh cho công nghiệp nặng, họ đều là những người chiếm lĩnh sản lượng chính về dệt may xuất khẩu, các nhà máy sợi quy mô lớn nhất thế giới, các loại vật liệu điện tử, hàng tiêu dùng. Trong khi Nhật đã phát triển hàng điện tử lên các nhãn hiệu riêng và HQ vẫn đang phát triển ở dạng gia công và cố gắng ra sản phẩm nhãn hiệu riêng, còn ĐL lại chuyên sâu theo hướng sản xuất thiết bị gốc (OEM).
Trong lĩnh vực bán dẫn, các doanh nghiệp HQ bắt đầu tham gia và chip nhớ 1 cách quyết liệt từ cuối những năm 1970 trong lộ trình công nghiệp nặng của Park. ĐL thì thận trọng hơn rất nhiều khi mãi năm 1979, TSMC, UMC mới bắt đầu thành lập và thử nghiệm sản xuất. Lúc đó Nhật đã là 1 lực lượng thống trị thị trường thế giới về sản xuất chip nhớ. Nhưng qua thời gian, ngành chip nhớ Nhật lại suy giảm, ĐL đang là nước thống trị việc sản xuất chip thế giới với TSMC và MMC, HQ với Samsung và SK Hynix, Nhật đang cố phát triển để lấy lại vị thế của mình đã từng có ở những năm 80s.
Ở ngành thép, 3 nước có mức độ tương đồng đáng kinh ngạc ơ quyền sở hữu, quy mô doanh nghiệp, và quan hệ với chính phủ. HQ và ĐL giống nhau, khó tìm thấy lựa chọn thay thế cho việc tạo ra 1 doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước để thúc đẩy ngành thép. Ở ngành Oto, HQ trông cậy vào các doanh nghiệp tư nhân và ĐL cũng vậy. Quy mô thị trường nhỏ, đầu tư quá lớn đã ngăn cản các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào ngành. Trong khi quy mô thị trường Nhật đủ lớn để các doanh nghiệp tư nhân chủ động tham gia vào.
Nhà máy thép tổ hợp chế biến quặng sắt và than thành sắt và thép. Các nhà máy đòi hỏi rất nhiều vốn đầu tư, vốn số ít doanh nghiệp hoạt động có tính kinh tế theo quy mô khổng lồ. Công nghiệ quan trọng hầu hết đều xuất hiện dưới dạng những thiết bị vốn, được nhập khẩu từ châu Âu. Do đó, chìa khóa đến với thành công kinh tế không phải là sáng tạo hay chi phí lao động rẻ, vì với công nghệ mới, rất ít lao động được sử dụng. Thay vào đó, mấu chốt là hoạt động xây dựng hiệu quả và quản lý năng lực sản xuất, kết hợp với sự tăng trưởng ổn định và lâu dài về nhu cầu. Các nước Đông Á, nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng, nhu cầu tăng nhanh và sự bảo hộ mạnh mẽ của chính phủ đã tạo tiền đề cho ngành này ở các nước. Nhật với Nippon Steel – đươc chính phủ thành lập từ năm 1850 để sản xuất thép phục vụ sản xuất vũ khí với tên gọi Yawate Steel ban đầu, Nhật nhanh chóng gia tăng sản luowgj lên hơn 100 triệu tấn thép/năm vào những năm 1960 và lớn thứ 2 thế giới sau Liên Xô. HQ với công ty thép POSCO (thành lập năm 1967), ĐL với China Steel (thành lập năm 1971). China Steel của ĐL là công ty thép có hiệu quả hoạt động tốt nhất thế giới ở giai đoạn những năm 70-90.
Nhờ sản xuất được thép, và các loại thép chất lượng cao. Sau ngành oto, ngành đóng tàu cũng được các doanh nghiệp HQ đánh chiếm và giành giật quyết liệt thị phần ngành này từ Nhật và đã thành công bắt kịp các nhà đóng tầu Nhật vào cuối những năm 70.
Ngành oto ít thâm dụng vốn hơn so với thép nên các doanh nghiệp tư nhân tham gia rất tích cực dựa trên việc nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Ngành oto khu vực với vị thế thống trị của Nhật với 2 hãng lớn nhất là Toyota và Nissan,. Sau đó năm 1964, Honda là hãng xe gắn máy lớn nhất thế giới tham gia vào ngành này nhưng tập trung cho xuất khẩu chứ không cố thử thác thị trường nội địa với 2 ông lớn trên. ĐL không thật sự thành công với ngành oto dù công ty oto Yulong đã được thành lập từ sớm (1958). HQ là điển hình của thành công trong ngành oto và chỉ với 1 cái tên Huyndai. Huydai nhờ sự ủng hộ cực kỳ mạnh mẽ của Park – được coi là người bảo trợ chính cho Huyndai, đã thuê 1 công ty Ý thiết kế mẫu xe Pony, mua giấy phép công nghệ của Mitsubishi để sản xuất động cơ và làm nên chiếc xe nội địa hóa cao nhất lúc đó ở HQ. Huyndai bắt đầu sản xuất năm 1976 và sản lượng bán cũng không khá khẩm gì so với các hãng xe ĐL.
Sau khi Park bị ám sát, ngành oto HQ còn thảm hại hơn nữa khi tụt dốc không phanh Tiêu thụ cả năm 1981 chỉ còn 69k xe khách và 52k xe tải. Sản lượng xe xuất khẩu giảm mạnh, năng suất giảm, chất lượng giảm và thua cả ĐL lúc đó đã có sản lượng lên 137k xe tải/năm. Suýt nữa nền công nghiệp oto HQ đã sụp đổ nếu Huyndai sáp nhập với GM HQ. Khi đó Kia chỉ được làm xe tải, Huyndai và Daewoo làm xe khách. Qua giai đoạn khó khăn nhất, sản lượng xe của HQ đã nhẩy vọt lên 789k xe (tăng 8 lần) vào năm 1987 và dần khẳng định vị thế trên trường quốc tế, trong khi ĐL chỉ tăng được 2 lần sản lượng xe oto. Kia sau thời gian bị kiểm soát cũng nhẩy sang sản xuất xe khách vào năm 1987 và nhanh chóng lên vị trí thứ 2 thay thế Daewoo, sau đó khủng hoảng châu Á 97 nổ ra và họ mất thanh khoản và sáp nhập với Huyndai. Ssangyang cũng sụp đổ và bị Daewoo mua lại năm 1998, nhưng sau đó Daewoo cũng phá sản với khoảng nợ hàng tỷ USD.
Tuy có nhiều khác biệt quan trọng ngăn cách HQ với những cường quốc công nghiệp lớn khác ở Đông Á, nhưng khi nói về các dự án phát triển trọng yếu như thúc đẩy các ngành công nghiệp thép và oto thì Nhật Bản, Hàn Quốc, Và Đài Loan lựa chọn và thực thi các chính sách có phần tương đồng nhiều hơn các nhà chuyên môn trong khu vực thường đánh giá. Điểm khác biệt chủ yếu của HQ với các nước còn lại là việc sử dụng mạnh mẽ các khoản tín dụng ưu đãi và các khoản bảo lãnh cho vay của chính phủ để thúc đẩy các chaebol phát triển.
Kết luận
Cả khi còn sống lẫn khi chết đi, Park vẫn sống như 1 người hùng đồng thời như 1 tội đồ trong chính trị HQ. Sau 30 năm, ký ức về thời kỳ cầm quyền của hào hùng và gây tranh cãi của ông vẫn còn cao ngất ở HQ. Hệ thống của Park xây dựng và để lại tạo ra sự tăng trưởng 2 con số liên tục nhiều năm, nhưng nó cũng thi thoảng hết nhiên liệu và tạo ra các cú sụp đổ đan xen nhau. Những người kế thừa Park dù theo dân chủ hay quân sự đều vẫn thực hiện việc trung ương tập quyền và nới lỏng các quy định trong kiểm soát chaebol để họ sử dụng đòn bẩy quá độ, các sở hữu chéo vô tội vạ, giàn trải đa ngành quá mức và khi khủng hoảng tài chính nổ ra đều kiệt quệ về thanh khoản và sụp đổ nhanh chóng.
Mãi tới chính quyền Kim Dae-jung vào năm 1998 mới bắt đầu cải cách quyết liệt khi áp đặt các tiêu chí kiểm soát rủi ro, giải thể Daewoo, chia tách Huyndai ra như hình phạt cho các chaebol và kết thúc việc các chaebol không thể chết vì khó khăn sẽ có nhà nước giải cứu. Nền chính trị đảng phái địa phương là nét nổi cộm ở HQ sau thời dân chủ hóa 1987 tới nay. Các chiến dịch đạo đức, chống tham nhũng là nét đặc trưng rất quyết liệt ở HQ từ sau năm 1995 tới nay.
KCIA được Park lập ra với niềm tin chắc chắn có nó mới duy trì được quyền lực thống trị. KCIA duy trì 1 cơ sở dữ liệu chi tiết tới từng đảng phái, chính trị gia, các tài phiệt, các người bất đồng chính kiến chi tiết mọi thứ về họ và những người này biết mọi thông tin của họ đều bị KCIA và Park nắm giữ. Vì vậy, họ gần như không dám phản đối mọi việc Park làm cho tới khi Park đòi giải tán đảng phái năm 1974 thì các mâu thuẫn mới bùng nổ thành các cuộc xung đột gay gắt, sau cái chết của Park chế độ kiểm soát của ông kéo dài tiếp duy trì tới tận năm 1987 mới hoàn toàn sụp đổ.



















