Thành cát tư hãn: người chinh phục thế giới – Ruth W. Dunnell
1. Dân du mục Âu-Á: sơ lược về sinh thái, địa lý và lịch sử
Dân du mục Á – Âu là 1 dải lãnh thổ keo dài từ Hungary tới Tây Tạng Trung Quốc với đặc thù thảo nguyên và sa mạc. Đây là khu vực có vai trò chính trong con đường tơ lụa trên đất liền từ TQ sang Châu Âu suốt nhiều thế kỷ và vai trò yếu đi từ khoảng thế kỷ 16 khi hàng hải lên ngôi.
Mối quan hệ giữa dân du mục và dân định cư (ở đây là nông dân) thường là cộng sunh với nhau, dân du mục có ngựa, dê, lạc đà trong khi dân định cư có nông thổ sản hàng ngày. Nhưng nhìn chung dân du mục bị coi là dân dã man, cuồng tính và bị gán cho vai trò hay cướp phá, phá hoại cuộc sống của dân định cư.
Tính di động, khả năng thích ứng, cần thiết để sinh tồn, khiến người du muc linh hoạt và thực dụng. Lối sống, kinh nghiệm và lòng trung thành với thủ lĩnh xác định bản săc và văn hoá nhiều hơn dòng dõi, tiếng nói, hoặc thậm chí tôn giáo.
2. Nguồn gốc của Chinggis Khan (Thành Cát Tư Hãn): mông cổ thế kỷ 12
Tên gọi Mông Cổ xuất hiện vào khoảng nhà Đường (618-907) để chỉ nhiều tộc người khác nhau, và cũng thường bị coi là Tatar và thường bị gọi lẫn lộn với nhau. Họ trước đây ở vùng rừng núi tộc Mãn Châu, sau đó né tránh tộc Khiết Đan với nước Liêu nên di cư về thảo nguyên Mông Cổ từ khoảng thế kỷ thứ 10. Người Liêu hùng mạnh thống trị khu vực biên giới Trung Quốc và Mông Cổ và người Mông Cổ là dân tộc phụ thuộc vào họ cùng người Tatar.
Thể kỷ 12, tộc Nữ Chân, lật đổ nhà Liêu lạp ra nhà Kim và tiếp tục thống trị khu vực này. Người Mông Cổ ban đầu cũng có chút thành tựu thống nhất dưới 1 vị Khan (Đại Hãn), nhưng sau đó bị người Kim và Tatar đánh bại, người Kim đứng sau gây mâu thuẫn cho 2 tộc chính là Mông Cổ và Tatar thường xuyên mâu thuẫn đánh lẫn nhau.
Từ năm 1140, gia tộc thủ lĩnh Mông Cổ Borjigin bắt đầu thông gia với gia tộc Onggirat để cùng nhau chống lại người Tatar. Vào cuối thể kỷ 12, người Mông Cổ khi đó chỉ khoảng 700k và việc thu phục được người quan trọng hơn rất nhiều so với việc chiếm hữu đất đai.
Cha của Chinggis Khan là Dũng sĩ Yisugei, là cháu nội của Khan Mông Cổ thất thế trong thế kỷ 12. Ông đã lập ra 1 chi họ Kiyat thuộc gia tộc Borjigin để hi vọng có ngày được kế thừa vị trí Khan. Ông bắt 1 người Onggirat về làm vợ và là mẹ của Chinggis Khan sau này. Sau đó Yisugei đã tham gia bầu Khan mới và bùng nổ chiến tranh với Tatar, nhưng không không đủ uy tín để lên vị trí Khan, nên ông đã kết nghĩa với Toghril, Khan của người Kereyit và tạo tiền đề mạnh cho con trai Yisugei sau này. Theo sử Mông Cổ, Chinggis Khan sinh ra vào khoảng 30/5/1162, tên ban đầu là Temujin Oge (Thiết Mộc Chân) tên 1 dũng sỹ tù binh mà Yisugei bắt được và đặt chi con trai mình.
3. Nuôi dậy người hùng, 1160-1180
Temujin lớn lên bình thường cho tới khi 9 tuổi ông đến ở rể nhà bố vợ tương lai theo phong tục dân du mục ở lại nhà bố mẹ vợ làm coi là tiền cưới thay cho tiền bạc. Nhưng bố ông khi đi từ nơi bố mẹ vợ Temujin về thì bị người Tatar đầu độc và qua đời. Ông được triệu hồi trở lại gia đình. 1 thời gian sau, Tộc nhân nơi bố ông cầm đầu nổi loạn và xua đuổi mẹ và con của Yisugei khỏi tộc đàn. Gia đình này tự sinh tự diệt tại thảo nguyên. Tại đây ông tự luyện tập bắn cung, cưỡi ngựa, võ thuật và tự lo cuộc sống gia đình. Trong giai đoạn này ông đã giết 1 người anh em trạc tuổi ông vì không chịu phục ông là thủ lĩnh gia đình và bị mẹ ông dậy dỗ rất nhiều về đức tính 1 thủ lĩnh cần có. Cách người mông cổ thừa kế không theo thứ tự trưởng thứ, mà phụ thuộc vào trong lúc khó khăn, để được chấp nhận là thủ lĩnh, người ta phải hành xử như thủ lĩnh. Tức phải đánh bại đối thủ, tỏ ra độ lượng và công bằng với người dưới.
Sau đó ông bị trãi cũ bắt giữ thành tù binh và cố gắng trốn thoát khỏi đó. Năm 16 tuổi, Temujin nhận lại đồng minh quan trọng nhất trong đời mình là vợ đính hôn trước đây Borte và được bố vợ ủng hộ xây dựng lại tộc dân. Ông cũng có các người anh em kết nghĩa sau này trở thành các trợ thủ chính trong đời mình ở giai đoạn này. Ông cũng liên minh được với Ong-Khan (Vương Hãn) khi ông này là anh em kết nghĩa của bố ông trước đây.
4. Tạo nên Khan, những năm 1180-1190
Chiến dịch Merkit được đưa ra để giải cứu vợ của Temujin, trận này có quân của Ong Khan, Jamujha và Tamujin, nhóm này đã đánh tan quân của người Merkit và là trận thắng quan trọng đầu tiên của Tamujin. Sau khi được cứu về, Borte sinh con trai đầu lòng và vẫn bị nghi ngờ là con của người Merkit chứ không phải của Temujin và ông này không bao giờ được coi là ứng viên cho vị trí Khả Hãn của Tamujin để lại.
Sau chiến dịch, Jamukha và Temujin đi với nhau và kết nghĩa huynh đệ với nhau. Sau đó Tamujin tách ra về lập trại tại nơi ở cũ gần hồ Xanh và đã bắt đầu có 1 nhóm quân và dân đi theo. Sau 1 thời gian, các đồng minh của Tamujin đã bầu ông làm vị trí Khan như các tộc lão trong gia tộc và những thủ linh người Jurkin. Sau đó, ông bắt đầu lập lên hệ thống chính quyền, thể chế, các thân tín vào các vị trí trọng yếu,…
Năm 1196, chiến dịch Tarta nổ ra khi khi quân của Temujin và Ong-Khan tiến đánh và đập tan quân đội này, bên cạnh đó ông còn được nhà Kim ban thưởng vì dẹp loạn Tarta với danh vị Vương cao quý. Sau chiến dịch này, và trước đó nhờ Temuji mà Ong-Khan đang lưu vong trở lại nắm quyền nên đã chấp nhận đầu phục coi Temuji là chỉ huy tối cao. Chiến thắng này cung giúp Temuji nắm được vungg phía nam giầu có về của cải để nuôi dưỡng quân đội và các của cải được chia mầu mỡ là cái chính dân du mục mong muốn khi đầu quân cho bất kỳ vị thủ lĩnh nào. Trung Quốc giầu có chắc chắn là mục tiêu chia chiến lợi phẩm mê hoặc nhất với dân du mục Mông Cổ.
Trong giai đoạn này, người Jurkim từng thề trung thành với Khan khi bầu ông lên đã bội tín không hội quân đánh Tarta còn đâm sau lưng ông, sau đó ông đã tiến hành xử tử những kẻ phản loạn và sáp nhập những người còn lại vào đoàn quân của mình để đồng hoá và sử dụng họ hiệu quả.
Temuji mất gần 10 năm để dẹp yên các vụ nội đấu, nổi loạn trong nội bộ của mình.
5. Thống nhất các bộ tộc, 1197-1205
Liên minh của Temujin và Ong-Khan bắt đầu tan ra khi con trai của Ong Khan lên nắm quyền dần và khi Temujin muốn cưới con gái Ong-Khan nhưng Ong-Khan tức giận nói Temujin chỉ là 1 chư hầu của ông mà đòi hỏi. Đỉnh điểm là khi liên quân Temujin và Ong-Khan tấn công người Naiman, Ong Khan nghe lời Jamukha bỏ rơi Temujin để cho quân Naiman giêt Temujin nhưng không thành công, quân Naiman lại truy đuổi theo quân Ong-Khan và ông này phải cẩu cứu Temuji để thoát thân. Temuji rất khôn ngoan nuôi dưỡng người Kểyit (người của Ong Khan) để kiềm chế Jamukha. Năm 1200, Temuji thoát hiểm được trong vụ Senggu và Ong-Khan định giết ông khi ông đến hội họp bàn về tương lai Mông Cổ. Ông tiếp tục chinh phục các bộ lạc nhỏ và bành trướng thế lực ra khắp khu vực.
1 nhóm các đối thủ đã tập hợp nhau thành 1 liên kinh ngồm gia tộc Jamukha, Naiman, Oirat, Tayichi’ut,.. để chống lại Temuji. Liên minh của Temuji và Ong-Khan đã đánh bại liên minh kia và củng cố vững chắc vị trí của mình tại Mông Cổ.
Temuji có khả năng nhìn người và đặt cho họ vị tri vô cùng tài giỏi, ông cũng cực kỳ tin vào những người ông muốn sử dụng. Ông đánh giá cao nhất những người chân thậy và trung thành. 1 người dù tài giỏi đến đâu mà phản chủ đi theo Temuji ông cũng không dùng mà còn giết đi.
Sau khi quyét sạch dòng tộc Tayuchi’ut, Temuji nhắm tới người Tarta là kẻ thù của cha ông từ trước. Họ từng là bá chủ trên thảo nguyên rất nhiều năm trước đây. Từ mùa đông 1201 – mùa xuân 1202, quân Mông Cổ dưỡng quân và chuẩn bị tiến đánh Tarta. Giải đoạn này ông cũng thiết chế lại quân đội Mông Cổ từ ai cướp gì được hưởng cái đó sang không được cướp để riêng mà đưa vào kho chung sau đó Ông sẽ phân phối lại hợp lý theo chiến công đạt được.
Mùa xuân 1202, quân Mông Cổ đánh bại liên quân Tarta dù phải trả cái giá khá đắt, ông cũng cướp thêm 2 người vợ Tarta về.
Sau trận đó, mục tiêu tiêp theo là người Kereyit hay phản lại ông dù thường liên minh cùng ông trong 1 số trận đánh lớn. Trong trận Tarta Ong-Khan đứng ngoài không tham gia cùng Temuji càn khoét thêm mâu thuẫn giữa 2 thế lực này. Nhiều người cũng bỏ nhà Kereyit để quay sang ủng hộ Temuji và 2 nhà này đã chuẩn bị để quyết chiến với nhau. Temuji tiến hành đánh up Ong-Khan 1 cách cẩn trọng, tránh đánh chính diện trực tiếp và giành thắng lợi, Ong-Khan phải bỏ trại bỏ chạy, Senggum con trai Ong-Khan chạy xuống phía Nam đất người Tangut rồi chạy sang Trung Á. Cơ bản Temuji thống nhất được mông tổ sau trận đánh này. Người Kereyit bị sáp nhật vào đội quân Mông Cổ của Temuji. Giai đoạn này, ông cũng thống nhất được mối quan hệ các chủng tộc khác nhau trên thảo quyên, các tôn giáo khác nhau, bỏ đi các văn hoá trung thành nhóm nhỏ mà tổ chức thành cấp bậc trong quân đội như 1 người 1 tổ, 100 người, 1000 người,… theo cấp số nhân của 10 để chia ra quản lý và thiết lập kỷ luật quân đội. Tới mùa xuân năm 1205, Temujin đã kiểm soát đồng bằng sông Orkhon và cao nguỷen Mongolia, phía bắc-nam giáp Tangut, Trung Quốc và Trung Á. Rất nhiều người khiết đan sau khi bị nhà Kim lật đổ đã chạy sang đồng phục vào quân Mông Cổ, họ am hiểu nền văn hoá Trung Quốc và trở thành các nhà cố vấn, quân sư đắc lực cho Temuji sau này trong các trận chiến.
6. Tổ chức đế chế
Mùa xuân năm 1206, Temujin triệu tập các họ hàng, thân tín, những dòng họ phục tùng lại và mở hội nghị ở đầu nguồn song Onon và tại đây ông được bầu là người có quyền lực tối thượng, với cờ 9 đuôi ngựa và được đặt tên Chinggis (“dũng mãnh”). Tức vị Khả Hãn là mãi sau này khi người con thứ 3 của ông lên kế vị đặt cho mình là Khả Hãn và truy phong lại cho Chinggis chức vị đó.
Về tổ chức quân sự và cấu trúc xã hội:
Ông phong cho nhiều tướng lĩnh cũ và mới từ tầng lớp thấp kém thành các tướng chỉ huy các đơn vị thiên nhân (ngàn người) và trở thành tầng lớp tinh hoa trong xã hội Mông Cổ khi đó. Chinggis đã lập ra được 95 thiên nhân và các vụ tướng, phía trên hò còn có 2 vị tướng chỉ huy vạn nhân thành tả và hữu tướng quân. 1 số người được xay dựng quân với nòng cốt là người cùng tộc, còn lại quân đội họ quản lý là tập hợp nhiều chủng tộc, tôn giáo khác nhau lại để tiến hành đồng hóa họ. Ngoài 95 thiên nhân, ông còn lập ra đội cận vệ để quản lý các chứng năng dân sự/hành chính và quân sự trên địa bàn. Nhiều con trai các gia tộc tưởng tuyển dụng và bị ép buộc tham gia vào đội ngũ này để làm con tin kiềm chế gia tộc họ, đổi lại họ được đào tạo bài bản, kỹ năng chiến đấu và được ban thưởng lớn khi lập được công lao.
Đội quân Mông Cổ khi đó có vào khoảng 50-75k chiến sỹ (tối đa là 95k) vào khoảng năm 1206, và tới cuối đời Chiggis thì số lượng khoảng 129k quân nhân. Các chiến dịch lớn khi đó thường có khoảng <30k lính tham gia. Các dân tộc bị chinh phục sẽ bị xé nhỏ ra chia vào các thiên nhân khác nhau và tiến hành đồng hóa mạnh mẽ làm họ mất đi bản sắc dân tộc, xã hội Mông Cổ được quân sự hóa hoàn toàn với quyền lực thuộc về Nam giới và giới quân đội. với vai trò tối thượng của Chinggis và không ai có thể thách thức lại được.
Ông cũng đặc biệt ưu đãi các tướng lĩnh tin cẩn nhất, những người ủng hộ ông từ đầu để đưa ông lên ngai Khan và luôn hết mình phục vụ ông vô điều kiện. Họ được ưu ái hơn hẳn những anh em ruột thịt của ông nếu các anh em của ông không có cống hiến gì đáng kể. Ông cũng lập ra mạng lưới truyền tin tức rộng khắp các khu vực và là hệ thống thông tin để nắm bắt mọi vấn đề 1 cách nhanh chóng. Trị an tại Mông Cổ khi đó rất tốt người ta không dám đánh nhau, ẩu đả, gây thương tích, giết người,.. vì luật lệ khi đó rất hà khắc với các tội này. Xã hội du mục trước đây không có luật lệ và thường xuyên có cướp, giết, hiếp đã thay thế bằng xã hội ổn định, luật pháp được tôn trọng cao.
Từ khoảng 1204, ông đã bắt đầu phát triển hệ thống chữ viết, dùng con dấu để ra các sắc lệnh, ghi chép lại các sắc lệnh, dậy học cho các tầng lớp tinh hoa trước để truyền tải thông tin và sau đó phổ cập tới người dân.
Các tài sản của vương quốc dần dần tập trung quanh dòng họ Borjigin của ông ngày 1 nhiều hơn, và ông cũng ưu ái các người trong dòng họ hơn so với bên ngoài, đặc biệt là cho các con của ông được hơn hẳn cho với các an hem ruột thịt của ông. Tuy vậy, vùng đất này vẫn tôn trọng quy tắc tự do, ai muốn lên ngôi đại Hãn cần phải chứng minh được bản thân tài giỏi, có thiên mệnh, khéo léo và mọi người trong chính họ đều có quyền thừa kế, xem ai có bản lĩnh chiếm được vị trí đó mà thôi. Các anh em, chú bác, và cháu trai của 1 thủ lĩnh đều có thể kế thừa vị trí Khan.
Niềm tin, tập quán, và biện giải: Chinggis Khan đã sử dụng nhiều biểu tượng để biện giải cho tính chính thống của ông và dòng họ ông trong việc cai trị đất nước Mông Cổ. Thiên mệnh cùng sự may mắn đã đóng vai trò trung tâm trong việc giải thích các thành công ban đầu của ông. Ông sử dụng khái niệm thủ lĩnh được trời tuyển chọn, trời ban cho ông để nói điều đó, đây cũng là cách người Trung Quốc sử dụng để biến từ 1 cuộc nổi loạn trở thành 1 vương triều chính danh về sau.
Càng về sau, dân số Mông Cổ càng tăng nhanh dân tới áp lực về sinh sống trên vùng thảo nguyen nghèo khó, do biến đổi khí hậu, do sự suy giảm buôn bán thông thương,… đã đóng góp vào sự bành trướng lãnh thổ của người Mông Cổ sau đó. Lúc ban đầu ông bành trước bằng sự báo thù cho tổ tiên, cho bản thân từng kẻ thù 1. Sau khi tiêu diệt hết thống nhất các bộ tộc, ông tìm kiếm các mục tiêu mới. Khi khởi binh đánh Kim, là để báo thù cho họ đã ngược đãi các Khan mông cổ nhiều năm nay. Ông cũng dùng các miếng mồi ngon là đất đai Trung Quốc giầu có trù phú là tài sản sau khi chiếm được, những người định cư là những kẻ lười nhác ngồi 1 chỗ và họ nợ ông lòng trung thành, họ cần phải ở dưới trướng ông, cống nạp cho ông và phục tùng ông. Đây là cách ông diễn giải thiên mệnh của mình và theo đuổi nó tới hết cuộc đời và kéo dài sang các thế hệ tiếp theo của ông.
7. Mở mặt trận miền nam: các chiến dịch Trung Quốc đầu tiên, 1207-1218
Từ 1206 trở đi rất nhiều các dân tộc khác đều lần lượt quy phục Mông Cổ. Chỉ còn 3 nhà chính là Hạ - Kim - Tống.
Củng cố hậu phương: vô hiệu hoá người Tangut
Người Tangut là những người lập ra nhà Hạ với sự kiên cường tự chủ. Họ vốn là chư hầu của nhà Kim nhưng vẫn giữ được sự độc lập của mình. Năm 1207, Chinggis bắt đầu tấn công các thành biên giới nhà Hạ, nhưng kinh nghiệm công thành ít và không thật sự thành công dù có được 1 hoà ước đền bù chiến tranh. Năm 1209, Chinggis lại tiến đánh lần thứ 2, nhà Tây Hạ thất bại trong việc cầu viện nhà Kim và phải tự mình chống đỡ. Nhà Kim vua mới lên lại sai lầm coi cuộc chiến của 2 kẻ thù này là có lợi chi mình. Hoàng đế Tây Hạ sau khi bị công phá kinh đô Trung Hưng buộc phải quy thuận Mông Cổ vào năm 1210. Nhưng nước này chủ yếu cung cấp vật tư cho quân Mông Cổ chứ từ chối cử quân tham gia chiến tranh cùng.
Tiến vào Trung Quốc: chiến dịch Kim đầu tiên
Sau chiến dịch Tây Hạ, Chinggis quay về Mông Cổ và nhận được các thông tin chi tiết về sự khó khăn của nhà Kim. Năm 1210, ông chính thức dừng cống nạp nhà Kim và bắt đầu chuẩn bị tấn công nhà Kim khi đây là mục tiêu cướp bóc quá hấp dẫn với quân Mông Cổ.
Năm 1211, sau khi giữ lại 20k quân để giữ trị an các địa phương, toàn bộ quân còn lại được huy động tấn công nhà Kim. Đội quân này cũng giành được 1 số thắng lợi chiếm được nhiều địa phương. Sau đó rút về Mông Cổ vào đầu năm 1212 sau khi chiếm được Trung Đô, Sơn Tây. Cánh quân khác tấn công vào Mãn Châu, tiên vào thung lũng sông Liêu, từ 1213 chiếm thủ đô phía đông của Kom là Đông Kinh. Đất tổ của người Nữ Chân (Jurchen) bị mất, phải 4 thể kỷ sau người Jurchen mới trở lại là người Mãn Châu (Manchus) và lập ra nhà Thanh sau này tại Trung Quốc. Triều đình Jurchen bỏ chạy về Khai Phong (kinh đô cũ của nhà Tống) với kinh tế mầu mỡ để tiếp tục cuộc phản công. Năm 1215, quân Mông Cổ chiếm được Trung Đô sau nhiều tháng công phá. Quân Mông Cổ không có kinh nghiệm quản lý dân chúng định cư nên phải tuyển dụng nhiều người Trung người Kim vào bộ máy cai trị. Các thái thú được Mông Cổ hoá nhằm phục vụ khai thác tài nguyên phục vụ cho các cuộc chinh phạt tiếp theo của quân Mông Cổ.
Mùa xuân 1216, Chinggis quay vể miền Bắc và tiến hành đẩy mạnh thông thương Á-Âu và thiết lập thương mại với nhà nước hồi giáo Khwarazm-shah. Năm 1217, tả tướng Mukhali dùng 23k quân đánh bại khoảng 62k quân Kim và buộc hoàng đế Kim chạy về Hà Nam và tuyên bố thất bại hoàn toàn. Mông Cổ cơ bản bình định được nước Kim.
Ban đầu khá thuận lợi nhưng sau vụ việc hơn 100 thương nhân Mông Cổ bị giết và hàng hoá bị tịch thu, Chinggis cho sứ giả tới đòi lại hàng hoá cũng bị Muhammad giết đã chọc giận nguyên tắc người Mông Cổ và ông thề chinh phục đất nước Trung Á đó.
8. Đến Trung Á và xa hơn thế nữa: Từ Khan Mông Cổ đến người chinh phục thế giới 1218-1223
Để tiến đánh Khwarazm-shah, Chinggis cần
chuẩn bị 1 kế hoạch kỹ lưỡng chu đáo. Tại chiến trường bắc TQ với nhà Kim, Chinggis giao lại cho Mukhali tổng chỉ huy, chiêu mộ thêm quân Khiết Đan và bao vây tiến đánh kinh đô Biện Lương của nhà Kim. Tuy nhiên, năm 1223, Mukhali chết và chiến trường này bị sa lầy. Quân chư hầu nhà Tây Hạ từ chối xuất quân đánh nhà Kim theo yêu cầu cũng là nguyên nhân để sau này Chinggis xuất quân đánh Tây Hạ và là trận đánh cuối đời khi ông đã ngoài 60 tuổi.
Trong trận chinh tây tiến vào Trung Á, năm 1219 ông bắt đầu tập trung quân Mông Cổ, TQ, Khiết Đan và các dân tộc khác với số quân lên tới 150-200k tiến đến các vị trí thành trấn của Khwarazm. Quốc vương nước này lại hèn nhát, sợ quân đội nắm quyền tối đa nên đã chia nhỏ quân ra mỗi thành 20-50k quân và thủ phủ thì 110k quân để thủ thành và tạo ra cuộc sụp đổ nhanh chóng chỉ sau 2 năm bị Chinggis chinh phạt. Tuy nhiên, giai đoạn này ông đã có nhiều chuyên gia phá thành từ bắc TQ nên đã dễ dàng công phá được các thành phòng thủ tại đất nước Trung Á này. Ông quyét hết các thành trì nhỏ và vùng nông thôn rồi bao vây tiêu diệt thủ đô. Vua và hoàng tử nước này liên tục bỏ chạy đi khắp nơi và cuộc truy đuổi 2 người này đã dẫn quân Mông Cổ đi chinh phạt hàng loạt quốc gia Trung Á, Trung Cận Đông, Đông Âu kể cả nước Nga. Lãnh thổ kéo dài tới tận bắc cực kéo tới bắc TQ, Đông Á, tới Ấn Độ và chỉ rút đi vì các khu vực này không có cỏ cho gia súc và ngựa của ông.
Cuộc diệt chủng mà người Mông Cổ gây ra cho khu vực Á - Âu này có 5 lý do:
• Logic văn hía trả thù
• Mô hình sinh thái xa lạ, tại sai phải cần nông dân và đồng ruộng làm gì?
• 1 kế hoạch hạn chế: tập trung trừng phạt và rút quân
• Thời điểm chiến dịch đầu tiên xa nhà
• Đất nước được lãnh đạo quân sự hoá
Những người định cư coi người Mông - Thổ, Tarta là những kẻ man rợ kéo theo sự tàn bạo và chết chóc, như những tay sai của quỷ dữ, được thả ra bởi 1 vị thần giận dữ. Đội quân du mục được đánh đồng với nhưng con người hoang dại, độc ác, man rợ. Nhưng sự thật họ cũng không ác hơn các đội quân chiến tranh khác là bao, họ chỉ thành công hơn, và với quy mô lớn hơn nhiều.
Những người du mục rất giỏi việc bắn cung, cưỡi ngựa với văn hoá chăn thả, khuyến khích sự mạnh mẽ, bền bit, di động, kỷ luật, hợp tác ra quyết định, và khả năng thích ứng với những thay đổi đột ngột trong môi trường. Ông cũng giao quyền tự quyết rất lớn cho các chỉ huy ông thu phục được và tin tưởng sử dụng họ. Ông tái cấu trúc bộ máy quân đội từ liên minh bộ lạc lỏng lẻo thành thiết chế quân đội kỷ luật sắt đá.
Vào mua thu năm 1222, các đạo quân chinh phạt phía tây bắt đầu quay về Mông Cổ và tập trung lại để chuẩn bị tiến đánh Tây Hạ, nước chư hầu đã thuần phục mà không nghe lệnh của Chinggis Khan.
9. Trở về mông cổ: chiến dịch Tangut cuối cùng và cái chết của Chinggis Khan, 1224-1227
Sau khi nhà Tây Hạ nhiều lần trái ý Chinggas Khan, quân Mông Cổ bắt đầu tiến đánh 1 số thành trì Tây Hạ, nhà Tây Hạ di chuyển và bắt đầu kết minh với kẻ thù cũ là nhà Kim để chống lại Mông Cổ và Nhà Tống. Trong khi đó là Tống lại liên minh với quân Mông Cổ để chống lại nhà Kim.
Năm 1225-1226, Chinggis tới biên giới nước Hạ và đi săn bắn thì bị ngã ngựa và thương nặng. Trong giai đoạn này, Chinggis cử người đến yêu cầu nhà Hạ có động thái hối cải nhưng vua mới lên của nhà Hạ lại ngạo mạn thách thức người Mông Cổ. Điều này đã chọc giận và làm Chinggis quyết tâm tiêu diệt nhà Hạ. Từ 1226, quân đội Mông Cổ bắt đầu tiêu diệt các thành trì nhà Hạ và tới tháng 7/1227, kinh đô nhà Hạ bị tiêu diệt và xoá sổ khỏi lịch sử. Chinggis cũng chết vào giai đoạn này thọ khoảng 66 tuổi vì vết thương do ngã ngựa tái phát (cũng có thể do bị giết,...) nhà Tây Hạ bị trả thù dã man vì bị coi là gây ra cái chết của Chinggis Khan. Nước Tây Hạ là nước được coi là đất nước Phật giáo, vua Tây Hạ là Vua Phật.
Sau khi Chinggis Khan qua đời, sau 2 năm người con út trông coi kinh đô tạm quyền thì người con thứ 3 của ông là Ogedei quay về trở thành Khả Hãn kế thừa của Chinggis Khan. Ông tiếp cục củng cố lãnh thổ mà cha ông để lại, năm 1234, nhà Kim chính thức sụp đổ và ông bắt đầu kế hoạch chinh phục nhà Tống. Năm 1240 nước Nga rơi vào tay Mông Cổ và đang chiến đấu quân phải quay về vì tin Khả Hãn qua đời và phải họp bầu Khả Hãn tiếp theo. Sau Ogedei, tới Mongke lên ngôi Khả Hãn thì tunh thàn đồng đội mà Chinggis xây dựng đã tan ra, các chư hầu cát cứ các nơi bắt đầu xung đột với nhau và làm đế chế Mông Cổ rộng lớn dần tự tan giã dù ông có công chinh phục đại Tống. Sự chinh phục được nhà Tống lại trở thành chất kich thích giúp 1 TQ thống nhất và mở rộng bờ cõi rất lớn so với TQ trước đây.
Có 1 nhà chinh phục vĩ đại từ trước tới ông là Alexander Đại Đế, tuy nhiên vị đại đế này vẫn còn là học trò của Chinggis Khan về mưu chước và sự ranh mãnh. Chinggis Khan phụ thuộc vào nhiều người để bảo vệ và chăm sóc ông, chiến đấu vì ông, chu cấp cho người của ông, mở ra cho họ những kênh thương mại và tiếp xúc mới với thế giới bên ngoài, viết ra luật của Mông Côt và lưu trữ sổ sách, và giáo dục con cái họ.
10. Di sản: Đế chế mông cổ, lịch sử Á-Âu và mông cổ hiện đại
5 yếu tố trong di sản Chinggis Khan:
• Khái niệm vè quyền cai trị phổ quát biện minh cho các cuộc chinh phạt chính đáng: khi sống sót trong quá trình thực hiện tham vọng, ông tin mình có thiên mệnh và càng quyết tâm theo đuổi tham vọng của mình. Quân Mông Cổ với số lượng nhỏ, họ đã triển khai nền kinh tế chiến tranh tàn nhẫn, áp dụng kỉ luật của các cuộc săn, khủng bố tinh thần có tính toán, phóng đại, mánh khoé đánh lừa, và các cách khác để giành được chiến thắng.
• Đế quốc là tài sản chung của hoàng tộc: cả về chính trị lẫn kinh tế. Người dân hiểu đế chế do cả dòng họ chứ không phải của 1 vị Khan. Những người trong dòng họ đều được ban thưởng lớn, có đặc quyền kế vị, phong cách ra ý kiến theo số đông dân chủ,...
• Tính chính danh của dòng họ Chinggisid: chỉ có dòng dõi chính thức của Chinhgis mới có thể được lên làm Khan. Các nước chư hầu đều mong muốn lấy con các Khan để có thể chính danh kiểm soát đất nước họ.
• Các nghi thức trong triều: săn bắn và uống rượu: sự phân biệt giai cấp cao của nhà nước Mông Cổ khi đó, văn hoá mang nhiều tính quý tộc nhưng cũng không quá rườm rà. Họ say kê vàng bạc, đá quý, trang sức và ảnh hưởng lớn tới các triều đình sau này.
• Bảo trợ thương mại thông qua quan hệ đối tác với thương gia để quản lý các lãnh thổ bị chinh phục. Mông Cổ đã bảo trợ đảm bảo các con đường vận chuyển, kinh doanh Á - Âu được thông suốt cả trên đất liền và trên biển.
Các yếu tố này phần nhiều mang trong nó quan niệm và tập quán của người Mông Cổ trước đây, điều này mang lại thương hiệu đặc trung Mông Cổ tại những nơi họ cai quản.
Văn hoá Hoàng tộc Mông Cổ ở Đông Á và Ba Tư: TQ và Ba Tư là 2 đất nước giầu có nhất trong lãnh thổ Mông Cổ với nền kinh tế nông nghiệp định cư phát triển. Văn hoá và lối sống Mông Cổ được triển khai ỏ Trung Quốc bị coi là đi ngược lại truyền thống Khổng Giáo tại đây và gặp nhiều sự chống cự văn hoá, nhà Nguyên phải trao cho các quan lại cai trị địa phương nhiều quyền hành hơn để quản lý và nới lỏng các chính sách như tại Mông Cổ. Nhà Nguyên tại Trung Quốc cũng cai trị trên danh nghĩa TQ nên đã giúp lãnh thổ TQ mở rộng rất nhanh tạo ra nước TQ rộng lớn về sau này. Sau khi Khubilao qua đời, nhà Nguyên bị mâu thuẫn trong cách cai trị TQ. Không có sự đồng thuận trong việc chiếm đóng TQ, người Mông Cổ không thể tạo ra sự cân bằng giữa việc khai thác của cải và duy trì trật tự. Chính quyền này sụp đổ vào thế kỷ 14 tại TQ.
Văn hoá Mông Cổ tại Nga: sau khi chiếm đóng Nga, 1 người con của Chinggis cai quản vùng đất nước Nga ngày nay và lập lên Qiqchaq hay Kim Trướng hãn quốc cai trị và ảnh hưởng sâu rộng tới văn hoá Nga sau này. Rất nhiều người Nga có gen Thổ - Mông trong người và bị coi là làm chậm sự đổi mới của nước Nga so với các nước công nghiệp Tây Âu khi cách mạng công nghiệp nổ ra ở Tây Âu. Tuy nhiên, nhờ di sản văn hoá Tarta mà người Mông Cổ để lại đã giúp các triều đại sau của Nga thiết lập được sự ảnh hưởng to lớn tại Trung Á, Đông Âu khi các nước này cùng bị ảnh hưởng trung bởi 1 nền văn hoá Mông Cổ nhiều thế kỷ.
Di sản ở Mông Cổ: Đế chế Mông Cổ có nguồn gốc và tính chất là 1 tổ chức quý tộc, tập trung chủ yếu vào tầng lớp tinh hoa chinh phục với nhiều đặc quyền. Thêm vào đó, Chinggis được thần thánh hoá và con cháu của ông được ban cho nhiều đặc ân lớn dù sau khi đế chế sụp đổ đất nước chia cắt và không bao giờ quay lại hùng mạnh được cho tới nay. Văn hoá, kinh tế Mông Cổ bị ảnh hưởng nặng nề bởi Trung Quốc nhất là sau khi nhà Mãn Thanh chiếm đóng cả Mông Cổ và Trung Quốc vào thế kỷ 17. Giai đoạn từ cuộc cách mạng Mông Cổ 1921- 1990 thì hình ảnh Chinggis Khan bị cấm và hạn chế tại đây. Sau giai đoạn 1990 hình ảnh ông được phục hưng tại Mông Cổ và tới hiện tại hình ảnh ông xuất hiện mọi nơi tại Mông Cổ, đây là 1 tín hiệu cổ vũ chi sự phục hưng và chủ nghĩa dân tộc tại đất nước này hiện nay. Nhiều người dân Mông Cổ ngày nay đã đổi họ sang họ Borjigin theo họ của gia tộc Chinggis.



















