Thứ Bảy, Tháng Ba 14, 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Review sách
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Review sách
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Review sách
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Home Review sách Sách quản trị kinh doanh

The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

nguyenminhhanh bởi nguyenminhhanh
Tháng Một 25, 2026
in Sách quản trị kinh doanh
Thời gian đọc:85phút
0
The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

Trong bộ sách TITAN, cuốn sách này kể về gia tộc Morgan với công ty lừng lẫy J.P Morgan mà ngày nay ngân hàng J.P Morgan vẫn còn tồn tại và là ngân hàng lớn nhất nước Mỹ hiện nay và tính trên vốn hóa thị trường thì cũng là ngân hàng có vốn hóa thị trường lớn nhất trong các ngân hàng trên thế giới. Bên cạnh đó Morgan Stanley cũng là ngân hàng được tách ra từ sản phẩm của J.P Morgan trước đây.

  1. Phần I. Thời kỳ các ông trùm (1838 – 1913)
  2. Lão hà tiện

Vào những năm 1830s, Lon don vẫn là trung tâm tài chính của thế giới với thặng dư tài chính khổng lồ từ khắp nơi đổ về đây. Các ngân hàng lớn nhất lúc đó là Barings và Rothschilds. Khi đó thương gia George Peabody đã là 1 người nổi tiếng trong ngành ở Mỹ. Năm 1837, ông chuyển đến Lon don và mở 1 ngân hàng bán buôn sau nhiều năm sinh sống và làm việc ở Mỹ tại số 31 phố Moorgate tên George Peabody & Co. Ông gia nhập 1 nhóm các ông chủ ngân hàng chuyên phục vụ các hoạt động như kinh doanh vải sợ và cáp vốn cho các hoạt động này. Hoạt động này rất khác so với hoạt động ngân hàng thông thường như nhận và gửi tiền tiết kiệm hay cho vay lúc đó.

Những năm 1840, nhiều bang ở Mỹ đã không trả được nợ trái phiếu và tiến hành các vị quỵt nợ mà đáng hổ thẹn nhất là bang Missisippi. Các trái phiếu nhiều bang vỡ nợ và Peabody phải gánh chịu hậu quả do họ đã chào bán hơn ½ trái phiếu của bang Maryland tại châu Âu. Họ đã dùng các biện pháp hối lộ, vận động hành lang để bầu lên chính quyền mới ủng hộ việc nối lại trả nợ. Và các trái phiếu Peabody mua khi bị dừng trả nợ ở giá thấp sau đó đã tăng giá mạnh trở lại.

Tới năm 1850, Peabody đã tích lũy được khối tài sản 20 triệu USD khi tài trợ tất cả mọi thú từ việ cbuôn bán lụa với Trung Quốc cho tới xuất khẩu đường ray bằng sắt đến Mỹ. Trái ngược với sự giầu có, Peabody là 1 người cực kỳ tằn tiện trong chi tiêu cho cá nhân như mang đồ ăn đi tại phòng, đi xe ngựa công cộng, mua quả táo với giá 1 xu rưỡi,…nhưng ông luôn lo ngại các cuộc khủng hoảng tài chính có thể nổ ra bất cứ lúc nào và thường dự trữ 1 lượng tiền lớn để đề phòng điều này.

Peabody là 1 người độc thân và không có con cái. Ở tuổi 60 ông muốn chuyên tâm cho việc từ thiện, bác ái hơn là kinh doanh. Nhưng là 1 ông chủ ngân hàng bán buôn ông rất chuyên quyền và ít chịu chia sẻ quyền lực cho cấp dưới. Giai đoạn này ông đang tìm kiếm người kế nhiệm với yêu cầu phải là người Mỹ hòa đồng, có gia đình và kinh nghiệm về ngoại thương. Junius Spencer Morgan được giới thiệu cho vị trí này. Khi đó tầm cỡ của ngân hàng Peabody chỉ dưới Barings và Rosthchilds. Tháng 10/1854, Nhà Morgan chính thức trở thành đối tác của công ty. Trái phiếu Mỹ lúc đó là 1 món hàng chất lượng khi nền kinh tế bùng nổ và châu Âu lại thường xảy ra chiến tranh và tỏ ra kém ổn định hơn.

Năm 1857, cuộc khủng hoảng ở Peabody nổ ra khi cuộc chiến Crimea kết thúc và giá lúa mì giảm, trái phiếu và cổ phiếu Mỹ bị bán hạ giá mạnh và Peabody đại diện cho Mỹ bị ảnh hưởng nặng nề và phải giải cứu. Khi đó chàng trai rẻ Pierpont, vừa tốt nghiệp đại học và bắt đầu thực tập ở phố Wall tại Ducan, Shermna & Co. Mặc dù Peabody vẫn đứng đầu nhà băng trên danh nghĩa tới tận năm 1864 nhưng từ sau khủng hoảng năm 1859, Junius Morgan đã là người đứng đầu trực tiếp điều hành nhà băng này.

Cuộc nội chiến Mỹ nổ ra và liên bang miền Bắc thiếu thốn vốn trầm trọng. Gia đình Morgan đã tích cực giao dịch các trái phiếu của liên bang miền Bắc, loại mà giá cả biến động lên xuống theo từng trận đánh. Thời gian này ông già Peabody cũng đột nhiên trở nên cực kỳ rộng rãi và thực hiện các hoạt động từ thiện quy mô lớn ở Mỹ. Mặc dù vậy riêng với nhân viên và các cộng sự thì Peabody lại cừng kỳ hà khắc và tằn tiện như cuộc sống cá nhân ông vậy. Ông Peabody mất khi 74 tuổi tại London.

Năm 1864, kết thúc thỏa thuận 10 năm giữa Peabody và Morgan, ông đã rút tên và vốn khỏi ngân hàng này và tạp trung làm từ thiện. Miễn cưỡng, Morgan đã đổi tên ngân hàng thành J.S. Morgan & Co.

  1. Ông cố vấn

Dấu ấn của người cha Junius Morgan đã định hình lên người con J. Pierpont Morgan (JP) và định hình ngân hàng này cả thế kỷ sau đó. Phong cách của người cha giống các nhà tài phiệt khác ở Mỹ khi đó khi là người lãnh đạm, điềm tĩnh và hiếm khi để lộ cảm xúc. Ông có sự hài hước thâm sâu, phong thái ôn hòa và kỷ luật sắt. Người cha lớn lên từ sự nghèo khó và phấn đấu đi lên, còn người con JP thì lớn lên với sự giầu có với phong thái hòa nhã và tư thế đĩnh đạc và được giáo dục tốt. Con cái nhà Morgan cũng được những người châu Âu đối xử tốt không như những người nhà Vanderbilt. Gia đình Morgan cũng là 1 gia đình khá giả từ khi họ di cư tới Mỹ từ xứ Wales. Ông của JP khi qua đời đã để lại cho bố ông gia sản trị giá hơn 1 triệu USD vào năm 1847.

4 năm sau Junius tới Boston mua lại cổ phần ở công ty và trở thành cổ đông của công ty sau cơ cấu là J.M. Beebe, Morgan &Co – là công ty thương mại lớn nhất thành phố và kinh doanh toàn cầu. Khi đó các nhà băng như Barings, Rothschilds đều kinh doanh dưới dạng công ty gia đình, cha truyền con nối nên Junius đã bắt đầu đào tạo JP từ bé để chuẩn bị cho sau này. JP cũng là người con trai thừa kế duy nhất của ông bố Junius.

Khi Junius tới London năm 1854 để gia nhập Peaboby, JP đến Genevo học tiếp trung học và sau đó vào đại học Gottingen ở Đức năm 1856. Cậu không nổi bật với các môn lý thuyết mà chỉ giỏi môn toán. Bù lại cậu là 1 người sôi nổi, lịch lãm đúng phong cách quý tộc châu Âu. Năm 1857, JP bwats đầ làm việc tại Duncan, Sherman. Năm 1859, anh tới New Orleans để tiến hành vụ đầu cơ coffee lớn với người Brazil. Nhưng sự táo bạo này dù thành công cũng làm những ông chủ ở công ty lo ngại về sự liều lĩnh trong kinh doanh của JP.

Năm 1861, JP thành lập ngân hàng riêng J.P. Morgan & Co. tại số 54 Exchange Place với người em họ James J. Goodwin ở tuổi 24 và ngân hàng này là đại diện của George Peabody & Co. tại Mỹ. Ông chủ yếu phụ trách thu thập các thông tin về chính trị và tài chính ở Mỹ và gửi sang cho cha mình ở London. Việc viết các bức thư này giữa 2 cha con kéo dài tới 33 năm sau đó.

Trong cuộc nội chiến Mỹ, JP đã có rất nhiều vụ đầu cơ thu lời rất lớn nhưng cũng rất gây tranh cãi về mặt đạo đức như vụ buôn súng trường bán gấp 6 lần giá thu mua cho quân đội đồng minh miền Bắc. Ông cũng là 1 nhà đầu tư làm giá trên thị trường rất mạnh giai đoạn này khi giá cả cổ phiếu cực kỳ biến động theo từng trận chiến. Năm 24 tuổi này JP cũng bất ngờ kết hôn với Mimi nhưng người vợ này nhanh chóng qua đời sau đó 4 tháng vì bệnh lao phổi.

NĂm 1864, Junius cùng con trai JP và đối tác Charles H. Dabney thành lập ngân hàng Dabney, Morgan & Co. với vai trò then chốt của Junius trong các khoản tín dụng. Năm 1864, JP kết hôn với Frances Louisa Tracy (Fanny) con của 1 luật sư nổi tiếng. Cha con nhà Morgan xuất hiện đúng lúc gọi là thời kỳ các ông trùm khi ngành đường sắt, công nghiệp nặng bùng nổ và đòi hỏi lượng vốn rất lớn. Các chủ ngân hàng dần có đặc quyền về phần bổ vốn và tự họ thấy họ vượt trội hơn các ông chủ ngành khác. Họ tạo thành 1 liên minh ngầm nhằm tránh cạnh tranh với nhau và họ được lựa chọn khách hàng để làm việc chứ không phải như ngày nay họ phải đi tìm khách hàng khắp mọi nơi. Họ rất có quyền lực và cực kỳ có như Barings hay Rothschilds.

Vị thế của Barings và Rothschilds rất lớn và gia đình Morgan thèm khát được chen chân vào, bên cạnh đó nguồn vốn của Morgan cũng rất nhỏ so với 2 ngân hàng lớn nhất này. Khi vua Napoleon III bị bắt và Pháp sụp đổ nền quân chủ, chính phủ mới của Pháp thiếu thốn đã tới Paris để tìm kiếm tài chính và Barings đã cấp vốn cho Phổ nên ngại cấp cả cho Pháp, còn Rothschilds nghi ngờ về khả năng trả nợ nên từ chối. Cơ hội tới với nhà Morgan đột nhiên xuất hiện. Họ đã kêu gọi 1 khoản vay trị giá 10 triệu Bảng ~ 50 triệu USD cho Pháp đúng lúc đó. Họ đã phát minh ra 1 thể chế hoàn toàn mới: đồng tài trợ ở đây – 1 liên minh xanh-đi-ca. Các trái phiếu này được bán ở mức 85 điểm, mức chiết khẩu 15 điêm so với mệnh giá. Và có lúc khi Paris thất thủ và công xã Paris nổ ra nó đã xuống tới 55 điểm, Junius gần như phá sản khi đó. Thật may mắn cho ông, dù thất bại trong chiến tranh nhưng người Pháp vẫn trả nợ đầy đủ trái phiếu vào năm 1873 và Junius đã có khoản lãi lớn từ trái phiếu này. Nó giúp ông có khoản lợi nhuận 1,5 triệu Bảng khi đó và vốn của nhà băng tăng mạnh và dần có vị thế cao hơn hẳn trước đây. Khi từ 1 doanh nhân thành công, giờ đây Junius đã trở thành chủ ngân hàng quyền lực hàng đầu ở London. Và ông đã không cưỡng được sự xa hoa khi bắt đầu lối sống xa xỉ ở London.

  1. Chàng hoàng tử

Trong suốt 30 năm, JP là đại diện ở phố Wall của Junius Morgan. Ngành kinh doanh đường sắt là ngành bùng nổ mạnh mẽ nhất trong nội chiến Mỹ. Chỉ trong 8 năm đã tăng gấp 2 lên 70k dặm. Đường sắt bùng nổ đi kèm với các diện tích đất khổng lồ ăn theo 2 bên đường sắt, các thị trấn mới được mọc ra như nấm dọc theo các tuyến đường sắt. Các ông chủ ngân hàng cũng cạnh tranh nhau dữ đội trong cuộc đua cấp vốn và đầu tư vào ngành đường sắt siêu bùng nổ này. Rất nhiều tuyến đường được xây dựng chắp vá, suất đầu tư cao khổng lồ, số km xây thực tế gấp 2 lần số km thực sự cần thiết, xây vượt quá xa lưu lượng thực tế,… Các tay chơi sừng sỏ khi đó như Jay Gould, các cuộc cạnh tranh, giao dịch nội gián, chủ nghĩa tư bản hoang dã bộc lộ hoàn toàn ở giai đoạn này. Năm 1869, phố Wall lần đầu chứng kiến tài năng của JP khi ông tham gia vào vụ tranh cãi nảy nửa nắm quyền kiêm soát công ty A&S và đã thành công giúp 1 bên đánh bại bên của Ray Gould.

Trong những năm 1870, JP đã bắt đầu tạo lập được 1 phong cách riêng: không chỉ đơn giản là người cấp vốn cho các công ty, anh còn muốn trở thành luật sư, linh mục và bạn tâm giao của họ. Sự kết hợp chặt chẽ này giữa 1 số công ty và ngân hàng nhất định “quản lý ngân hàng cá biệt hóa” sẽ trở thành 1 đặc điểm chủ yếu của ngân hàng tư nhân trong thế kỷ tiếp theo.

Thu nhập mỗi năm của JP khi đó khoảng 75k USD là khoản tiền rất lớn lúc bấy giờ. Ông cũng sống ở khu nhà lộng lẫy và mua thêm 1 số khu đất khác. Họ có 4 người con gồm 3 gái và 1 trai. Khi cổ đông cũ Dabney nghỉ việc, nhà Morgan đã chấp nhận Tony Drexel 1 chủ ngân hàng lớn ở Philadelphia làm cổ đông khác thay thế. Năm 1871, Ngân hàng mới sau đó là Drexel, Morgan là tiền thân của J.P. Morgan & Co. sau này. Ngân hàng này anh em nhà Drexel góp 7 triệu USD, JP góp 350k USD và sau đó được bố ông bổ sung cho thêm 5 triệu USD. Thứ tự tên của nhà băng thể hiện cho tầm quan trọng của các cổ đông trong đó. JP được coi là người mạo hiểm nhất của ngân hàng, nhưng anh bị kìm hãm bởi anh em nhà Drexel để không đi quá giới hạn dù họ cũng thường xuyên có các cuộc cãi vã lẫn nhau.

Tại thời điêm đó, Jay Cooke là nhà tư bản tài chính lớn nhất ở Mỹ. Từ tay trắng làm lên, ông đi đầu việc bán trái phiếu lẻ tới tất cả người dân Mỹ qua hệ thống 2.500 người bán hàng trên khắp đất nước trong suốt thời kỳ nôi chiến Mỹ. Năm 1869, ông lún sâu vào việc tài trợ cho Northerm Pacific Railroad với khoản trái phiếu 100 triệu USD và hàng loạt việc khác. Việc gắn quá chặt vào hệ thống đường sắt này làm mở đầu cho chuỗi suy tàn dần của ông sau này. Sau vụ bê bối Credit Mobilier, trái phiếu Mỹ bị tẩy chay bởi các nhà đầu tư châu Âu và ngân hàng của Ray Cooke phá sản vào 18/9/1873. Các nhà đầu tư châu âu mất khoảng 600 triệu USD trong đợt sụp đổ này.

Vụ phá sản của ngân hàng lớn nhất nước Mỹ khi đó làm cơn hoảng loạn bùng nổ ở phố Wall. Lần đầu tiên sở giao dịch New York phải đóng cửa 10 ngày từ khi thành lập. Cổ phiếu, trái phiếu rơi không phanh và tất cả đều hoảng loạn, nó đã quét sạch tài sản của rất nhiều nhà đầu tư trên phố Wall và ám ảnh cả 1 thế hệ sau đó. Với việc Jay Cooke bất ngờ bị xóa sổ, Drexel, Morgan bất ngờ trở thành ngân hàng lớn nhất ở Mỹ và trở thành tay chơi chính, chủ chốt tại Mỹ từ đây.

Theo quy tắc các chủ ngân hàng quyền quý, các chủ ngân hàng tự chịu trách nhiệm đối với trái phiếu họ bán ra và cảm thấy bắt buộc phải can thiệp khi mọi thứ không như ý muốn. Các tuyến đường sắt chính là thứ không như ý muốn và đã nhấn chìm Jay Cooke. Các hệ thống ủy thác quyền kiểm soát cũng được áp dụng ở đây khi các chủ nợ, trái chủ lập ra 1 ủy ban và nhà Morgan thường lãnh đạo ủy ban ủy thác này để vận hành các công ty đường sắt bị rơi vào cảnh phá sản. JP lúc đó từ 1 đứa trẻ đã dần trở thành bạo chúa, người hoàn toàn tin vào các quyết định của mình và khăng khăng yêu cầu tất cả làm theo ý mình, và tình cờ hay sự giỏi giang các quyết định đó thường đúng.

Năm 1876, Drexel rời công ty và JP bắt đầu phải tự điều hành 1 mình và bị bó buộc trong trách nhiệm này sau đó. Mặc dù hay cắn cảu và gắt gỏng, đòi hỏi đối tác quá cao và hay đánh giá thấp người khác nhưng nhà Morgan là đối tác đáng tin cậy, ngay thẳng với các công ty. Rất may mắn là gia tộc Rothschilds đã đánh giá thấp vai trò nước Mỹ nên tham gia ở Mỹ tương đối hạn chế mà vẫn tập trung chính ở châu Âu giai đoạn này tạo điều kiện cho nhà Morgan chiếm lĩnh thị trường Mỹ.

Gia tộc Morgan luôn duy trì sự nghiêm khắc gia trưởng và không cho phép sự nổi loạn, chỉ có sự tôn kính đối với cha. Junius cũng là người cha rất nghiệm khắc, luôn gây áp lực tinh thần lên con, đòi hỏi con phải chứng tỏ bản thân, ghét sự bừa bãi, lộn xộn,….Từ 1879, JP bắt đầu dần thoát khỏi bóng người cha và đứng ra tự làm chủ công việc và bắt đầu thực hiện những giao dịch lớn. Người cha Junius của ông cũng tới tuổi ngoài 60 và bắt đầu nghỉ hưu bán thời gian.

Cơ hội lớn tới với JP khi vào năm đó phó đề đốc Vanderbilt qua đời ở tuổi 83 và để lại gia tài khổng lồ 100 triệu USD, ông được coi là người giầu nhất nước Mỹ lúc đó. Con trai ông William Henry được thừa kế 87% cổ phần tại New York Central nhưng lại không chuẩn bị đủ để tiếp nhận nó và tạo cơ hội cho việc chuyển đổi từ công ty gia đình sang công ty đại chúng ơ đế chế Vanderbilt. Đế chế này sở hữu 4.500 dặm đường sắt nối nhiều tuyến với nhau. William cũng bị áp lực lớn bởi cấc cuộc điều trần và công kích về sự đồ sộ quá lớn của đế chế có thể làm ảnh hưởng tới người tiêu dùng bởi sự độc quyền.

Vanderbilt đã chọn JP ở tuổi 42 và bắt đầu kế hoạch giảm tỷ lệ nắm giữ NY Center để giảm áp lực cho bản thân. Bài toán đặt ra là bán ra 250k cổ phần công ty mà không làm giảm giá cổ phiếu. Đợt phân phối 50k cổ phần đầu tiên nhanh chóng kết thúc và JP hưởng 3 triệu USD hoa hồng làm giới tài chính phố Wall kinh ngạc. Gia đình Morgan sau đó đã luôn dùng công bố nhóm nhà đầu tư châu Âu để chỉ 1 nhóm cổ đông gồm cả chính họ và JP là đại diện bỏ phiếu ở Mỹ để dần tập trung và kiểm soát quyền quyết định ở các công ty đường sắt ở Mỹ.

  1. Du thuyền Corsair

Thời điểm năm 1882, JP bắt đầu thu nhập được khoảng 500k USD/năm và cán cân quyền lực bắt đầu nghiên về New York thay vì London như trước kia. Nhà Morgan lúc đó cũng chuyển nhà tới khu phố Murray Hill của Manhattan là khu khố giầu cũ thay vì Đại lộ số 5 là khu các nhà giầu mới. Nhà Morgan cũng là gia đình sử dụng điện đầu tiên ở NY do họ đã đầu tư vào công ty điện của Edison vào năm 1878. Nhà Morgan cũng rất cẩn thận để đảm bảo sự riêng tư của gia đình mình như các gia đình ngân hàng thượng lưu ở châu Âu.

JP thích làm từ thiện nhưng ông chỉ làm cho các hoạt động như Bảo tàng, nhà hát opera, bênh viện,… và chỉ tập trung cho các tầng lớp tinh hoa cao cấp chứ không quan tâm tới việc chống đói nghèo hay các vấn đề xã hội. JP là người thích tham gia các câu lạc bộ cho giới thượng lưu và ông thích cả việc lập ra các clb đó. Thú chơi du thuyền sang trọng cũng được hình thành trong giai đoạn này khi ông mua du thuyền Corsair vào năm 1882 và sau đó dùng nó cho các hoạt động giải trí thường xuyên của mình. Con tàu này sau đó trở thành 1 clb khi nó thường được dùng để tiếp đãi khách khứa và các vụ thỏa thuận bí mật cấp vốn đực biệt trong ngành đường sắt khi vào giai đoạn đó JP trở thành nhà cấp vốn chính cho ngành này ở Mỹ. Ông cũng trở thành 1 nhà phân xử các tranh chấp trong ngành đường sắt sau đó với các vụ giúp giàn sếp cạnh tranh giữa các công ty với nhau. JP cũng là người rất ghét cạnh tranh tự do và ưa thích độc quyền.

Junius Morgan qua đời năm 1890 ở tuổi 77 và để lại sự nghiệp với vị thế ngân hàng Mỹ số 1 ở châu Âu và sánh ngang với các ngân hàng lâu đời nhất London như Barings và Rosthchilds. Sau khi cha mất, các gông cùm đạo đức bị tháo bỏ. JP trở thành ông trùm, 1 tên cướp biển, người bảo trợ cho nghệ thuật. Ông cũng được thừa kế từ cha ngân hàng khổng lồ, 12,4 triệu USD tài sản. Ông tiến hành mua thêm chiếc du thuyền Corsair II. Trong khi JP chỉ học lõm bõm tại đại học Gittingen thì Jack Morgan con trai của ông là người học hành đầy đủ và tốt nghiệp ĐH Harvard vào năm 1889.

Năm 1895, ngân hàng có đợt tái cơ cấu lớn và đổi tên thành J.P. Morgan & Co. thay cho tên cũ. Văn phòng ở Paris thì đổi thành Morgan, Harjes. Công ty ở Philadelphia vẫn là Drexel & Co., nhưng gia đình Drexel đã rời khỏi hoạt động của hệ thống công ty Morgan. Mặc dù có tầm nhìn rộng lớn, JP vẫn đặc biệt chú ý tới chi tiết và rất hãnh diện về việc có thể thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào trong ngân hàng. Quyền lực của JP tăng mạnh trong đợt suy thoái công nghiệp năm 1893 khi có hơn 15k công ty sụp đổ, hơn 600 ngân hàng phá sản, các cuộc biển tình nổ ra ở nhiều nơi. Các công ty phá sản tái cơ cấu và bị các ngân hàng trói chân sau đó. GE được hình thành năm 1892 thông qua đợt sáp nhập giữa Edison General và Thomson-Houston Electric. 1/3 số công ty đường sắt tại Mỹ bị mua lại và sáp nhập khi đó. Morgan khi đó đã kiểm soát tới 60% cổ phiếu ngành đường sắt lúc đó ở Mỹ và thu về phí đều đặn 1 triệu USD/năm. Các trái chủ cũng buộc phải chấp nhận hoán đổi sang trái phiếu lãi suất thấp hơn để các công ty đường sắt có thể trả được nợ.

Sau quá trình cơ cấu thì chỉ còn lại 6 hệ thống đường sắt chính và hầu hết nằm trong tay các công ty ủy thác của ngân hàng kiểm soát như J.P. Morgan và Kuhm, Loeb. Chỉ có 150 nhân viên mà đã hoàn thành công việc cơ cấu ngành đường sắt đồ sộ này. Nhưng các nhân viên tài năng nhất mà JP có thể tuyển cũng làm việc vô cùng cật lực và nhiều người bị quá sức tới tử vong.

  1. Góc lũng đoạn

Năm 1895, JP đã có chiến tích vĩ đại khi cứu được chế độ bản vị vàng tại Mỹ. Chế độ này khởi đầu vào năm 1879 khi chính phủ cam kết mỗi đồng USD được in ra có 1 lượng vàng nhất định đảm bảo giá trị cho nó. Chính phủ cam kết nắm giữ 100 triệu USD vàng dưới dạng vàng thỏi và vàng xu. Nhưng rắc rối xảy ra ngay vào năm 1880 khi vàng bị chảy dần mòn sang châu Âu.

Khởi nguồn của rắc rối là 2 ngân hàng lớn ở London là Barings và Morgan làm ăn rất lớn ở Argentina và đã chuyển rất nhiều tiền vào đây cho vay, mua trái phiếu, đầu cơ cổ phiếu. Rồi bỗng nhưng đất nước này bị mất mùa lúa mì, đảo chính làm thiệt hại nặng nề. Sau đợt khủng hoảng này Barings đã đánh mất sự oai phong của mình và không bao giờ lấy lại được hào quang trước đây nữa. Sau đó người Mỹ đã nỗ lực giảm giá trị đồng USD bằng chính sách dùng cả bạc đảm bảo giá trị đồng USD thay vì chỉ có vàng. Các chủ nợ châu Âu lo ngại việc này là 1 cách đánh tụt giá trị đồng USD nên đã yêu cầu nhận lại các khoản nợ bằng vàng thay vì bằng USD. Sự chảy máu vàng đã buộc chính phủ phải bãi bỏ chế độ bản vị bạc và ngừng mua bạc vào năm 1893 nhưng vẫn không ngăn được sự nghi ngờ của các chủ nợ châu Âu.

Giai đoạn này nhà bằng J.P. Morgan & Co. bị xã hội lên án rất kịch liệt vì bị cho là tay sai, hiện thân của các chủ tư bản Anh chèn ép các người nông dân khốn cùng ở Mỹ. Nông dân Mỹ nợ đầm đìa ưa thích giảm giá trị đồng tiền và lạm phát để họ có thể trả nợ ít hơn và giá hàng hóa cao hơn. Tới năm 1894, dự trữ vàng của Mỹ xuống <100 triệu USD là mức sàn mà Mỹ cam kết. Đồng tiền xấu (bạc) dần đẩy đồng tiền tốt (vàng) ra khỏi lưu thông. JP là 1 người ủng họ trung thành cho chế độ bản vị vàng vì nó giúp duy trì niềm tin của các nhà đầu tư châu Âu với Mỹ và giúp lấy được các nguồn vốn từ đó phục vụ cho nước Mỹ.

Tới 24/1/1895, dự trữ vàng của Mỹ xuống còn 65 triệu USD và các biện pháp để cứu vớt trở nên tê liệt. Tổng thống Cleveland cũng là người trung thành với chế độ bản vị vàng nhưng phải đối mặt với quốc hôi thù địch và đám đông dân túy đòi bãi bỏ chế độ bản vị vàng mạnh mẽ. 1 xanh-đi-ca mới được lập ra giữa Morgan cùng Rothschild ở Mỹ và London để chuyển lại 3,5 triêu ounce vàng từ châu Âu về Mỹ và đổi lại là trái phiếu thời hạn 30 năm trị giá tương đương 65 triệu USD được lập ra để giải quyết tình trạng chảy máu vàng. Trái phiếu này nhanh chóng được bán với giá nhẩy vọt lên tới 112,25 điểm cao hơn so với giá ban đầu 100 điểm đã giúp các ông chủ ngân hàng có khoản lãi lớn nhanh chóng. Hoạt động lũng đoạn giá vàng và giá USD bắt đầu hình thành từ đây và hoạt động của JP đã dần giống như hoạt động của 1 ngân hàng trung ương.

Quá trình phát triển của nước Mỹ rất thuận lợi đặc biệt sau chiến thắng trong chiến tranh Mỹ – Bồ Đào Nha và tổng thống McKinley của đảng cộng hòa thực hiện chính sách thoải mái không ngăn cản gì việc các tờ rớt hình thành tại Mỹ. Hàng loạt tờ rớt ngành công nghiệp đã hình thành lúc đó và rất thu hút các nhà tư bản tại phố Wall. Đỉnh điểm là cuộc tập trung hóa tạo ra tờ rớt thép US Stell mà JP Morgan là người đứng đầu tờ rớt này. Tờ rớt này rất khó khăn bởi JP gặp 2 đối thủ vô cùng khó khă là Carnegie vua Thép và Rockefeller người kiểm soát các mỏ quặng tại Mỹ. Khi tờ rớt hình thành sẽ kiểm soát hơn 50% sản lượng thép tại Mỹ khi đó. Cuối cùng Carnegie đồng ý bán hệ thống công ty thép của mình với giá 480 triệu USD bằng trái phiếu để nó sáp nhập vào tờ rớt thép US Steel. Thị trường chứng khoán Mỹ cũng bùng nổ cơn sốt đầu cơ khi đó với hàng loạt câu chuyện về nhân viên phục vụ khách sạn, nhân viên kinh doanh, gác cổng, thợ may,… đều giầu có nhờ đầu tư chứng khoán.

US Steel trở thành công ty có vốn lớn nhất thị trường với 1,4 tỷ USD so với cả thị trường chứng khoán Mỹ khi đó chỉ khoảng 9 tỷ USD. JPM dần trở thành ngân hàng của thép sau này người ta gọi và là thành phần bài do thái. Trong khí nó có rât nhiều đối thủ căm thù như các ngân hàng Kuhn, Loeb hay hệ thống National City Bank mà ngày này là Citibank được hậu thuận bởi Standard Oil của Rockefeller.

  1. Tơ-Rớt

Người con của JP, Jack Morgan 31 tuổi được điều đến London để phụ trách J. S. Morgan & Co. Mặc dù ở xa nhưng anh luôn hướng về các thương vụ nổi đình đám ở quê nhà mà bố mình đang thực hiện. Quá trình ở London này kéo dài từ năm 1898 – 1905. Jack thì mòn mỏi chờ đợi tới lúc được cha mình là JP chấp nhận như cách mà JP chờ đợi được ông bố của mình là Junius chấp nhận trước đây. J. P. Morgan là mô hình thu nhỏ của liên minh Mỹ-Anglo và nó phản ánh trung thực sự dịch chuyển quyền lực nội bộ của liên minh này từ London sang NY. Tại London Jack được xúc với các hoàng gia và giai cấp quý tộc cao cấp nhất ở châu Âu khi đó.

Trong chiến tranh Boer, chính phủ Anh đã cạn kiệt tiền và buộc phải sử dụng xanh-đi-ca gồm Morgan – Rothschilds- Barings cho các kế hoạch huy động vốn nhưng Barings đã tỏ ra suy yếu đáng kể so với vị thế của Morgan. Đặc biệt sau vụ sát nhập tờ-rớt US Steel năm 1901 đã làm rung chuyển thị trường London và họ trở nên choáng váng với quy mô ngành thép và thị trường tài chính ở Mỹ. Năm 1902, JP đã tạo ra tờ-rớt vận chuyển khổng lồ về vận chuyển vượt Đại Tây Dương (IMM) với 120 tầu hơi nước tư nhân lớn nhất thế giới. Sau đó họ cũng udwa cả các ông chủ tàu người Đức vào tờ-rớt vì người Đức dần trở thành các ông chủ biển cả mới thay thế người Anh.

Khi tổng thống McKinley người bảo trợ cho tờ-rớt bị ám sát, vị phó tổng thống T Roosevelt lên thay đã thể hiện mạnh mẽ sự chống đối với các tờ-rớt và các va chạm với các ông trùm đã nổ ra liên tục đặc biệt với những người hàng đầu như JP và Rockefeller. Cuộc tranh cãi về diệt tơ rớt diễn ra suốt giai đoạn Roosevelt (TR) làm tổng thống cả 2 nhiệm kỳ và JP là mục tiêu hàng đầu. Nhưng dù vậy TR cũng là người hết sức khen ngợi JP. JP là nhà sưu tập nghệ thuật lớn nhất trong lịch sử thế giới cho tới thời của ông và có lẽ cả sau này. Đây là niềm đam mê lớn nhất của ông. Khi ông qua đời bộ sưu tập của ông được định giá tới 50 triệu USD.

  1. Hoảng loạn

Ngày 25/3/1907, 1 cuộc hoảng loạn nhẹ nổ ra ở phố Wall và nhanh chóng trôi qua. Nhưng các lo ngại 1 cuộc khủng hoảng lớn hơn đang hình thành trong công chúng. Và như kỳ vọng, tháng 10/1907, 1 cuộc hoảng loạn quy mô lớn hơn đã thực sự nổ ra tại phố Wall làm rung chuyển ngành tài chính Mỹ. Mặc dù lúc đó ông đã bán nghỉ hưu nhưng sự quay trở lại giải cứu thị trường của ông được ví như vai trò của ngân hàng trung ương sau này. Sự sụp đổ các cổ phiếu làm các quỹ tín thác lung lay sụp đổ mạnh mẽ vì nó cung cấp lượng tiền lớn cho các khoản vay cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường làm thổi phồng cơn sốt đầu cơ. Khi giá cổ phiếu đột ngột sụt giảm làm tài sản ròng quỹ giảm mạnh đã kích hoạt làn sóng rút tiền ồ ạt và làm sụp đổ hàng loạt quỹ tín thác.

Vòa 24/10/1907, các cuộc họp giữa các ngân hàng và quỹ tín thác liên tục diễn ra vào họ đang gom 1 quỹ 25 triệu USD để giải cứu tình trạng khan tiền trên thị trường dù lãi suất đã nhẩy lên tới 150%/năm. Tin tức đưa ra đã tạo ra niềm tin và thị trường dẫn ổn định trở lại. Chỉ trong 1 tuần hoảng loạn đó mà 8 ngân hàng và công ty tín thác đã phá sản. Trong việc giải quyết đợt khủng hoảng thanh khoản này JP đã thể hiện vai trò lớn và cũng tận dụng được cơ hội cho tờ-rớt của mình chiếm được các ưu đãi vượt trội khi mua được giá rất thấp nhiều tài sản trên thị trường hoảng loạn.

Việc đứng ra giải quyết khủng hoảng trên thị trường bỗng nhiên biến JP từ tên cướp biển bị ghét bỏ thành nhà hiền triết. Sau cuộc khủng hoảng này, các luồng ý kiến về việc cần thành lập ngân hàng trung ương của liên bang để cần thiết giải cứu thị trường là thiết yếu vì không phải lúc nào cũng có ngài Morgan giải quyết như năm 1907 được. Tháng 11/1910, hàng trăm chủ ngân hàng phố Wall họp tại đảo Jekyll và phác thảo ra kế hoạch thành lập ngân hàng trung ương Mỹ (FED ngày này) dưới sự bảo trợ của các ngân hàng tư nhân và cũng là nơi sau đó được vẽ ra hàng trăm thuyết âm mưu. Bản thảo đầu tiên này bị bác bỏ, tới năm 1913 kế hoạch thành lập FED mới được thông qua với các sửa đổi nhưng từ đó vẫn đem lại vô vàn lợi ích cho các ông chủ ngân hàng tại phố Wall.

Năm 1909, Chính quyền mới của tổng thống đảng Cộng hòa Taft tỏ ra thù địch với tờ-rớt hơn nhiều so với thời tổng thống TR. Họ đã trực tiếp nhắm vào 2 tờ rớt lớn dưới sự kiêm soát của JP là US Steel và International Harvester (Hãng kiểm soát 85% máy nông nghiệp tại Mỹ). Sau chiến thắng với cuộc chiến Tây Ban Nha thì Mỹ chiếm Philippines và Puerto Rico và bắt đầu mở rộng bành trướng ra các nước khác và sử dụng J. P. Morgan & Co làm công cụ đô la hóa ra toàn cầu. Trước đây là mối quan hệ thù địch giữa các chủ ngân hàng và chính quyền; giờ đây là sự hợp tác khi chính phủ cần các đồng đô la đẻ mở rộng xuất khẩu ra các vùng xa xôi, và các chủ ngân hàng cần chính phủ để thu hồi các khoản tiền tại đây 1 cách thuận lợi. Đặc biệt là quá trình chính phủ Mỹ cùng Morgan và các ngân hàng phố Wall mở rộng mạnh mẽ hoạt động tại Trung Quốc khi nước này bị các liệt cường cưỡng chế mở cửa toàn diện. Họ đã thực hiện 2 khoản vay lớn cho TQ là khoảng 25 triệu USD làm đường sắt và khoản vay 50 triệu USD để cải cách tiền tệ. Sau các thương vụ này các ngân hàng ở Mỹ đã tập hợp nhau lại thành 1 xanh-đi-ca cho vay tập thể các nước ngoài Mỹ bao gồm chủ yếu là Morgan, National City Bank và First National Bank và thường thêm cả Kuhm, Loeb.

  1. Titanic

Những năm cuối đời của JP trở nên rầu rĩ và tin vào số mệnh. Ông bực mình với công chúng vì các chỉ trích của họ vào các tờ-rớt mà ông đã lập ra. JP có cô con gái Anne rất khác biệt với các người con khác khi rất thân cận với ông và sau đó trở thành những người tham gia nữ quyền mạnh mẽ nhất và đấu tranh cho phụ nữ ở Mỹ đầu thế kỷ 20. Người con Jack có mối quan hệ với JP tốt hơn khi ông càng về già và sau đó thừa kế quyền điều hành tại ngân hàng này.

Khi JP bán nghỉ hưu cũng đã trải qua 1 số lần thay đổi giám đốc điều hành khi ban đầu là Perkins nhưng ông này tỏ ra mình không phải là chư hầu của nhà Morgan và bị thay thế sau đó. Vị trí đó sau đó tới tay Davison. Davison có người phụ tá vô cùng tài năng là Tom Lamont đi cùng ông sang JP Morgan rất thành công.

Trước khi qua đời, JP còn thực hiện các công việc tái cấu trúc khác để con trai Jack của mình có thể kế nhiệm thuận lợi. Công ty J. S. Morgan & Co. ở London cũng được cấu trúc lại với cổ đông J. P. Morgan & Co ở Mỹ trở thành cổ đông và đổi tên thành Morgan Grenfell vào 1/1/1910. Và các cổ đông ở 23 phố Wall tiếp tục nắm giữ vị trí chủ chốt tại các tổ hợp vkhacs như Drexel & Co. tại Philadelphia hay Harjes ở Paris.

Tại tờ-rớt vận chuyển quốc tế IMM, vào năm 1911 con tàu Titanic huyền thoại được đóng xong và đi vào sử dụng đã tạo ra tai ương ngập đầu cho JP vào cuối đời với vụ chìm đầu trở thành huyền thoại trong lịch sử thế giới vào tháng 4/1912. Sau thảm họa thì tờ-rót suy sụp nhanh chóng và vỡ nợ vào năm 1914. Năm 1912, các cuộc nổi loạn chống tờ-rớt cũng bùng nổ dữ dội tại Mỹ và nhà Morgan là tấm gương chính bị chỉ trích mạnh mẽ nhất vì có nhiều tờ rớt lớ nhất trong ngành công nghiệp, bên cạnh đó là tở-rớt lớn nhất là nhà Rockefeller.

Năm 1911, chính quyền Mỹ bắt đầu kiệ tờ-rớt US Steel và bỏ qua cho tờ-rớt International Harvester vì mục đích làm máy nông nghiệp cho nông dân nên cần được hỗ trợ về giá thành. Vụ kiện này cuối cùng thất bại vì sự khôn khéo của nhà Morgan, nhưng nó vẫn hủy loại Standard Oil của nhà Rockefeller.  Cách kinh doanh các ông chủ ngân hàng xưa là thường ngồi vào HĐQT các công ty và thường thế là gán mác công ty đó sử dụng dịch vụ của ngân hàng mình. Quyền lực của J.P.M là vô cùng lớn lúc đó và không ai có quyền lực hơn ông ở nước Mỹ. JP cũng phải thường xuyên suất hiện trong các phiên điều trần Pujo chống tờ-rớt mà ông là người trực tiếp cầm đầu rất nhiều trong đó. Cuộc điều trần kéo dài đã bào mồn sức khỏe và tinh thần JP và tới 31/3/1913 ông qua đời ở Ý thọ 75 tuổi. Ông qua đời với tài sản ước tính khoảng 68,3 triệu USD và gây bất ngờ với rất nhiều người vì không nghĩ JP tài sản ít vậy.

  1. Thời kỳ ngoại giao 1913 – 1948
  2. Biến đổi

Năm 1912, J. P. Morgan & Co. mua lại tòa nhà số 23 phố Wall từ Drexel và đập đi xây lại với sự hào nhoáng, xa hoa bậc nhất khi đó. Lô đất được mua cũng có giá đắt đỏ nhất từng được ghi nhận tới lúc đó. Nó thể hiện sự miễn nhiễm với xung quanh của JP khi hàng loạt tòa nhà chọc trời khác xuất hiện trong giai đoạn này và làm cho tòa nhà của JP Morgan nhỏ bé đi rất nhiều. ở tuổi 46, Jack Morgan tiếp quản toàn bộ gia tài người bố JP để lại cho ông và 1 vai trò lớn nhất trong điều hành ở J.P. Morgan & Co.

Jack thừa kế nhưng không có sự độc đoán như JP mà giao quyền cho 1 số người khác cùng điều hành như Davison, Lamont. Và Jack cũng không có vị thế như JP và chỉ được coi là hạng 2 so với cha mình. Ngân hàng mới gần như là những người bên ngoài tài năng điều hành và dựa trên sự đồng thuận ra quyết định. Jack giữ là quyền giám sát và giật dây khi cần thiết với các quyền chính như phân bổ lợi nhuận cho các cộng sự, phân xử chanh chấp, sa thải và quyết định phần vốn dành cho cộng sự bị sa thả khi họ rời công ty. Ông nắm 32,3 triệu USD vốn cổ phần ở đây. Jack đã bắt chước cha mình JP thành công và duy trì được văn hóa J. P. Morgan & Co tiếp tục dù người cha độc đoán của ông đã qua đời. Các cộng sự thống nhất với nhau sẽ chiều theo Jack gần như mọi thứ ông muốn để đổi lại họ được quyền tự do điều hành công việc hàng ngày. Jack cũng tiếp tục phải đối mặc với các cuộc điều tra tờ-rớt mà đã nởi lỏng nhất nhiều sau cái chết của cha ông – người bị coi là kẻ chủ mưu của các tờ-rớt.

  1. Chiến tranh

Trước khi cuộc chiến nổ ra thì nền kinh tế Mỹ đã tương đối uể oải vào năm 1914 và giới kinh doanh khá chán nản. Khi chiến tranh nổ ra làn sóng bán tháo tài sản châu Âu bùng nổ khi các sàn giao dịch ở châu Âu bị đóng cửa. Các lệnh bán quá khổng lồ chờ sẵn đã làm sàn NY đóng cửa tạm thời từ tháng 7-12/1914 để ngăn chặn sự sụp đổ toàn diện của thị trường.

Trong cuộc chiến J. P. Morgan & Co và các ngân hàng Mỹ khác đã cho vay cả 2 bên và dần chiếm lĩnh thị trường tài chính châu Âu và dần vượt qua London. Sau chiến tranh thị trường tiền tệ thế giới từ việc sử dụng đồng bảng Anh là chuẩn mực thanh toán sang đồng USD của Mỹ. Xuất khẩu của Mỹ sang châu Âu tăng vọt khi chiến tranh nổ ra đã giúp Mỹ thoát khỏi tình trạng suy thoái trước đó. JP đã cung cấp tới 10 tỷ bảng giá trị và thu về hơn 30 triệu USD lợi nhuận trong chiến tranh.

  1. Vụ nổ

Nước Mỹ nổi lên sau thế chiến I với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghệp và thặng dư thương mại khổng lồ, trong khi các nước châu Âu thì các thành phố đổ nát và chạy sô đến phố Wall tìm kiếm các khoản tài chính lớn để tái thiết đất nước.

  1. P. Morgan & Co. trở thành ngân hàng lớn nhất thế giới và uy tín nhất. Họ có quyền lựa chọn các khách hàng tốt nhất, cung cấp các khoản vay lớn 1 cách độc lập cho các quốc gia, con dấu chấp thuận của họ giúp các công ty có thể dễ dàng huy động vốn. Đi kèm với đó là ngân hàng do thái bị suy yếu mạnh do các ngân hàng do thái ở châu Âu cùng suy giảm mạnh bởi sự bài do thái khắp nơi. Tổng thống Woodrow Wilson từ người trung lập không tham gia chiến tranh đã tham gia vào phe đồng minh năm 1917 và nhờ sự hùng hậu của tài chính và bùng nổ kinh tế đã trở thành người rất háo hức bảo lãnh giấc mơ tự do bằng tiền của phố Wall. Và J. P. Morgan & Co. bỗng được tổng thống trọng dụng và bản thân họ cũng rất ủng hộ các hội hòa bình đặng biệt là Tom Lamont tài ba đã rất tích cực tham gia hội quốc liên, soạn thảo Hội nghị hòa bình Paris năm 1919,..

Nước Đức thua cuộc phải chịu khoản bồi thường chiến tranh lên tới 32 tỷ USD và đồng Mark đức chắc chắn sẽ giảm giá mạnh là điều không tránh khỏi. J. P. Morgan & Co. đã nổi lên thành nhà tài trợ vốn chính cho Đức để bồi thường chiến tranh này. Cuộc cách mạng ở Nga đã và sự thoái thác trả nợ, người Mexico cũng từ chối thanh toán nợ sau cách mạng đã làm bùng lên rất nhiều lo lắng về nghĩ vụ trả nợ của các chính phủ trước đó. Làn sóng đỏ làn tràn ra nhiều nơi và cũng làm các cuộc biểu tình, bạo động của công nhân nổ ra rất nhiều nơi trên nước Mỹ.

Cuộc suy thoái ngắn nổ ra trong năm 1920-1921 thể hiện sự mâu thuẫn, lo lắng trong xã hội Mỹ khi đó thời hậu chiến. Cuộc khủng hoảng đã làm FED phải tăng lãi suất lên mạnh và tỷ lệ thất nghiệp lên tới 12%, hơn 500 ngân hàng vỡ nợ chỉ trong năm 1921. Các cuộc ám sát, thư boom, bạo động cũng nổ ra ở 1 vài nơi và nhằm vào 1 số người nổi tiếng. Vụ nổ làm sập 1 phần tòa nhà số 23 phố Wall đã làm tư tưởng bài do thái của Jack Morgan ngày càng lên cao.

Năm 1922, Davison mất vì ung thư não và mở đường cho Tom Lamont trở thành nhân vật điều hành cao nhất của J. P. Morgan & Co và tiếp nối truyền thống của ngân hàng này. Lamont đã trở thành nhân vật quyền lực nhất phố Wall suốt thời gian dài sau đó và thành tựu kinh doanh của ông hoàn toàn không thua kém gì JP.

Ford khi đó nổi lên là đế chế công nghiệp hàng đầu nước Mỹ nhưng J. P. Morgan không thể mời chào Henry Ford cổ phần hóa và niêm yết công ty. Đối tượng ưa thích tiếp theo là General Motor của Durant. Công ty này đã có đợt phát hành 64 triệu USD cổ phần để mở rộng kinh doanh vào năm 1920 và sau đó gặp rắc rối khi sản lượng bán giảm. Giá cổ phiếu sụt giảm nghiêm trọng và vị chủ tịch Durant của GM lại vay ký quỹ cổ phiếu quá nhiều lên tới 38 triệu USD và sau đó phải đánh mất 60% cổ phần tại đây cho Du Ponts và J. P. Morgan & Co để họ mua lại cổ phần GM và giải cứu ông khỏi phá sản.

Với sự dư thừa tiền bạc những năm 1920s tại Mỹ, các đợt mua bán cổ phiếu, trái phiếu quốc tế diễn ra rầm rộ khắp nước Mỹ. Các ngân hàng bị cấm tham gia chứng khoán thì lách luật bằng cách lập ra các công ty chứng khoán để thực hiện mua bán chứng khoán.

  1. Cuộc trường chinh

Năm 1020, công-xooc-xi-om Trung Quốc thứ 2 được thành lập với Tom Lamont làm chủ tịch với việc cấp vốn cho TQ. Nhưng liên minh này sớm chết yểu do sự chia rẽ chính quyền bắc – nam ở TQ. Nhưng Nhật Bản mới là khách hàng lớn và mục tiêu chính của J. P. Morgan & Co. ở châu Á. Ngân hàng J. P. Morgan & Co. hùng mạnh 1 phần nhờ mối quan hệ khăng khít với các ngân hàng trung ương các nước và họ có kênh thông tin riêng so với các đối thủ. Sau chuyến đi tới Nhật thì họ đã dần có mối quan hệ khăng khít với tập đoàn Mitsui, ngân hàng đã trải qua 9 đời cho tới lúc đó và nắm trong tay đội tầu hơi nước còn lớn hơn cả nước Pháp. Ngoài mối quan hệ tốt với Nhật, họ còn có quan hệ khăn khít với Đức và Ý. Và tình cờ họ ở Mỹ nhưng lại cấp vốn cho phe Trục là các kẻ thù của phe đồng minh mà Mỹ cầm đầu.

Các ngân hàng Mỹ chạy theo lợi nhuận mù quáng đã bỏ qua thực tế rằng ngay từ những năm 1825 trở đi Nam Mỹ đã thường xuyên tuyên bố mất khả năng trả nợ nhưng họ vẫn sẵn sàng liên tục các đợt phát hành trái phiếu cho khu vực Nam và Trung Mỹ. J. P. Morgan & Co. cũng gặp rắc rối trong khoản vay 500 triệu USD của Mexico mà họ từ chối thanh toán mặc dù đã rất thận trọng khi bán trái phiếu ở khu vực này. Việc xử lý trái phiếu Mexico kéo dài rất nhiều năm mà không đem lại hiệu quả đáng kể.

  1. Thời đại Jazz

Sau chiến thắng của tổng thống Coolidge, thị trường tài chính Mỹ bắt đầu giai đoạn thời kỳ bong bóng lẫn xì hơn đan xen nhau. Thời đại Gatsby trên phố Wall được vinh danh. Giới trẻ từ bỏ tất cả để lao đến phố Wall. J. P. Morgan & Co. trở thành cửa ngõ đưa cả thế giới vào thị trường tài chính Mỹ, vị thế mà không một ngân hàng nào trước đây tại Mỹ có. Các cộng sự của ngân hàng hưởng thu nhập 1 triệu USD/năm và riêng Lamont và Jack là 5 triệu USD/năm đã tạo ra cuộc sống huy hoàng và đầy nghệ thuật của họ những năm đó.

  1. Vàng

Giữa những năm 1920s, vai trò của Morgan đảo ngược hoàn toàn khi J. P. Morgan & Co. ở Mỹ quan trọng hơn rất nhiều so với Morgan Grenfell ở London. Lúc này London lại là con nợ của Mỹ và đảo ngược hoàn toàn so với trước đây.

Năm 1919, Anh buộc phải từ bỏ bản vị vàng nhưng họ vẫn nuôi hy vọng khôi phục hào quang trung tâm tài chính London của mình và việc trở lại với chế độ bản vị vàng là 1 lựa chọn số 1 với họ để nâng giá trị đồng bảng Anh lên. Nhưng nó đã không được tính toán kỹ càng mà chủ yếu bởi sự thiếu hiểu biết của Churchill lúc đó là bộ trưởng tài chính đã phê duyệt kế hoạch này vào năm 1925. Các cuộc tấn công tiền tệ không xảy ra, nhưng việc gia trị đồng Bảng tăng đã làm suy giảm mạnh sức cạnh tranh của các ngành trong nền kinh tế Anh khi xuất khẩu. Morgan cũng chạy đua ủng hộ nhà độc tài Mussolino trong việc cấp khoản vay 100 triệu USD để tái thiết nước Ý dù nước này vẫn còn khoản nợ 2 tỷ USD bồi thường chiến tranh chưa trả. Và dư luận phản đối mạnh mẽ chính sách phát-xít của ông ta. Vào năm 1929, Morgan còn trở thành người quản lý tiền cho tòa thánh Vatican.

  1. Vị thánh

Những nhà quản lý chính tại Morgan ở Mỹ như Lamont vị trí cao nhất, sau đó là Jack Morgan, Morrow đều thể hiện sự thông thái, hiền triết và tích cực thamg gia vào các hoạt động chính trị và xã hội ở nước Mỹ những năm 1920s. Năm 1927, cộng sự Morrow còn lĩnh mệnh làm đại sứ Hoa Kỳ ở Mexico trong khi đất nước này rất rối ren và bản thân khu vực Mỹ La Tinh cũng luôn rất bất ổn với các đợt phá sản liên tục của các nước và việc bùng nợ xảy ra thường xuyên. Morrow đã đối xử tốt với các con nợ như Mexico và tìm ra các giải pháp ôn hòa thỏa đáng và rất được yêu thích. Ông cũng thành công trở thành thượng nghị sĩ của đảng Cộng Hòa và cũng cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ với Morgan.

  1. Sự sụp đổ

Ben Strong, thống đốc FED đã có đợt hạ lãi suất mạnh trước đó, cùng với sức mạnh công nghiệp Mỹ nhảy vọt, thặng dư thương mại lớn khổng lồ, nền kinh tế châu Âu suy yếu và nợ Mỹ rất nhiều tiền, nước Anh quay trở lại chế độ bản vị vàng và bị suy yếu cạnh tranh,… đã tạo ra sự giầu có bùng nổ và hoàng nhoáng khắp nước Mỹ. Tiền mặt thấy ở mọi nơi, thị trường chứng khoán Mỹ bước vào cơn đầu cơ lớn nhất lịch sử. Người Mỹ thấy không thiếu tiền, họ thấy thiếu cổ phiếu để mua.

Trước thế chiến I, nước Mỹ mới có khoảng 250 đại lý chứng khoán thì tới năm 1929 lên tới 6.500 đại lý. Trái phiếu luôn là mặt hàng nổi trội và được ưa thích hơn cổ phiếu. Các nhà đầu tư nhỏ lao đàu vào chứng khoán với mức ký quỹ 1:9, và trong 120 triệu dân thì có tới 1,5-3 triệu người nhảy vào chơi chứng khoán và khoảng 600k tài khoản chơi ký quỹ tỷ lệ lớn. Các chàng trai trẻ trở thành những người nổi bật vì sự mạnh mẽ, quyết đoán và kiếm được tiền nhanh chóng là hình mẫu được ca ngợi ở phố Wall. Các ngân hàng ồ ạt nhẩy vào cấp vốn cho vay chứng khoán, các doanh nghiệp chạy đua phát hành cổ phiếu huy động vốn để thoát khỏi ảnh hưởng của ngân hàng, các doanh nghiệp có tích trữ tiền mặt lớn thì nhẩy vào thị trường đầu cơ và cho vay và không chịu sự kiểm soát chặt chẽ của luật.

  1. P. Morgan & Co. hầu như không tham gia vào lĩnh vực cổ phiếu ở giai đoạn này. Danh mục cổ phiếu chỉ chiếm 3%, họ vẫn chủ yếu làm trái phiếu bán buôn và dịch vụ ngân hàng thương mại truyền thống nên đã vượt qua đợt khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử này. Vị thế của họ liên tục dẫn đầu ngành từ thời JP và ngày càng có vị thế lớn hơn nữa. Morgan không bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng mang tính hủy diệt, nhưng các cộng sự của ngân hàng thì hầu hết tham gia vào cơn điên cuồng đầu cơ, giao dịch nội gián và đều gặp các đả kích mãnh liệt từ thị trường.

Cuộc khủng hoảng thanh khoản nổ ra vào 5/9/1929 mặc dù các dấu hiệu cạn kiệt tiền đã xuất hiện từ trước đó nhưng mọi người đều phớt lờ nó đi và hăng say đầu cơ kiếm tiền. Cuộc giải cứu của các chủ nhà bằng không mấy thành công khi lượng mua gần như không có và thị trường toàn người bán. Thị trưởng ổn định được đôi chút do niềm tin vào sự giải cứu đã hoàn toàn vỡ vụn vào ngày thứ 5 đen tối 29/10/1929 và sụp đổ hoàn toàn niềm tin vào thị trường cũng như sự giải cứu thị trường của chính phủ hay các chủ ngân hàng.

  1. Suy thoái

Sau sụp đổ, tổng thống Herbert Hoover đã tích cực cắt giảm thues xây dựng công trình kích thích đầu tư công, kêu gọi các doanh nhân Không xa thải, tăng lương cho công nhân để kích cầu, cắt giảm mạnh lãi suất xuống còn 2,5% vào tháng 6/1930. Cháu của JP là Junius cũng đã bắt đầu tham gia hoạt động của ngân hàng Morgan. Nhà Morgan vẫn đóng con tàu Corsair IV lớn nhất thế giới với giá trị 2,5 triệu USD bất chấp sự khủng hoảng trở thành đại khủng hoảng ở Mỹ.

Mặc dù sự sụp đổ vào tháng 10/1929 là sự báo động đỏ, nhưng ký ức cả thập kỷ đầu cơ mạnh vẫn còn đó và đám đông có sự đầu cơ rất mạnh vào đầu năm 1930 và đưa chỉ số phục hồi trở lại. Các ngân hàng cũng không đánh giá đúng sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Tới tháng 4/1930, cuộc đại khủng hoảng tiếp tục nổ ra và mọi thứ dần dần đi xuống liên tục nhiều năm cho tới giữa năm 1932 và thị trưởng giảm tới 90% so với đỉnh năm 1929. Ngày 17/6/1930, Tổng thống Hoover đã ký đạo luật thuế Hawley-Smoot ngớ ngẩn tăng mức thuế lên bằng 50% giá bán các sản phẩm và đánh gục các nhà xuất khẩu vào Mỹ càng làm sự trâm trọng khủng hoảng bùng nổ. Sau đó là FED tiến hành chấm dứt việc cung cấp tín dụng tự do và làm giảm cung tiền. Mọi nỗ lực giữ giá của các ông chủ hàng đầu tại Mỹ đều tan vỡ và thất bại thảm hại. Con đại hồng thủy cuốn trôi tất cả những người cố gắng mua thật nhiều để giữ giá. Morgan là ngân hàng rất hào phóng với khách hàng thân thiết, bạn bè và rất vô tâm thờ ơ với các ngân hàng, công ty mà không phải trong vòng khách hàng của họ. Họ sẵn sàng tham gia giải cứu, hỗ trợ cho các mối quan hệ thân thiết trong cuộc đại khủng hoảng này.

Tại châu Âu, gánh nặng bồi thường chiến tranh của Đức tiếp tục là chủ đề chính khi khoảng bồi thường của Đứclà khổng lồ và họ không thể có ngân sách để thực hiện được. Xã hội bất ổn dần và các đảng cứng rắn như đảng Đảng Quốc gia xã hội dần nắm quyền và phủ nhận các khoản phải bồi thường trước đó của Đức. Tại Áo, ngân hàng lớn nhất khu vực là Credit Anstalt phá sản mặc dù ngân hàng TW Áo và Rothschilds nhẩy vào giải cứu nhưng chỉ là hồi chuông báo khởi đầu cho sự lan rộng của khủng hoảng Mỹ ra toàn thế giới. Ngân hàng lớn nhất nước Đức là Danat phá sản vào tháng 7/1931 và thị trường chứng khoán Đức phải đóng cửa sau đó. Nước Anh cũng bị kéo theo sự phá sản của khu vực Trung Âu và đặc biệt do việc duy trì chế độ bản vị vàng ở Anh càng khoét sâu khủng hoảng. Cuối cùng chính phủ Anh phải từ bỏ chế độ bản vị vàng với đồng bảng Anh để giải cứu đà khủng hoảng của mình. Ngay sau đó đồng bảng Anh giảm -30% giá trị.

Tại Morgan, Jack ở tuổi 60 gần như nghỉ hưu với sức khỏe yếu và mất kiểm soát ở Morgan mà Lamont mới là người điều hành cao nhất ở đây. Sau vụ sụp đổ bản vị vàng, vị thế nhà Morgan ở chính ngân hàng Morgan đã suy yếu đáng kể và ngân hàng này không còn là ngân hàng gia đình tư nhân thuần túy như trước đây nữa. Morgan lúc đó chủ yếu kinh doanh ở Nhật mà ít quan tâm tới TQ, trong khi National City Bank thì kinh doanh rất lớn ở TQ và nơi này chiếm tới 1/3 lợi nhuận của ngân hàng vào năm 1930. Chúng ta thấy, Lamont lúc đó đã đưa Morgan trở thàn đối tác thân cận bậc nhất với cả 3 đế quốc phát xít là Đức, Ý, và Nhật. Mãi tới năm 1934, Lamont mới chấm dứt mối quan hệ với Nhật hoàn toàn.

  1. Cô gái tí hon

Sau 2 năm giảm liên tục, thị trường chức khoán  Mỹ chạm đáy vào 8/7/1932 với hơn 2k ngân hàng phá sản, dư nợ cho vay chỉ bằng 10% so với mức cao nhất của năm 1929. Có gần 13 triệu người thất nghiệp với dân số 125 triệu. Mặc dù thiệt hại ít hơn nhiều các đối thủ, nhưng Morgan cũng sụt giảm tới 50% vốn từ mức 118 triệu USD, tổng tài sản nhà băng cũng giảm từ 704 triệu USD còn 425 triệu USD.

Tổng thống Hoover thì ám ảnh với ý tưởng rằng các chủ ngân hàng giật dây cho việc đánh xuống cổ phiếu để càng làm thị trường sụt giảm mạnh hơn. Đã có 38 tiểu bang đóng cửa hoạt động ngân hàng. Hoover đưa ra ý tưởng tách biệt ngân hàng bán buôn với ngân hàng đầu tư và sau đó được thông qua vào năm 1932. Hoover cùng cộng sự tổ chức cuộc săn gấu truy tìm các nhà bán khống và sự thao túng của họ lên thị trường để đổ lỗi nhưng bất thành. Các ngân hàng bị đưa ra điều trần, điều tra liên tục và bị coi là thủ phạm gây ra khủng hoảng tồi tệ khi đó.

Tháng 3/1933, tổng thống Roosevelt lên nắm quyền và còn thẳng tay với ngành ngân hàng hơn nữa khi chĩu mũi nhọn vào nhóm các ngân hàng. Trong 3 năm có 7k ngân hàng bị đóng cửa trên 25k ngân hàng ở Mỹ khi đó. Các biện pháp cứng rắn của Roosevelt bỗng chốc làm thị trường chứng khoán tăng vọt 54% trong năm 1933. Tới tháng 4/1933 thì chế độ bản vị vàng cũng chính thức bị bãi bỏ hoàn toàn ở Mỹ. Các cuộc điều tra nhằm vào Morgan rất căng thẳng và kéo dài đã kéo mọi partner của Morgan phải ra điều trần và phơi bầy ra rất nhiều góc khuất của ngân hàng này. Điều này đã làm ra đời dự luật Glass-Steagall nổi tiếng buộc ngân hàng phải tách riêng phần kinh doanh chứng khoán khỏi ngân hàng và phải hoạt động độc lập với nhau.

  1. Rạn nứt

Sau khi đạo luật Glass-Steagall ra đời, có 1 khoảng thời gian ân hạn cho các ngân hàng lựa chọn giữa ngân hàng bán buôn và ngân hàng đầu tư. Ngay sau đó là đạo luật chứng khoán mới 1934 quy định việc kinh doanh chứng khoán rất khắt khe và đòi hỏi cao hơn rất nhiều trước đây. Mọi lỗ lực vận động hành lang để bãi bỏ 2 đạo luật này đều vô hiệu do vai trò chính trị của J. P. Morgan & Co. đã mất và không còn vị thế của những năm 1920s nữa. Gia đình nhà Roosevetl như kẻ thù truyền kiếp với nhà Morgan khi trước đó là Teddy Roosevelt làm JP khốn đốn thì nay tới Roosevelt khác làm Jack Morgan khốn khổ.

Các thuyết âm mưu nổ ra khắp nơi trong giai đoạn này như các lời suy đoán, đăng báo chỉ trính về việc cuộc thế chiến I, rồi Đại suy thoái đều là âm mưu của các ông chủ ngân hàng phố Wall và chủ ngân hàng do thái xúi giục,… tôi thấy chủ yếu đây là đám lý thuyết sau này được Song Hong Bin cóp nhặt trong cuốn sách rất bán chạy ở Việt Nam: Chiến tranh tiền tệ.

Mãi tới năm 1935, Morgan sau khi trì hoãn rất lâu để chờ đợi việc hủy bỏ đạo luật Glass-Steagall nhưng bất thành đã phải lựa chọn mô hình hoạt động của mình và buộc phải bán bộ phận chứng khoán ra khỏi công ty và giữ lại phần ngân hàng thương mại truyền thống (ngày đó gọi là ngân hàng bán buôn). Morgan ở Mỹ buộc phải bán đi đáng kể phần ở Morgan Grenfell tại London và chỉ còn giữ lại 1/3 cổ phần và trở thành cổ đông thụ động. Tại Mỹ, tháng 8/1935 họ duy trì J. P. Morgan & Co. là 1 ngân hàng gửi tiền và thành lập 1 ngân hàng đầu tư mới có tên Morgan Stanley để tách bộ phận chuyên kinh doanh chứng khoán ra đó. Nguyên nhân từ bỏ mảng chứng khoán không coi là cốt lõi do mấy năm suy thoái doanh thu mảng này sụt giảm 90%, thêm vào đó luật chứng khoán 1934 rất khắt khe và việc bảo lãnh chứng khoán theo từng thương vụ và không thể tồn tại được nếu không có hoạt động đều đặn ra dòng tiền nào khác để nuôi sống doanh nghiệp.

Tại thời điểm tách ra, khoảng 400 nhân sự tiếp tục với hoạt động gửi tiền ngân hàng thương mại, và khoảng 20 người ở nghiệp vụ chứng khoán tách ra thành lập Morgan Stanley (MS). Việc tách ra này cũng để duy trì nhằm sau này có thể sáp nhập lại khi luật cho phép. MS mới có 50% cổ phiếu ưu đãi nằm trong tay Jack Morgan và 40% nằm trong tay Tom Lamont, ngoài ra các cộng sự khác của JP. Các nhân viên nắm giữ phần lớn cổ phiếu phổ thông trị giá 500k USD, vốn kinh doanh công ty là 7 triệu USD. Trong đó nổi bật là Harold Stanley, 1 cộng sự của Morgan gia nhập công ty năm 1927. Nhà Morgan có Harry Morgan, 35 tuổi là thủ quỹ nhưng lại xa cách với công việc của Morgan Stanley và không có mặt ở ngày khai trương 16/9/1935 và dấu hiệu ban đầu cho thấy sự tách rời hẳn của MS sau này. Trong năm đầu hoạt động 1935, thị trường chứng khoán Mỹ bùng nổ với sự hân hoan của chính sách New Deal với doanh thu 1 tỷ USD và MS chiếm ¼ thị trường chứng khoán về bảo lãnh.

  1. Pháp sư
  2. P. Morgan & Co. mất đi lớp bí ẩn và hào quang của những năm 1920. Giờ đây họ phải vật lộn với các khoản cho vay nước Đức mà chính phủ thúc đẩy trước đây mà không thể đòi được, chính phủ Mỹ thì tránh xa đề cập tới mặc kệ ngân hàng tự xử lý. Nước Đức bước vào thời kỳ Quốc xã với sự nắm quyền của Hitle vào năm 1933. Và nước Đức bắt đầu chuẩn bị cho kế hoạch quỵt nợ cũ. Các cuộc gặp đàm phán trong giai đoạn này chủ yếu liên quan tới việc Morgan cố gắng đòi lại các khoản nợ đã cấp cho các nước phát xít mà chủ yếu là Đức và Ý trước đây.
  3. Biển thủ công quỹ

Tuổi già của Jack Morgan không thật sự tốt đẹp mỹ mãn như mong muốn vì các cuộc điều trần diễn ra liên tục, việc Morgan bị chia tách, các khoản nợ khó đòi từ Đức, Ý, Nhật mà bỗng nhiên Morgan trở thành nhà tài trợ vốn cho các nước phát xít. Chỉ có gia đình là ông tự hào với 16 người cháu. Sự chú ý tới chính sách New Deal luôn là tâm điểm mâu thuẫn giữa nhà Morgan và nhà trắng. Các đời tổng thống từ Roosevelt tới Truman đều không ưa các ông chủ ngân hàng và luôn đổ lỗi cho sự sụp đổ của nền kinh tế và thị trường là ra đám chủ ngân hàng gây ra.

Đối thủ của nhà Morgan xuất hiện là Young khi kiếm được tiền từ thời ở GM và sau đó thâu tóm lại công ty đường sắt đổ nát vì đại suy thoái là Alleghany, Young rất căm thù nhà Morgan vì từ chối cho ông tham gia ban quản trị của công ty này trước đây. Young dẫn đầu nhiều chính sách và kêu gọi chống lại bá quyền của Morgan trong ngành đường sắt. Trong ngân hàng cũng nổ ra vụ bê bối khi cộng sự Richard nợ lần và biển thủ quỹ ở sở giao dịch chứng khoán NY.

  1. Nhượng bộ

Mối quan hệ khăng khít giữa NY – London luôn là điều các cộng sự ở Morgan tin tưởng và ủng hộ. Trong khi người Mỹ tỏ ra thù địch với Jack thì người Anh lại luôn tôn vinh ông và ông ưa thích ở London hơn là trở về NY. Mối quan hệ giữa JP ở Mỹ và Morgan Grenfell cũng dần xa cách nhau và dần cũng hoạt động độc lập với nhau và nhiều mâu thuẫn với nhau về các quan điểm như khoản nợ của Đức. Nước Đức xâm lược Áo và sáp nhập thành 1 tỉnh ở Đức. Nam tước Louis von Rothschild bị bắt và chỉ được thả sau khi ký bán lại toàn bộ tài sản ở Áo cho Đức. Các lo ngại Đức không trả tiền lẫn cả khoản nợ của Áo khi bị sáp nhập cũng bị Đức xù nợ ngày càng lớn hơn nữa.

Ngân hàng Morgan vẫn bị mang tiếng là kiếm tiền từ chiến tranh do cung cấp vốn cho cả 2 phe, và còn xấu nữa phi cung cấp vốn cho phe trục rất nhiều. Họ cũng bị phố Wall và các tổng thống Mỹ rất ghét vì luôn bị cho là thao túng giá chứng khoán để làm lợi cho bản thân. Trong những năm 1937-1939 thì Morgan đã có sự nhượng bộ đáng kể khi tỏ ra rất hợp tác và ủng hộ phe đồng minh.

  1. Con tin

22/6/1940, thủ tướng Petain của Pháp đầu hàng trước quân Đức và Pháp bị chiếm đóng và để lại 1 mình nước Anh chiến đấu chống lại Đức. Chi nhánh của Morgan ở Pháp là Banque Morgan gặp phải nguy ngập khi bị khả năng bị quân phát xít Đức cướp bóc vàng và ngoại tệ. Ngân hàng này đã có kế hoạch sơ tán dự phòng tốt trước khi Pháp bị chiếm đóng. Trong giai đoạn này ngân hàng tại Pháp vẫn hoạt động được dưới danh nghĩa nhưng chỉ được sử dụng đồng franc của Pháp.

Tháng 5/1940, Churchill lên làm thủ tướng và Anh chính thức khai chiến với Đức. Rất nhiều vàng từ vatican lúc đó đã được chuyển từ London sang NY để tránh chiến tranh. Lúc đó Mỹ đang thực hiện chính sách là America First (Nước Mỹ trên hết) và tránh xa cuộc chiến ở châu Âu xa xôi. Nhà Morgan là người rất tích cực vận động Mỹ ủng hộ Anh và phe hiệp ước trong cuộc chiến chống lại phe trục này. Tháng 3/1941, Mỹ bắt đầu viện cho cho Anh hàng hóa, vật tư, thiết bị để tiếp tục cuộc chiến.

  1. Phôi pha

Trong những năm chiến tranh thế giới thứ II, J. P. Morgan & Co. đã có những bước chuyển lớn để biến từ 1 công ty hợp danh tư nhân thành 1 tập đoàn cổ phần đại chúng. Một phần đáng kể do vốn nằm trong tay 3 cá nhân chính và họ đang già đi. Khi ai đó mất đi vốn sẽ lại tiếp tục giảm trong khi chuyển sang công ty cổ phần thì người thừa kế có thể bán cổ phần đi mà không làm giảm vốn của công ty.

Lần đầu tiên kể từ khi thành lập vào năm 1942, 8% cổ phần của Morgan đã được bán ra công chúng bởi Smith, Barey. Công ty con Drexel ở Philadelphia cũng cơ cấu lại và tách hoàn toàn khỏi JP Morgan. Morgan Stanley thì vẫn bị gán nhãn là công cụ của JP Morgan để tránh đạo luật Glass-Steagall. Jack Morgan chuyển đổi thành chủ tịch HĐQT công ty cổ phần mới vào năm này và qua đời ở tuổi 75 vào năm 1943 khi đang đi nghỉ ở Florida. Sau khi qua đời tài sản ông để lại là 16 triệu USD, rất khiêm tốn với vị thế và tầm ảnh hưởng của ông trong đời sống kinh tế Mỹ và vị thế ngân hàng lớn nhất thế giới của JP Morgan. Sau khi Jack qua đời, Tom Lamont làm chủ tịch nhưng sức khỏe yếu nên ông cũng không làm việc nhiều. Tới năm 1947, Tom Lamont qua đời ở tuổi 77 thì Russell Lefingwell trở thành chủ tịch ngân hàng.

  • Thời kỳ canh bạc (1948 – 1989)
  1. Methuselah

Russell Leffingwell làm chủ tịch ngân hàng từ 1948 – 1950 với mái đầu bạc trắng. Ông cũng là 1 chiến lược gia và cộng sự mà chính đích thân Morgan đã lựa chọn trước đây còn sống và điều hành ngân hàng này. Sau chiến tranh thế giới II, từ vai trò chủ chốt với bộ 3 NHTW Anh – Fed NY – JP Morgan bị thay thế bởi tổ chức đa phương là WB-IMF sau hội nghị Betton Wood năm 1944. Vị thế của JP Morgan trở lên nhỏ bé hơn nhiều so với trước đây. Ảnh hưởng của Morgan chỉ còn ở vai trò tư vấn cho các chính sách nha nước và cho 2 tổ chức tài chính quốc tế mới lập.

Hoạt động tái thiết châu Âu diễn ra với kế hoạch Marshall nhưng JP Morgan lại tỏ ra thiếu vốn và không đủ tài chính để cấp các khoản vay lớn như những năm 1920 sau thế chiến I nữa. Mà chủ yếu sự suy giảm vị thế này đến từ việc NHTW Anh bị suy giảm vị thế mạnh và không còn là 1 trung tâm tài chính đủ lớn sánh ngang với Mỹ nữa.

Năm 1950, George Whitney trở thành chủ tịch HĐQT của JP Morgan thay cho Leffingwell nghỉ hưu. Quy mô của JP Morgan vẫn lớn hơn các ngân hàng khác nhưng vị thế ngày càng thấp và không còn thấy khoảng cách giữa họ và kẻ thứ 2 như trước đây nữa. Ngân hàng cũng dần bỏ bớt sự bí ẩn, chỉ làm việc với tầng lớp tinh hoa, và được giới thiệu để mở rộng ra ngoài xã hội. Các giám đốc điều hành cũng hầu hết được thay thế bởi những người trẻ trung hơn thay vì đội ngũ trước đây đã bước vào tuổi nghỉ hưu. Phong trào tẩy chay phố Wall diễn ra từ những năm 1930 đã kết thúc sau 20 năm liên tục và phố Wall dần được chào đón trở lại vào những năm 1950.

  1. Những kẻ nổi loạn

Những năm 1950, Morgan Stanley dù chỉ có khoảng 20 cộng sự, 100 nhân viên, và 3 triệu USD vốn nhưng nó là ngân hàng đầu tư mạnh nhất ở phố Wall khi đó. Họ giữ độc quyền phát hành cổ phiếu, trái phiếu với các khách hàng lớn nhất ở nước Mỹ và danh sách khách hàng này là không đối thủ nào khác có được. Mối quạn hệ của MS với JP, Guranty Trust vẫn rất mật thiết dù quy định của luật là phải tách bạch hẳn ra. Đỉnh điểm đánh vào JP Morgan là vụ kiện 17 ngân hàng đầu tư bị cho là thông đồng nhau độc chiếm tới 70% các đợt bão lãnh phát hành ở phố Wall lúc đó. Vụ kiện kéo dài từ lúc bắt đầu năm 1947 tới tận năm 1954 mới kết thúc mà không có phán quyết nào bất lợi cho nhóm ngân hàng đầu tư nào.

Môi trường những năm 1950 tại Mỹ chứng kiến sự sụt giảm gần như biến mất của chế độ gia đình trị trong các doanh nghiệp. Tỷ lệ nắm giữ của các ông trùm trước kia thường 80-90% ở công ty thì qua 3 thế hệ tới giai đoạn này thường chỉ còn 1-2% và gần như mất quyền kiểm soát. Vì vậy, các cuộc chiến ủy nhiệm nhằm chiếm quyền kiểm soát các công ty đại chúng bắt đầu bùng nổ và trở hành trào lưu mới cho tới ngày nay trên phố Wall.

Cuộc chiến ủy nhiệm lớn nhất giai đoạn này nổ ra giữa Young khi ông này muốn thâu tóm hãng đường sắt NY Central của nhà Valderbilt trước đây và là kẻ rất thù địch với nhà Morgan. Young sử dụng mọi chiêu trò để công kích từ việc phát đi thông cáo báo chí, quảng cáo về việc mình sẽ làm cho lợi nhuận công ty tăng gấp 3, hứa hẹn tương lai công ty tươi sáng, thuê người gọi điện cho từng cổ đông để thuyết phục, kiện hội đồng quản trị công ty, kêu gọi các công ty từ bỏ mối quan hệ với bọn Morgan (JP Morgan và MS) và kêu gọi các công ty cho mọi đối thủ vào chào giá cạnh tranh,…Sau 2 tháng, Young giành chiến thắng trong cuộc chiến ủy quyền khi giành được hơn 1 triệu phiếu bầu và nắm hội đồng quản trị NY Central mới và người nhà Vanderbilt, Morgan biến mất hoàn toàn khỏi công ty này. Tay nổi loạn Young đã lam được việc phân tách giữa giới quản lý và giới chủ trong các công ty hiện đại. Nhưng Young đã nhầm khi lao vào thâu tóm 1 doanh nghiệp đang suy thoái liên tục, 1 ngành cũ kỹ đang chết dần và tới năm 1958 thì công ty này suy sụp và buộc phải sáp nhập. Nước Mỹ những năm 1950 thống trị phần lớn các ngành công nghiệp thế giới như ôtô, đường sắt, thép, dầu mỏ, nhôm và các ngành công nghiệp nặng khác trước khi Tây Âu và vành đai Thái Bình Dương trỗi dậy. Kỷ nguyên của các nhà công nghiệp nặng đang ở đỉnh cao trước khi bước vào giai đoạn thoái trào.

Tại Morgan Stanley, người ta thấy ảnh hưởng của các cộng sự của của JP Morgan như Stanley, Hall mà ít thấy vai trò của người con trai út của Jack Morgan là Harry S. Morgan. Ông ta bỏ bê công việc và làm ở đó như trách nhiệm với gia đình và công ty MS này dần xa khỏi tâm kiểm soát của JP Morgan. MS là nơi những người làm việc cẩn thận với các bản cáo bạch cực kỳ chỉn chu và luôn duy trì vị thế số 1 ngành ngân hàng đầu tư tại Mỹ kể từ khi thành lập.

Tại Morgan Grenfell tại Anh thì mặc dù vẫn duy trì vị thế được ngân hàng đầu tư hàng đầu tại đây nhưng JP Morgan chỉ nắm 1/3 cổ phần và nó bị coi như chi nhánh của JP Morgan ở London. Công ty này làm việc như viện quý tộc với những con người làm vừa đủ số và uể oải. Ngân hàng ở London lúc đó vẫn vận hành bởi mối quan hệ. Nhưng 1 kẻ ở ngoài Warburg đã làm sụp đổ niềm tin ở London khi sử dụng tiền bạc và thủ đoạn giành chiến thắng các quý ngài ở London trong cuộc chiến thâu tóm tại British Aluminium. Sau thất bại ê chề này, Morgan Grenfell đã dùng chính cách của Warburg để cạnh tranh vô cùng quyết liệt trong các vụ thâu tóm về sau và hoàn toàn từ bỏ tác phong chỉ kinh doanh dựa trên quan hệ như trước đây.

  1. Jonah

Tới cuối những năm 1950, thời hoàng kim của JP Morgan có vẻ đã qua dù tên tuổi của nó vẫn được kính trọng, nhưng nó có vẻ đã lỗi thời, tài lụi giống như cái tên Rothschild hay Baring. JP Morgan vẫn tập trung vào bán buôn, khách hàng lớn thì các đối thủ của nó như National City và Chase lại dần trở thành các ngân hàng đại chúng – bán lẻ hơn nhiều.

Năm 1955, Alexander kế nhiệm Whitney làm chủ tịch J. P. Morgan & Co. và dần đưa ngân hàng trở lại cuộc đua và lấy lại sức sống khi đã phá vỡ cách thức truyền thống chỉ nhận các khách hàng lớn của JP Morgan mà đưa nó tới gần công chúng hơn tương tự các đối thủ. Thời kỳ này JP Morgan lại trở lại thân thiết với nhà trắng dưới thời tổng thống Eisenhower.

Năm 1958, JP Morgan nhận sáp nhận Guaranty vào thành Morgan Guranty và đã trở lại vị thế lớn hơn rất nhiều do Guaranty sở hữu lượng tiền gửi rất lớn nhưng kinh doanh kiểu cổ hủ trước kia. Công ty đột ngột trở lại thành ngân hàng bán buôn lớn nhất thế giới với hơn 4 tỷ USD tiền gửi và đứng thứ 4 về quy mô sau First National Bank, Chase Manhattan và Bank of America. Họ sở hữu 10k khách hàng doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ với 97/100 top doanh nghiệp lớn nhất và danh mục cho vay doanh nghiệp bằng 5 nhà bank phía sau cộng lại. Với tài nwang của Leach thì bộ phận Treasury của Morgan đã đi trước thời đại khi thực hiện các cú cược về xu hướng lãi suất đầu tiên và mở ra thị trường giao dịch mới so với trước đây và chiếm lĩnh thị trường này sau đó. JP mới cũng rất ticsh cực mở rộng các văn phòng, công ty liên doanh ở khắp các thị trường lớn trên thế giới để bắt đầu xu hướng bùng nổ thương mại hóa ở Tây Âu và vành đai Thái Bình Dương.

Các công ty được coi là thành viên của JP Morgan gia đoạn này mở các văn phòng ở nước ngoài mà chủ yếu ở châu Âu, Nhật Bản và bánh chướng địa bàn và bị trùng lấn cạnh tranh lẫn nhau và với cả chính Morgan Guaranty.  Mâu thuẫn dai dẳng và dần dần bùng phát về sau dẫn tới việc 2 tập đoàn tách hẳn khỏi nhau sau này. MS thì cao ngạo từ chối đồng bảo lãnh của Nhật làm ảnh hưởng mạnh tới hoạt động mở rộng của JP Morgan tại Nhật, ở Nhật người ta vẫn coi 2 công ty này là 1.

  1. Báo lá cải

Dù bị loại bỏ khỏi thị trường chứng khoán sau đạo luật Glass-Steagall, các ngân hàng phố Wall vẫn tham gia thị trường này qua các quỹ tín thác và quỹ tín thác của họ rất lớn. JP Morgan với danh mục 3 tỷ USD từ quỹ hưu trí và Guaranty có 3 tỷ USD từ quỹ tín thác cá nhân. Sau sáp nhập họ trở thành quỹ tín thác doanh nghiệp với danh mục 6 tỷ USD. Ban đầu quỹ tín thác này là nơi của những lãnh đạo thất bại, họ chỉ mua trái phiếu chỉnh phủ. Mãi tới năm 1949 họ mới bắt đầu mua cổ phiếu phổ thông và danh mục này ngày càng lớn hơn và lên tới 50% sau đó.

Tới năm 1960, bộ phận tín thác của Morgan đã quản lý 15 tỷ USD tài sản và ngày càng phình to ra. Vào cuối những năm 1966, người ta ước tính ằng các quỹ tín thác ở ngân hàng thương mại nắm tới 60% giá trị tài sản cổ phiếu của thị trường chứng khoán Mỹ (khoảng 1.000 tỷ USD) và vị thế vai trò của họ là vô cùng lớn trên thị trường chứng khoán. Vì vậy báo chí rất hay soi mói về các bộ phận này. Bên cạnh đó là tình trạng giao dịch nội gián tràn lan và các vụ điều tra chống lại nó diễn ra khắp mọi nơi là chủ đề giật gân được ưa thích.

Việc mở rộng của Morgan cũng đụng chạm và lãnh địa các công ty thành viên như việc chi nhánh ở London rất lớn của nó ngay gần trụ sở Morgan Grenfell và bản thân Morgan Grenfell với các cộng sự trẻ rất tự tin với uy tín của ngân hàng và muốn độc lập thoát khỏi ảnh hưởng của Morgan. Sau thất bại trong vụ M&A trước đây bởi Warburg, Morgan Grenfell đã thay đổi thành tay chơi M&A hàng đầu và đẩy nhanh tốc độ sáp nhập khi nó tiến hành 70/100 vụ sáp nhập ở các công ty lớn nhất ở Anh. Và cuộc chiến tranh giành các con mồi cho M&A diễn ra rất quyết liệt trong những năm 1960s này ở Anh.

  1. Võ sỹ đạo

Giống Morgan Grenfell thay đổi hoàn toàn không thể nhận ra trong nhưng năm 1960 thì Morgan Stanley cũng tương tự với sự lột xác không kém và cũng trở thành tay chơi đầy mạnh bạo trên thị trường và vươn ra toàn thế giới phát triển thay vì chỉ ở Mỹ. Mặc dù đầu những năm 1960 họ vẫn rất an toàn với danh mục các công ty công nghiệp lớn nhất thế giới và họ độc quyền các hoạt động chứng khoán các công ty này và ở khắp các nước phát triển không chỉ ở Mỹ. Mặc dù vậy sự trỗi dậy của Goldman, Sachs; Salomon Brothers và sự năng động của First Boston, Kuhn,Loeb; Dillon, Read. là những kẻ thù đang ngày 1 đe dọa đế chế MS.

Hoạt động giao dịch tăng mạnh, các nhu cầu về hoán đổi kỳ hạn trái phiếu, nhu cầu bán lẻ tăng đã làm MS lung lay vì họ không có tự doanh và chủ yếu hoạt động ở việc bảo lãnh phát hành. Để duy trì vị thế, MS đã cải tổ và tuyển dụng mạnh mẽ nhân viên bán hàng và nhân viên tự doanh chứng khoán, phá vỡ cách hoạt động truyền thống của MS từ khi thành lập tới lúc đó. Pháo đài của các nhà quý tộc, chuyên gia ngân hàng đầu tư bị phá vỡ và MS xuống phố gần gũi với mọi người hơn nhờ các hoạt động giao dịch hàng ngày. Ý tưởng sát nhập 3 ngân hàng MS, Morgan Grenfell và Morgan et Compagnie ở Pháp để giảm cạnh tranh nội bộ được đưa ra nhưng thất bại. 1/3 lợi nhuận của JP Morgan đến từ nước ngoài vào năm 1972 và sau đó lên tới 50% và lợi ích của toàn cầu hóa là rõ ràng và họ cũng không muốn chia sẻ thành quả này với các người anh em khác.

Năm 1974, Morgan Grenfell mở văn phòng tại NY và chính thức tuyên chiến với phần ở Mỹ là JP Morgan và Morgan Stanley. Năm 1976, Morgan Stanley mua lại công ty lại Paris và đỏi tên thành Morgan Stanley International và mở rộng sang London. JP Morgan vẫn phong cách bảo thủ với các cộng sự xuất thân danh giá, Morgan Stanley thì chấp nhận cạnh tranh quyết liệt với phong cách mạnh mẽ nhưng không đồng ý các đợt thâu tóm thù địch. Mãi tới cuối những năm 1970 phong cách của MS mới dần thay đổi khi xuất hiện những người hiếu chiến và sẵn sàng tham gia các đợt sáp nhập thù địch và dần ảnh hưởng lên phong cách MS về sau. Các vụ thâu tóm bùng nổ tại Mỹ trong những năm thị trường giá xuống 1973-1974 đặc biệt các vụ thâu tóm thù địch, đột kích bất ngờ được hẫu thuẫn bởi các ngân hàng đầu tư như MS. Các đợt thâu tóm càng bùng phát hơn khi vào 1/5/1975, SEC bãi bỏ quy định phí giao dich chứng khoán cố định mà thả nổi hoàn toàn.

  1. Các lãnh tụ hồi giáo

Cuộc suy thoái năm 1974 – 1974, lệnh cấm vấn đầu mỏ ở Ả-Rập, bãi bỏ tỷ giá hối đoán cố định, lạm phát tăng, lãi suất tăng mạnh,… đã làm cho thị trường ngoại hối chao đảo dữ đội vào tác động mạnh lên hoạt động kinh doanh các ngân hàng. Ngân hàng tư nhất lớn nhất Tây Đứ là Bankhaus Herstatt đột ngột phá sản vào tháng 6/1974. Bỗng nhiên lúc này nhóm người Ả-rập Xê-út xuất hiện với hàng đống đôlla đưa cho JP Morgan và việc đôlla hóa diễn ra nhanh chóng trong lĩnh vực dầu mỏ và dòng tiền lớn từ lợi ích giá dầu nhẩy vọt này chủ yếu chuyển vào 4 ngân hàng lớn có phong cách bảo thủ là Morgan Guaranty, Chase, Citibank và Bank of America.

Đặc biệt nhờ vị thế lâu đời ở Ả Rập Xê út, Morgan Guaranty đã chiếm lợi thế lớn nhất khi làm việc với ngân hàng TW Ả Rập Xê út để cùng tham gia vào 1 ngân hàng mới mà Morgan Guaranty nắm 20% cổ phần, là ngân hàng độc quyền về nguồn tiền dầu mở ở quốc gia này. Họ loại bỏ hết Morgan Stanley và Morgan Grenfell khỏi thỏa thuận và là dấu chếm hết cho mối quan hệ giữa 3 tổ chức này. Sau đó MS và MG đã ly khai hoàn toàn khỏi Morgan Guaranty. Việc mở rộng kinh doanh ở London của người Ả rập cũng giúp Morgan Grenfell nhẩy vào cuộc và giành được uy tín và rất nhiều thương vụ tốt với giới hồi giáo.

  1. Quảng cáo (Phó)

Cuối thập niên 1970, MS vẫn là kẻ tao nhã trên thị trường và kiếm được bộn tiền từ Trung Đông với hơn 40% vụ bán cổ phiếu các công ty lớn từ khu vực này. Nó đại diện cho Standard Oil ở Ohio huy động 1,7 tỷ USD cho hệ thống đường ống Alaska, rồi năm 1977 đại diện ở Mỹ cho phương vụ IPO lớn nhất lịch sử tới lúc đólà British Petroleum IPO với trị giá 1 tỷ USD. Trong vòng 10 năm, ngân hàng này tăng nhân sự từ 100 lên 1.700 người, vốn từ 7,5 triệu USD lên 118 triệu USD. Bod Baldwin đã cứu sống ngân hàng khỏi bóng ba sụy đổ nhưng cũng làm nó tăng trưởng chóng mặt và phá vỡ hoàn toàn văn hóa MS cũ.

Thời điểm này, phố Wall cạnh tranh nhau vị trí quảng cáo “bia mộ”, là phần quảng cáo có viền đen ở báo in và được ở đó là thể hiện vị trí số 1 và MS áp lực phải duy trì điều đó. Nhóm 4 ngân hàng đầu tư lớn nhất là MS; First Boston; Kuhn, Loeb; và Dillin, Read. MS không có nhiều khả năng bán hàng ra đại chúng nên họ thường phải tạo các xanh-đi-ca để các bên khác phụ trách bán hàng, mặc dù là điểm yếu nhưng cũng không hãng nào đánh bật được MS ra khỏi vị trí trung tâm của các xanh-đi-ca bảo lãnh phát hành này.

Vì tạo các xanh-đi-ca, MS phải chia sẻ khách hàng hơn và tới năm 1979 sau thương vụ IBM yêu cầu cả Solomon Brother tham gia bảo lãnh thì MS đã đánh mất vị thế độc quyền hoàn toàn với các khách hàng chính yếu của mình. Các ngân hàng đầu tư khác cũng chanh nhau nhẩy vào chiếm lĩnh các khách hàng truyền thống của MS và vị thế độc quyền của MS gần như sụp đổ hoàn toàn.

  1. Samba

Giữa thập niên 1970, 50% lợi nhuận của công ty JP Morgan, cty mẹ của Morgan Guaranty tới từ thị trường nước ngoài. London trở thành trung tâm tài chính ở châu Âu nhờ dòng tiền lớn từ dầu khí vào giai đoạn giữa nhưng năm 1970. Các dòng vốn này quay vòng rất mạnh với chính sách Eurodollar và cấp vốn rất mạnh mẽ cho khu vực Mỹ Latinh. Mặc dù chu kỳ khủng hoảng, vỡ nợ của Mỹ Latinh đã diễn ra thường xuyên và các vụ bùng nợ thường diễn ra nhưng các rủi ro của nó không được đánh giá đúng mức. Trước đây việc cấp vốn cho Mỹ Latinh chủ yếu là các loại trái phiếu và khi vợ nợ là các người dân Mỹ phải gánh. Còn vào những năm 1970s này nợ cấp cho Mỹ Latinh chủ yếu tới từ các ngân hàng và nguy cơ rủi ro tập trung vào các ngân hàng.

Các khoản vay cho nhóm này thường gọi cho nhóm MBA gồm Mexico – Brazil – Argentina. Đây là 3 con nợ chính ở các nước Mỹ Latinh. Các ngân hàng tham gia các khoản cho vay hợp vốn thường được quản lý bởi Morgan hoặc Citibank và mỗi ngân hàng nhỏ góp khoảng 10 triệu USD và nhận về các bản ghi chú định kỳ theo khuôn mẫu và bản thân họ cũng không am hiểu thị trường này cũng như các rủi ro tiềm ẩn đằng sau nó.

Tháng 8/1982, Mexico tuyên bố vỡ nợ với 87 tỷ USD nợ làm cả thế giới chao đảo và buộc Mỹ phải nhẩy vào giải cứu nước này nhằm tránh thảm họa dây truyền nổ ra. Brazil cũng trên bờ vực vỡ nợ với hơn 90 tỷ USD nợ và mỗi tháng phải vay thêm 1,3 tỷ USD để tồn tại và buộc Mỹ phải tiếp tục nhẩy vài tái cơ cấu nợ cho nước này. Về cơ bản cách thứ vẫn là bơm thêm nợ để chữa cháy nợ cũ và nợ ngày càng lớn hơn nữa.

  1. Tự doanh

Những năm đầu thập niên 1980s, JP Morgan trở lại với ngân hàng đầu tư và họ đụng độ ngay với 2 người anh em cũ là Morgan Stanley và Morgan Grenfell đang chiếm lĩnh các thị trường này. Với 1/3 cổ phần, JP Morgan bị coi là vòng kìm tỏa Morgan Grenfell trong việc quốc tế hóa và cạnh tranh toàn cầu. Năm 1981, Morgan Guarnty bán 1/3 cổ phần nắm giữ ở Morgan Grenfell và công ty chính thức thoát ly hoàn toàn khỏi Morgan. Sau 1 năm cổ phần Morgan nắm giữ chỉ còn 4% và nhà môi giới bảo hiểm Lloyd trở thành cổ đông lớn với 24%, năm 1985 công ty Morgan Grenfell niêm yết ở NY và mở ra cuộc cạnh tranh vô cùng kịch liệt sau đó.

Năm 1984, ngân hàng Continetal rơi vào khủng hoảng trầm trọng và nguy cơ vỡ nợ là hiện hữu. 1 cuộc giải cứu được đặt ra nhưng rất khó dể huy động được dòng tiền nhằm ngăn cả đà tháo chạy của các người gửi tiền tại ngân hàng này. Ngân hàng này hay cho vay các khoản vay với các công ty yếu kém và thường sử dụng tiền nóng, tiền gửi lớn khắp nơi trên thế giới và có thể dễ dàng bị rút đi khi có thông tin nào đó bất lợi. Cuối cùng, FDIC đã quốc hữu hóa ngân hàng này và nắm 80% tỷ lệ để tránh vụ đổ vỡ dây truyền xảy ra.

Tháng 3/1982, SEC đưa ra quy tắc 415 cho phép đăng ký phát hành cho các công ty được tự đăng ký phát hành và được tự do phát hành từng phần trong 2 năm sau đó đã tạo ra sự đột phá lớn trong kinh doanh và giúp các doanh nghiệp chủ động tận dụng cơ hội và giải phóng họ khỏi sự kìm kẹp của các ngân hàng đầu tư khi họ có thể tự huy động vốn 1 cách thuận lợi. Ngoài việc các ngân hàng đầu tư dần hoạt động sang các lĩnh vực ngân hàng bán buôn, họ cũng mở các bộ phận quản lý tiền cho khách hàng cá nhân và tổ chức.

  1. Bùng nổ

Đến cuối 1986, bề ngoài Morgan Grenfell vẫn bình lặng không treo biển và có vẻ bảo thủ như ngân hàng đầu tư với 150 năm tuổi. Nhưng bên trong nó là 1 tổ chức vô cùng hung hăng với các vụ đầu cơ, bảo trợ cho M&A thù địch, cấp vốn cho khu vực Mỹ Latinh đầy rủi ro,… ngân hàng này không có chiến lược cụ thể mà chỉ tận dụng từng cơ hội đột nhiên tới.

Mặc dù vậy, các ngân hàng đầu tư ở London tỏ ra rất nhỏ bé với các đối thủ khác. Như Nomura của Nhật có vốn tới 20 tỷ USD gấp 40 lần Morgan Grenfell. Các tập đoàn quốc tế ồ ạt tham gia thị trường London khi hạn chế bi bãi bỏ hoàn toàn vào năm 1986. Morgan Grenfell cũng thất bại khi bỏ qua các thương vụ béo bở như sáp nhập Rowe and Pittman, sáp nhập Wood Mackenzie,…Nó cũng cấp 32 loại hình dịch vụ ở 22 văn phòng, chỉ trong năm 1986, nó có 2k nhân viên và hơn 51 thương vụ mua lại với giá trị gần 14 tỷ bảng Anh.

Sự ra đi đột ngột của Young ở Morgan Grenfell đã làm việc kiểm soát rủi ro mất cân đối ở công ty và như con ngựa sổ lồng, các thương vụ thâu tóm được ngân hàng đầu tư này hậu thuận bùng nổ với các mức giá ngày càng cao chóng mặt, Tới năm 1985 có tới 4 vụ thâu tóm vượt quá 1 tỷ bảng Anh mà trước đây chưa từng có. Bong bóng thâu tóm cuối cùng bị xì hơi trong vụ bê bối Guinness. Vụ tai tiếng này chủ yếu liên quan việc làm giá cổ phiếu và Guinness dùng cổ phiếu để trả cho các vụ thâu tóm giá cao của mình. Việc đồng lõa kéo giá cổ phiếu lên cao để thắng thầu sau đó gặp rủi ro khi giá cổ phiếu giảm manh và các nhà đầu cơ phải bán tháo cổ phiếu Guinness theo.

  1. Thổi giá

Phố Wall trong thời đại Reagan đi theo dấu chân những năm 1920. Chúng ta thấy có sự tương đồng kỳ lạ giữa 2 thời kỳ này: Thị trường chứng khoán bùng nổ, chính sách giảm thuế của phe cộng hòa, khủng hoảng nợ tại châu Mỹ Latinh, tiền tệ bất ổn, làn sóng sáp nhập, các cuộc chiến thương mại, ngành công nghiệp và năng lượng sụt giảm. Chủ tịch Paul Volcker giúp hóa giải lạm phát, và thế giới đột nhiên bơi trong tiền mặt.

Sau nhiều thập kỷ thặng dư thương mại và là chủ nợ lớn nhất thế giới. Giờ đây dù vẫn ngập tràn trong tiền nhưng Mỹ đã bắt đầu thâm hụt thương mại và dần trở thành con nợ lớn nhất thế giới và vị thế thực tế bị suy giảm so với châu Âu và Nhật Bản. Phố Wall giờ đây là sòng bạc lớn nhất thế giới với việc thu hút nhân tài khi hơn 30% sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học xuất sắc như Yale sẽ ứng tuyển vào các ngân hàng đầu tư như First Boston; Morgan Stanley; Goldmans; Sachs; Merrill Lynch với ước mong làm giầu nhanh chóng và các khoản thưởng kếch xù hàng năm.

Phố Wall giờ đây không còn là vai trò thụ động thực hiện các nhu cầu của khách hàng nữa mà trở thành những kẻ hiếu chiến và chủ động hơn rất nhiều khi chủ động tạo ra nhu cầu cho khách hàng. Các thương vụ M&A là điểm nổi bật với năm 1982 giá trị 8,5 tỷ USD, sau đó nhẩy vọt lên 52 tỷ USD vào năm 1984 và ước tính tới 1987 giai đoạn này tổng thương vụ M&A lên tới 238 tỷ USD với vai trò đứng đầu của Morgan Stanley. Các thương vụ thôn tính bằng đòn bẩy (LBO) cũng bùng nổ theo cao trào trái phiếu rác (junk bond) cũng tạo ra lợi nhuận khổng lồ và dần thành nguồn thu chính của các ngân hàng đầu tư phố Wall những năm này. Các quỹ đầu tư, đầu cơ theo dạng LBO liên tục được thàn lập và dưới sự quản lý của các ngân hàng đầu tư này đặc biệt là MS.

Và sau cơn cao trào, lich sử lại lặp lại vào ngày 19/10/1987 khi chỉ số DJ giảm 508 điểm và khoảng 500 tỷ vốn hóa thị trường bị thổi bay chỉ trong 1 ngày. Lần này may mắn hơn năm 1929 khi FED ra quyết định hạ lãi suất ngay lập tức để hỗ trợ thị trường. Các giao dịch arbitrage giữa chứng khoán cơ sở ở NYSE và sàn phái sinh ở Chicago được cho là nguyên nhân chính gây ra đợt sụp đổ đột ngột này.

Năm 1985, hoạt động tư vấn M&A của Mogan Guaranty được mở trở lại và sau cú sụp đổ năm 1987 nó mới bắt đầu tạo ra các dấu ấn rõ rệt với các thương vụ thâu tóm thù địch mạnh mẽ.

  1. Tòa nhà chọc trời

Năm 1989, Morgan Stanley chiếm trọn 17 tầng trong tòa nhà Exxon trên đại lộ sô 6 với 6k4 nhân viên, đội ngũ nhân viên của họ còn đông hơn hãng dầu mỏ Exxon. Họ tập trung chính và các thương vụ thôn tính và ngân hàng bán buôn. Sau sụp đổ, lần đầu tiên Merrill Lynch (ML) vươn tầm lên có phần như Morgan Stanley thay vì 1 ngân hàng đầu tư bình thường như trước đây và trở thành mối đe dọa thật sự. ML trở thành đơn vị bảo lãnh phát hành có phí cao nhất vào năm này và MS chỉ đứng thứ 6.

Không những vậy, MS lúc này lại trở thành ngân hàng đầu tư có hoạt động phát hành trái phiếu rác (junk bond) số 1 sau khi Drexel Burnham thất thế sau cuộc điều tra vua trái phiếu rác Michael Miken. Và việc trở thành top 1 về junk bond rõ ràng là điều mà các thế hệ ông chủ ban đầu nhà Morgan không hề mong muốn cho MS. Tới cuối thập niên 1980, MS sở hữu danh mục 40 công ty với tổng tài sản hơn 7 tỷ USD và 72k nhân viên và nó hoạt động giống 1 tập đoàn cổ phần hơn là 1 ngân hàng đầu tư thuần túy.

Morgan Grenfell tại Anh vẫn duy trì như 1 quý tộc nhưng vì không thật sự tận dụng được các cơ hôi và chiến lược của nó không thật sự rõ ràng nên vào năm 1988 lần đầu tiên ngân hàng này gặp phải thua lỗ và có đợt xa thải lớn hơn 450 nhân sự (cắt giảm ¼ nhân sự) 1 cách đầy bất ngờ. Họ cũng phải đóng cửa mảng giao dịch chứng khoán và khén lại tham vọng ngân hàng đầu tư toàn diện và vươn ra toàn cầu. Năm 1989, ngân hàng này trở thành con mồi cho chính hoạt động thâu tóm và bán mình cho Deutsche Bank với giá 1,4 tỷ USD.

Với J. P. Morgan & Co. sau hơn 50 năm lựa chọn ngân hàng thương mại và từ bỏ ngân hàng đầu tư thì có vẻ họ đã thấy là sai lầm. Nhu cầu vay vốn ngân hàng của các công ty lớn suy giảm trầm trọng và họ thường sử dụng thị trường chứng khoán để làm điều đó. Từ năm 1984 việc sửa đổi luật Glass-Steagall đã được đưa ra để Morgan Guaranty có thể quay lại với ngành ngân hàng đầu tư những các bước tiến sau đó khá chậm chạp, và bản thân Morgan Stanley cũng không thấy hứng thú với việc quay trở lại tái kết hợp với Morgan Guaranty do các khác biệt văn hóa đã trở nên quá lớn giữa 2 tổ chức. Tới tháng 10/1989, J. P. Morgan Securities ra đời với 400 triệu USD vốn và 700 nhân viên chính thức được thành lập khi đạo luật Glass-Seagall được nới lỏng.

ShareTweetShare
nguyenminhhanh

nguyenminhhanh

Người đam mê đọc sách để phục vụ niềm đam mê công việc, kinh doanh của mình và hi vọng giúp ích được cho người khác điều gì đó.

Bài liên quan Posts

Lợi nhuận tốt (Good Profit) – Quản trị dựa trên thị trường và Cách tạo dựng một doanh nghiệp vĩ đại – Charles G. Kock (Chủ tịch kiêm CEO của Kock Industries Inc.)
Sách quản trị kinh doanh

Lợi nhuận tốt (Good Profit) – Quản trị dựa trên thị trường và Cách tạo dựng một doanh nghiệp vĩ đại – Charles G. Kock (Chủ tịch kiêm CEO của Kock Industries Inc.)

Tháng Ba 6, 2026
KOCHLAND – Đế chế KOCH
Sách quản trị kinh doanh

KOCHLAND – Đế chế KOCH

Tháng Hai 28, 2026
Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ – Vanderbilt – T. J. Stiles
Sách quản trị kinh doanh

Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ – Vanderbilt – T. J. Stiles

Tháng Hai 28, 2026
TITAN – Gia tộc ROCKEFELLER – Ron Chernow
Sách quản trị kinh doanh

TITAN – Gia tộc ROCKEFELLER – Ron Chernow

Tháng Mười Hai 27, 2025
Park Tae Joon – Người đàn ông của Thép – Lee Dae Hwan
Sách quản trị kinh doanh

Park Tae Joon – Người đàn ông của Thép – Lee Dae Hwan

Tháng Bảy 25, 2025
Kế thừa hay chuyển giao – Sự sống còn của doanh nghiệp gia đình (Don’t leave it to the children) – Alan Crosbie
Sách quản trị kinh doanh

Kế thừa hay chuyển giao – Sự sống còn của doanh nghiệp gia đình (Don’t leave it to the children) – Alan Crosbie

Tháng Năm 31, 2025
Bài tiếp theo
Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ – Vanderbilt – T. J. Stiles

Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ - Vanderbilt – T. J. Stiles

KOCHLAND – Đế chế KOCH

KOCHLAND – Đế chế KOCH

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu

Nguyen Minh Hanh

Học Tin học kinh tế tại National Economics University
Sống tại Hà Nội
Đến từ Hà Nội

  • Xu hướng
  • Bình luận
  • Mới nhất
Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Tháng Ba 27, 2021
45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

Tháng Mười Hai 19, 2020
Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Tháng Tám 28, 2020
Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Tháng Mười Một 8, 2020
Hiệu ứng dòng vốn rẻ

Hiệu ứng dòng vốn rẻ

26
Ups – Big Brown

Ups – Big Brown

23
Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

20
Quant Trading – Hoàng Tùng

Quant Trading – Hoàng Tùng

17
Lợi nhuận tốt (Good Profit) – Quản trị dựa trên thị trường và Cách tạo dựng một doanh nghiệp vĩ đại – Charles G. Kock (Chủ tịch kiêm CEO của Kock Industries Inc.)

Lợi nhuận tốt (Good Profit) – Quản trị dựa trên thị trường và Cách tạo dựng một doanh nghiệp vĩ đại – Charles G. Kock (Chủ tịch kiêm CEO của Kock Industries Inc.)

Tháng Ba 6, 2026
KOCHLAND – Đế chế KOCH

KOCHLAND – Đế chế KOCH

Tháng Hai 28, 2026
Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ – Vanderbilt – T. J. Stiles

Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ – Vanderbilt – T. J. Stiles

Tháng Hai 28, 2026
The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

Tháng Một 25, 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Call us: +84 9

© 2020 Nguyenminhhanh.com

Không kết quả
Xem tất cả kết quả
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác

© 2020 Nguyenminhhanh.com