Park Tae Joon – Người đàn ông của Thép – Lee Dae Hwan
Cuộc đời Park Tae Joon luôn thấy tự hào rằng mình đã đóng góp được 2 điều lớn lao chính là cuộc chiến tranh 25 tháng 6 và Tập đoàn chế tạo thép Pohang (POSCO).
- 1927 – 1945: Đứa trẻ thuộc địa dứng trên đất của kẻ thống trị
Park Tae Joo sinh ra ở 1 làng chài nhỏ cách biệt với thế giớ này thuộc thành phố Busan ngày nay, làng chài này có sản phẩm chính là rong biển. Cuộc sống người dân vẫn như thời trung cổ với các mái nhà lợp cỏ xiêu vẹo và sử dụng các con vật để đi lại. Người bác và bố của Joon lên đường sang Nhật Bản làm việc để kiếm kế sinh nhai vào giữa nhưng năm 1930. Sau đó tới 1933 thì bố của Joon đưa mẹ và ông sang Nhật để mong muốn con cái được hưởng nền giáo dục tốt hơn so với ở quê nhà.
Tới Nhật, cả gia đình Joon ở khu vực gần Yokohama và bán đảo Izu, nơi bố ông đang làm việc tại công trình đường hầm Itosen. Gia đình Joon cũng máy mắn vì ông chủ của họ là 1 trí thức và không hề ngược đãi người lao động Hàn Quốc, cũng như chỉ dậy cho rất nhiều cách quản lý lao động, quản lý trang thiết bị và cả văn bản. Tới tháng 4/1934, Joon nhập học tại trường tiểu học Taga tại Atami. Ông bắt đầu tiếp xúc và học hỏi văn hóa Nhật Bản ngày từ giai đoạn tiểu học và định hình phong cách cho ông suốt cuộc đời sau này.
Tới 1936, gia đình nhà Joon chuyển đến Iyama, đây là khu trượt tuyết nổi tiếng ở Nhật. Tại đây Park Tea Joon bắt đầu nhận ra tình cảnh 1 người sinh ra ở đất nước bị trị và đang học, lớn lên ở đất nước cai trị mình. Cũng như trách nhiệm của người anh cả với 3 đứa em nhỏ phía sau. Cậu bé đã được bố nhấn mạnh rằng cách duy nhất là phải “học”, học thật giỏi để tự chủ được trong tương lai.
Tới 1940, Park Tea Joo bắt đầu học trung học Bắc Iyama. Các mâu thuẫn tham vọng bành trước của Nhật ngày càng lớn và họ đã xâm chiếm Đông Dương, là các thuộc địa của Pháp. Mỹ phản ứng bằng cách phong tỏa các tài sản của Nhật ở Mỹ, cấm xuất khẩu dầu mỏ, sắt thép sang Nhật Bản và làm cho tình trạng thiếu hụt nhân lực, nguyên vật liệu bắt đầu hình thành tại Nhật. Do tình trạng thiếu hụt nguyên liệu, Park Tea Joo vào năm 4 trung học đã bị điều động tham gia lao động tại nơi chế tạo sắt. Tại đây, lòng hiếu kỳ đã làm ông nghiên cứu các phản ứng hóa học của việc chạy lò thiêu kết, nhiệt độ tác động ra sao và từ đó làm cậu thấy yêu thích công việc này hơn và đứng đầu về sản lượng hàng tháng.
Năm 1943, khi đang cố gắng để thi vào đại học Waseda thì Nhạt lại công bố Luật đặc biệt tạm thời về hoãn quân dịch và cưỡng chế phần lớn học sinh sinh viên phải ra chiến trường, đặc biệt những người có gốc Hàn Quốc đang ở Nhật. năm 1944, Joon tốt nghiệp trung học và bị cưỡng ép phải gia nhập trường sỹ quan lục quân nhưng ông tìm mọi cách trốn tránh gia nhập. Ông mong muốn vào trường ĐH Bách khoa Waseda, nhưng lúc đó rất nhiều hạn chế cho việc được học đại học. Joo đã nhận 1 người Nhật làm cha nuôi để đạt điều kiện thi vào Waseda.
Tháng 2/1945, Park Tea Joon tới Tokyo để gia nhập ĐH Bách khoa Waseda. Khi đó Nhật bị boom tấn công cũng rất quyết liệt. Nhưng các sinh viên như Park được hoãn quân dịch, trách nhiệm “dẫu sao cũng phải học cho ngày mai”, nước Nhật đang chuẩn bị cho hoàn cảnh bại trận sắp tới. Sau rất nhiều đợt ném boom, cuối cùng Mỹ đã ném 2 quả boom nguyên từ xuống Hiroshima và Nagasaky và hoàn toàn hạ gục Nhật. Ngyaf 15/8/29145, Nhật Hoàng Hirohito tuyên bố “dầu hàng vô điều kiện”. Sau chiến tranh, gia đình Park Tea Joon quyết định quay trở lại Hàn Quốc vì HQ đã được giải phóng khỏi quân đội Nhật, Park đã bỏ dở đại học Waseda khi đó.
- 1945 – 1953: Người sĩ quan trẻ đi về trong cõi chết
Sau chiến tranh thế giới 2, Triều Tiên bị xé toạc ra làm 2 ở vĩ tuyến 38 và Lý Thừa Vãn được Mỹ bảo trở thành tổng tống đầu tiên của HQ với khẩu hiệu chống CS, còn Kim Nhật Thành dưới sự chỉ đạo của LX thì quyết tâm thống nhất đất nước bằng vũ lực. Park Tea Joon sau khi về quê nhà thì lên Seoul để định đi học đại học trở lại nhưng trường học không có giáo sư. Joon đành quay lại Tokyo để hoàn tất việc học của mình, tại đây ông chứng kiến cảnh hoan tàn của thành phố Tokyo sau thất bại trong chiến tranh. Ông thấy cảnh các thanh niên thất bại ủ dột tại nhà, các phụ nữ lại là người tích cực làm việc, sửa nhà, dọn dẹp đường phố,… những cô gái điếm cũng tổ chức thành công đoàn thống nhất chỉ nhận quân phiếu thay vì những đồ như hàng mỹ phẩm để có tiền cho đất nước tái thiết.
Sau 2 mùa học ở thành phố bại trận này, Park quay trở lại Busan, lang thang tìm kiếm nhà máy sản xuất phù hợp nhưng hầu như nó vắng bóng ở Nam Hàn, các nhà máy công nghiệp nặng chủ yếu được Nhật đặt ở Bắc Hàn nơi gần TQ, trong khi miền Nam chủ yếu làm nông nghiệp. Sau cùng, Park chọn nhập ngũ khi 21 tuổi khi thấy cơ hội việc làm cho người làm cơ khí không thật sự khả thi. Tại trường lục quân nơi Park Tea Joon học, ông đã gặp giáo vụ Park Chung Hee, 1 người gây ấn tượng sâu sắc với Joon. Và mối quan hệ của họ bắt đầu từ lớp học đó và kéo dài tới tận năm 1979 khi Park Chung Hee qua đời.
Năm 1948 sau khi tốt nghiệp, Park Tea Joon được phong quân hàm trung úy và tham gia bảo vệ khu vực Seoul. Năm 1949, Joon thăng hàm đại úy, cùng thời gian đó quân đội Mỹ ồ ạt rút hết 45k quân khỏi HQ và cả các thiết bị khí tài quân sự và quân đội HQ phải nhanh chóng lấp đầy các vị trí trống này. Park Tea Joon cũng được chuyển lên lấp vị trí sát Bắc Hàn này và được thăng cấp thiếu tá cùng năm 1949 này.
Rồi “bão tố”, tên chiến dịch được lực lượng Bắc Hàn đặt đã đổ ập vào HQ vào 25/6/1950. Quân đội Bắc Hàn nhanh chóng chọc thủng vĩ tuyến 38 và tiến thẳng về Seoul. Các xe tăng T34 của Liên Xô sản xuất đã đè bẹp mọi trướng ngại trên đường nó đi. Sau khi thua tan tác, quân do Joon chỉ huy rút lui về vùng núi với đội quân rệu rã. Sau đó họ nhận lệnh vượt sông Hàn rút lui khỏi thành phố Seoul. Chỉ trong vòng 79h30’, quân đội HQ đã thiệt mạng hơn 44k quân và thủ đô Seoul thất thủ. Sau 1 tháng kể từ ngày rút lui, HQ chỉ còn lại vùng cực nam nối từ Pohang tới Busan, còn lại toàn bộ rơi vào tay quân bắc Hàn.
15/9/1950, tướng McAuthur cuối cùng thực hiện chiến dịch đổ bộ lên bán đảo Incheon và tiến hành bắc Tiến tổng tấn công quân bắc Hàn. Park Tea Joon là trợ lý cho đại tá Kim Ung Soo chỉ huy quân đoàn 1, đợt bắc tiền thần tốc này đã đánh thẳng vào Bình Nhưỡng của Triều Tiên với tốc độ rất nhanh chóng. Những chiến xe tăng M46 của Mỹ mạnh hơn hẳn những chiến T34 của Liên Xô khi đó. Khi đang băng băng tiến tới đánh bại bắc Hàn thì TQ nhẩy vào can thiệp khi dẫn quân sang hỗ trợ quân Triều Tiên. Với lực lượng lớn, lối đánh du kích đã làm bào mòn nhuệ khí quân đội Mỹ sau những đợt bị phục khích thiệt hại nặng nề. Tới 4/1/1951, Mỹ chính thức rút quân khỏi bắc Hàn quay về lại vĩ tuyến 38. Cuộc chiến vẫn kéo dài giữa 2 nước sau đó, Park Tea Joon được phong quân hàm đại tá vào năm 1952. Cuối cùng ngày 27/7/1953, hiệp định đình chiến cũng được ký kết chính thức giữa 2 miền Triều Tiên.
- 1953 – 1961: Vượt qua vũng lầy tham nhũng
Cuối 1953, đại tá Park Tea Joon – trung đoàn trưởng gia nhập học viện lục quân khóa 5 để tiếp tục đi học và được đào tạo bài bản trở lại. Sau tốt nghiệp, Joon là học viên xuất sắc nhất khóa và chọn ở lại trường sỹ quan lục quân. Tại dây Joon tiếp tục thể hiện khả năng sắp xếp công việc xuất sắc của mình. Năm 27 tuổi, nhờ mai mối của mẹ mà Joon kết hôn. Tới 1955, Park Tea Joon được thăng quân hàm chuẩn tướng. Park Tea Joon cũng nỗ lực đấu tranh cho việc trường lục quân được công nhận là chính thức trong hệ thống đại học HQ và được cấp bằng cử nhân nên rất được các học viên của trường yêu quý.
Năm 1955, Park Tea Joon nhập học tại học viện quốc phòng HQ vừa mới được thành lập. Sau khi tốt nghiệp Joon ở lại trường và làm giảng viên phụ trách môn Hoạch định chính sách quốc gia. Sau đó là trưởng phòng nhân sự ở HV quốc phòng. Các vụ tham nhũng trong nội bộ quân đội cũng ngày càng bị phanh phui ra ngoài làm rúng động xã hội. Sau đó Park Tea Joon quay sang đảm nhiệm tư lệnh trung đoàn, cải thiện trung đoàn tốt hơn. Rồi sang năm1960 tham mưu cho bộ tư lệnh quân nhu dưới quyền của Park Chung Hee.
- 1961 – 1965: Học kinh doanh
Cuộc bầu cử diễn ra và nội các mới hình thành nhưng vẫn đầy rối ren. Đang mưu “đại sự” thì tướng Park Chung Hee bị điều đi nơi khác ngồi chơi xơi nước. Park Tea Joo thì lại tham gia khóa đào tạo bên Mỹ lần thứ 2. Các cuộc biều tình của học sinh sinh viên nổ ra liên tục, nạn tham nhung bị liên tục tố cáo phanh phui. Điều này đã kích hoạt thuận lợi cho kế hoạch của Park Chung Hee. Vào 14/5/1961, quân đội đã bất ngờ đảo chính chiếm lĩnh Seoul và tòa nhà chính phủ HQ. Cuộc binh biến chỉ có 3,6k quân nhưng đã thành công mỹ mãn. Nhưng chuẩn tướng Park Tea Joon lại bị loại khỏi lực lượng lòng cốt của cuộc đảo chính này.
Sau đảo chính, vấn đề ăn – mặc – ở được ưu tiên lên hàng đầu và Park Tea Joon được điều về làm tổng thư ký của Park Chung Hee để bắt đầu các kế hoạch kinh tế mới. Tới 2/7/1961, Park Chung Hee lên làm Chủ tịch Hội đồng tối cao tái kiến thiết Quốc gia, là vị trí thực quyền cao nhất khi đó. Park Tea Joon cũng được thăng hàm thiếu tướng, và chuyển từ tổng thư ký sang Ủy viên tối cao phụ trách công thương trong Ủy ban kinh tế tài chính.
Đầu năm 1962, HQ là nền kinh tế nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người 70$/năm, xuát khẩu chính Vonfram với giá trị khoảng 40m$/năm, sản xuất 200k KWH điện, 160k tấn xi măng, 65k tấn thép. Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất được triển khai chính thức. 80% người dân HQ vẫn làm nông nghiệp. Park Chung Hee đã cương quyết không tiến hành hiện đại hóa nông nghiệp đầu tiên mà tập trung vào công nghiệp nặng như các ngành sắt thép, xi măng, hóa dầu,…
Tháng 12/1963, Park Chung Hee cởi bỏ quân phục quân đội để ra ứng cử tổng thống, Park Tea Joon cũng rời quân đội và dự định đi Mỹ du học, lúc đó Park Chung Hee đề nghị Joon ứng cử ở quốc hội tại quê nhà. Tháng 12/1963, Park Tea Joon được thăng quân hàm trung tướng và cũng chính thức giải ngũ sau 15 năm gia nhập quân đội.
Năm 1964, trong tiến trình bình thường hóa quan hệ với Nhật được Mỹ chỉ đạo HQ phải thực hiện, Park Tea Joon là đại diện toàn quyền của HQ sang Nhật đàm phán bí mật với nước này. Chỉ trong chưa đầy 15 năm, Tokyo đã khác hẳn so với lúc Park Tea Joon rời đi, các tòa nhà chọc trời san sát, đường sắt cao tốc 250km/h đang được xây dựng, phát sóng truyền hình tivi từ đen trắng sang tivi mầu,…
Tháng 10/1964, Park Tea Joon từ Nhật trở lại HQ và đảm nhận quản lý công ty Đại Hàn Vonfram, đây là công ty xuất khẩu chủ lực của HQ khi đó. Công ty này rất lụp sụp chỗ ăn ở cho nhân viên, quản lý tài chính lỏng lẻo. Rất may là Park Chung Hê đã cho Park Tea Joon đủ quyền lực và tách chính trị khỏi kinh doanh để Joon có thể làm được những gì nên làm nhằm vực dậy doanh nghiệp này.
Tới 1965, HQ chính thức ký hiệp định bình thường hóa với Nhật và nhận 300m$ tiền viện trợ không hoàn lại và 200m$ có hòa lại. Đi kèm với đó là quyết định bị phản đối quyết liệt của người dân khi chính phủ Park Chung Hee gửi 20k quân sang Việt Nam làm lính đánh thuê để tạo nguồn vốn cho phát triển HQ bên cạnh nguồn với từ Nhật.
- 1965 – 1969: Người khai phá đất hoang
Ý tưởng xây dựng nhà máy thép có từ lâu với kế hoạch Ulsa nhưng thất bại do không huy động vốn được. Lần này Park Chung Hee lựa chọn giao dự án cho Park Tea Joon là người phụ trách triển khai dự án thép tâ cỡ đầu tiên ở HQ với quy mô ban đầu 1 triệu tấn. Khi đó cả HQ tất cả các nhà máy mới có quy mô khoảng 200k tấn/năm. Địa điểm đựa lựa chọn là vùng Pohang với bến cảng và nguồn điện thuận lợi nhất cho dự án.
Dự án ban đầu hợp tác với Mỹ với gói tín dụng 100 triệu USD, còn phía HQ góp 25tr$, tuy nhiên con số này cao hơn tới 35% dự toán mà Park Tea Joon đã thuê 1 công ty ở Nhật tính toán. Nhà máy chính thức khởi công vào 3/11/1967, Park Tea Joon được bổ nhiệm là Chủ tịch Ủy ban xúc tiến xây dựng nhà máy. Sau nhiều vòng tranh luật, POSO ra đời dưới dạng công ty cổ phần, theo luật thương mại thay vì theo luật doanh nghiệp nhà nước đặc biệt như dự tính ban đầu. ngày 1/4/1968, Công ty cổ phần chế tạo thép liên hợp Pohang (POSCO) ra đời với 39 nhân viên. Quy mô 769 ha, công suất 1 triệu tấn/năm và vốn đầu tư 100 tr USD. Bên cạnh xây nhà máy, POSCO còn xây khu nhà ở nhân viên, trường học với diện tích 66ha ở cạnh nhà máy vào năm 1968. Để chuẩn bị nhân sự, POSCO đã lập trung tâm đào tạo, và cử nhân sự đi đào tạo ở nước ngoài tới 600 lượt để làm chủ hoàn toàn việc chế tạo sắt thép.
Tháng 1/1969, Park Tae Joon sang Mỹ tiếp tục đàm phán khoản vay 100tr USD mà KISA đã hứa nhưng bất thành. Dự án có nguy cơ sụp đổ trước mắt. Cùng đường, Park nghĩ ý tưởng sang Nhật để thử vận may thay vì dựa vào Mỹ. Ông rất ghét Nhật như bao người theo chủ nghĩa dân tộc HQ, nhưng trong cơn bí, ông nhận ra có thể sử dụng nguồn vốn yêu sách mà Nhật hứa trả cho HQ như 1 khoản đền bù tổn thấp chiến tranh mà Nhật gây ra cho HQ khi chiếm đóng HQ. Khi đó khoản viện trợ này vẫn còn khoảng 80tr USD chưa dùng.
Vào 6/8/1968, Park Tea Joon mang bản dự thảo nhà máy tới Tokyo để tìm kiếm đối tác Nhật thay thế cho đối tác Mỹ đã rút khỏi dự án. Các cuộc vận động hành lang diễn ra liên tục nhằm đạt được thỏa thuận mua công nghệ từ 1 nhà máy thép của Nhật. Khi đó 3 nhà máy lớn nhất là Yahata, Fuji và Nippon. Và sau rất nhiều trở ngại, lỗ lực cuối cùng cũng thành công khi Nhật chấp thuận chuyển giao công nghệ cho POSCO dưới dạng gói viện trợ trong thỏa thuận khung trước đó.
- 1969 – 1973: KỲ tích của “Bên phải, Quay”
Mua thu 1969, HQ chính thức thông qua sử đổi hiến pháp cho phép tổng thống được cầm quyền trọn đời bất chấp sự phản đối của đảng đói lập, biểu tình của sinh viên. Tăng trưởng GNP HQ 15%/năm là điều giúp Park Chung Hee chiến thắng.
Nhật đã viện trợ 73,7tr USD (hoàn lại 42,9tr USD và không hoàn lại là 30,8tr USD) và cho vay thương mại 50tr USD để hoàn tất nhà máy POSCO giai đoạn 1 với công suất 1,03 triệu tấn. Joon đã kích thích lòng yêu nước, hi sinh của tất cả mọi người cho dự án mà không tơ hào 1 đồng nào. 1 chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ mang sắc thái HQ mà có phần học hỏi và giống chủ nghĩa dân tộc của Nhật Bản.
POSCO quyết định xây nhà máy theo trình tự đảo ngược từ xây nhà máy cán thép trước thay vì tuần từ là luyện gang – luyện thép – cán thép. Vào tháng 6/1970, POSCO howpjt ác với VOEST của Áo xây nhà máy thép tấm với khoản vay 25tr USD từ Áo. Ngay sau đó Huyndai, nhà đóng tàu lớn nhất của HQ đã là khách hàng lớn của sản phẩm thép tấm này.
Khi dự án đang diễn ra, thủ tướng Chu Ân Lai của TQ bất ngờ công bố 4 nguyên tắc ngoại thương như không cho làm ăn với cac doanh nghiệp làm ăn với Đài Loan, HQ và Mỹ. Trong khi Nhật đang cố gắng mở cánh cửa vào thị trường TQ bằng mọi cách. Rất may công ty thép Tân Nhật Bản vẫn tiếp tục dự án với POSCO. POSCO sau đó có được quặng từ Úc với điều khoản tương tự các nhà máy thép ở Nhật. Năm 1971, POSCO tiếp tục mở rộng nhà máy giai đoạn 2 lên 2,6 triệu tấn thép thô so với bắt đầu. Nhà máy đầu tiên hoạt động vào 4/7/1972, song song với đó là việc xây dựng giai đoạn 2 của nhà máy vẫn đang tiến hành khẩn trương với tốc độ thần kỳ. Khi nhà máy hoàn thành, đơn giá/tấn thép của POSCO chỉ ở mức 251$/tấn, trong khi nhà máy CSC của ĐL là 626$/tấn và Okisima của Nhật là 667$/tấn.
- 1973 – 1979: Hoàn tất một huyền thoại
Năm 1973, POSCO bắt đầu tiền trình mở rộng giai đoạn 2 nhà máy nâng công suất thêm 1,57 triệu tấn thì bất ngờ gặp rắc rối khi các điệp viên HQ bắt cóc Kim Dea Jung, 1 chính trị gia đối lập đang lưu vong tại Nhật. Giai đoạn 2 dự kiến cần 192tr USD vốn trong nước và 348tr USD vốn nước ngoài. Joon đã sang Đức và mở cánh cửa châu Âu để tìm kiếm nhà thầu thay cho Nhật vì các hợp tác kinh tế đang bị đóng băng lúc đó. Việc kích động các nhà thầu châu Âu đã làm các nhà thầu Nhật bản gây sức ép với chính phủ để được tham gia gói thầu này trong tình cảnh khủng hoảng kinh tế lan rộng ro khủng hoảng giá dầu bùng nổ khi đó. Năm 1973, là năm đầu POSCO đi vào hoạt động mà có lãi ngay 12tr USD, được coi là 1 kỳ tích kinh doanh ở HQ lúc đó. Đặc biệt đặt trong hoàn cảnh khủng hoảng dầu mỏ lan rộng toàn cầu.
Vào 31/5/1976, giai đoạn 2 của dự án hoàn thành. Kế hoạch là POSCO sẽ tăng sản lượng lên 20 triệu tấn trong tương lai và Joon nhẩm tính phải tới năm ông 65 tuổi thì POSCO mới đạt được sản lượng đó. Ngay sau đó là chuẩn bị cho giai đoạn 3 với tổng mức đầu tư dự kiến 1,255 tỷ USD với sản lượng 3 triệu tấn/năm còn lớn hơn giai đoạn 1 + giai đoạn 2 là 2,6 triệu tấn trước đó cộng lại. Giai đoạn 3 của nhà máy hoàn thành vào tháng 12/1978. 1 số lỗi lao động sản xuất cũng xảy ra ở POSCO nhưng đều được nhân viên công ty xử lý nhanh chóng với tình thần dân tộc cao độ, họ làm ngày làm đêm với tinh thần hy sinh để nhanh chóng khắc phục sự cố không may đã xảy ra.
Năm 1977 cũng là lần đầu tiên POSCO tự đi huy động vốn từ bên ngoài để phục vụ việc xây dựng nhà máy thay vì có chính phủ sắp xếp vốn cho như trước đây. Tầm nhìn của POSCO sau 10 năm hoạt động chuyển sang trưởng thành và ổn định thay vì khai phá như giai đoạn đầu. Đúng lúc này, Huynda đã là Chaebol tiêu biểu của HQ nhẩy vào giành quyền xây dựng nhà máy thép số 2 vốn được dự kiến chỉ định cho POSCO do thành tích kinh doanh như 1 kỳ tích họ đã lam được với ngành thép trước đây. Các thư ký nhà xanh ngấm ngầm ủng hộ Huyndai giành được cơ hội này thay vì tiếp tục cho POSCO làm. Mãi tới khi Joon gặp tổng thống Park Chung Hee để thảo luận mới có quyết định cuối cùng giành lại nhà máy thép số 2 về tay POSCO.
Tháng 2/1979, POSCO khởi công giai đoạn 2 của việc mở rộng nhà máy. Ở ngoài xã hội, các xung đột bùng phát khi các áp bức về chế độ độc tài và sự tự do liên tục bùng phát qua nhiều năm trong xã hội HQ. Vào 26/10/1979, Giám đốc cơ quan tình bán HQ Kim Ja Kyu đã nổ 4 phát súng kết liễu tổng thống Park Chung Hee và chấm dứt thời gian trị vì độc tài của ông ở HQ. Đất nước HQ khi Park lên nắm quyền xuất khẩu 36 triệu USD/năm thì khi ông qua đời đã lên tới 15 tỷ USD/năm. Dù đạt nhiều thành tích kinh tế kỳ tích, nhưng các thảm họa về nhân quyền mà Park để lại là rất lớn trong lòng người dân HQ. POSCO sau sự kiện này cũng hoang mang vì người bảo trợ chính trị và cổ đông chính đã không còn, người lên thay thế Park sẽ đối xử ra sao chưa ai biết.
- 1979 – 1985: Bản thiết kế của giấc mơ được vẽ trên biển
Song song việc hoàn thành giai đoạn 4 nhà máy POSCO, nhà máy thep số 2 cũng được chỉ định xây dựng tại vịnh Asan vào năm 1979 từ phía Bộ xây dựng. Nhưng POSCO khi khảo sát lại thấy sự không phù hợp ở vị trí này nên đề nghị chuyển địa điểm khác. Joon tìm kiếm địa điểm khác và thấy ứng viên tuyệt vời là vịnh Kwang Yang. Đối phó với tình trạng nhà máy số 2 chưa có lối thoát cho việc chọn địa điểm, Joon đã đệ đơn mở rộng nhà máy POSCO lên 9,1 triệu tấn/năm vào năm 1981 và dự kiến hoàn thành vào năm 1983.
Khi đó tướng Chun Doo Hwan đã thành được thực quyền sau vụ ám sát tổng thống Park và chính thức làm tổng thống thứ 11 của HQ vào năm 1981 và kiêm Chủ tịch ủy ban bảo vệ quốc gia. Tướng Chun từng học ở trường mà Joon là giám vụ và cũng biết nhau khá rõ và từng là cấp dưới của Joon trước đây. Khi Hwan nắm quyền đã chỉ định Joon kiêm nhiệm phó chủ tịch Hội đồng lập pháp, trưởng ban kinh tế để tập trung hợp tác kinh tế Hàn – Nhật.
Tới tháng 11/1981, địa điểm nhà máy số 2 vẫn chưa được quyết định. Nguyên nhân do các quan chức bộ xây dựng đã mua rất nhiều đất ở vịnh Asan từ trước để chờ xây nhà máy nên cương quyết bắt POSCO phải xây ở đó cho dù vị trí đó không khả thi. Cuối cùng sau trình bầy, vịnh Kwang Yang cũng được lựa chọn là địa điểm xây nhà máy thép số 2 của POSCO. Dự án có quy mô giai đoạn 1 là 2,7 triệu tấn và khởi công chính thức vào tháng 7/1985 và dự kiến hoàn thành vào 1988 với tổng mức đầu tư 999 triệu USD. Các nhà thầu Nhật bắt đầu tư chối cung cấp dịch vụ cho nhà máy thép số 2 do lo ngại bị cạnh tranh ngược lại do chi phí sản xuất rẻ hơn các nhà máy Nhật. Nhưng cuối cùng vẫn lối áp dụng tìm các nhà thầu châu Âu và gây áp lực lại các nhà thầu Nhật buộc họ phải nhượng bộ. Cuối cùng nhà máy đã giảm được giá thành 33% so với dự toán giúp chi phí sản xuất mỗi tấn thép ở mức 637$/tấn giảm 60$/tấn so với dự toán.
- 1985 – 1990: Những mùa của vinh quang
Năm 1985, Sau khi đã trải qua rất nhiều đợi thăm các trường đại học trên thế giới, cuối cùng Joon chọn xây dựng đạt học Công nghệ Pohang (Postech) theo mô hình đại học Caltech của Mỹ. Để xây dựng được đại học tầm vóc quốc tế trong thời gian ngắn cần 5 yếu tố:
- Hỗ trợ tài chính rộng rãi
- Là trường đại học nghiên cứu chuyên sâu của số ít những người xuất sắc được chọn lọc
- Có đội ngũ giáo sư ưu tú nhất
- Liên kết chặt chẽ giữa lĩnh vực công nghệ và khoa học cơ bản
- Phải xây dựng cơ chế hợp tác giữa doanh nghiệp – học viện – nghiên cứu
Sự tham gia vào ngành giáo dục khởi đầu tư năm 1971 khi POSCO thành lập trường mầm mon cho con cái nhân viên công ty. Tới năm 1976 thì POSCO đã có trường học từ mẫu giáo tới hết cấp 3. Tổng cộng POSCO có tới 14 trường học vào cuối thế kỷ 20. Khi xây trường đại học, Joon đã mời chào giám sư hàng đầu về sinh học ở Mỹ gốc Hàn làm hiệu trưởng đầu tiên của trường. Ngày 3/12/1986, trường đại học Postech chính thức hoàn thành và mở khóa chiêu sinh đầu tiên vào tháng 1/1987. Ngày 5/3/1987, trường chính thức giảng dậy khóa đầu tiên và việc chiêu sinh rất thành công với tỷ lệ chọi 2,2/1. Postech được xếp hạng thứ 8/192 trường đại học ở HQ ngày nay.
Năm 1987, chính phủ HQ dự định IPO POSCO qua hình thức đấu giá hạn chế không qua sàn chứng khoán để để mặc sức thao túng giá gây quỹ đen và chỉ cho 10% nhân viên mua cổ phần ưu đãi công ty. Cuộc đấu khẩu giữa POSCO với chỉnh phủ đã nổ ra xoay quanh phương án này. Nhờ sức ép của truyền thông mà POSCO đã tránh được phương án này.
Tháng 4/1987, POSCO hoàn thành nhà máy số 2 với công suất 2,7 triệu tấn/năm và nâng tổng công suất lên 12 triệu tấn/năm và thành nhà máy lớn thứ 9 thế giới sản xuất sắt thép. Hiệp hội kim loại Anh đã bất ngờ trao huân chuowg Bessemer cho Park Tea Joon. Nhưng Park Tea Joon là trường hợp lạ lùng khi không hề sở hữu cổ phiếu công ty mà hiến dâng cuộc sống cho đại nghĩa hoàn toàn.
Năm 1987 cũng là năm cao trào đòi dân chủ nổ ra ở HQ giữa phe dùng bạo lực đàn áp và những người dùng bom xăng đề đòi dân chủ đã dẫn tới việc sửa lại hiến pháp để bầu tổng thống trực tiếp và sự thất bại của tổng thống đương nhiệm trong cuộc bầu cử công khai sau đó.
10/6/1987, cổ phiếu POSCO chính thức niêm yết trên sàn chứng khoán và mỗi cá nhân bị hạn chế không được sở hữu quá 1% cổ phiếu POSCO. Cơn hưng phấn cổ phiếu POSCO lên rất cao khi nó niêm yết lần đầu này. 10% cổ phần đựa chi cho nhân viên công ty là hơn 9,1 triệu cổ phiếu cho 19,4k nhân viên. Park Tea Joon đã không nhận số cổ phần lớn như ông đáng được hưởng mà chỉ nhận 1 phần nhỏ có giá trị khoảng 3,6 tỷ Won(<0,01% cổ phần công ty), trong khi chỉ 1% cổ phần POSCO đã có giá 400 tỷ Won.
Năm 1988, Gwang Yang giai đoạn 2 hoàn thành nân công suất lên 5,4 triệu tấn/năm. Tháng 11, công ty tiếp tục khởi công giai đoạn 3 của nhà máy. Sang năm 1989 POSCO đã chuẩn bị cho đợt khởi công giai đoạn 4 của nhà máy sắp tới. Ông cũng dự kiến sau khi hoàn tất xây dựng mỗi năm POSCO sẽ dư ra dòng tiền 1.000 tỷ Won và muốn đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin với giấc mớ biến HQ thành đất nước công nghệ như Mỹ đã làm được.
- 1990 – 1992: Chỉ một ngày ngồi trên ngai vàng của thép
22/1/1990, 2 đảng phái cầm quyền và đảng đối lập hợp nhất thành Đảng Dân chủ Tự do và Park Tea Joon từ vị trí thứ 2 trong đảng câm quyền thành vị trí thứ 3 trong đảng. Joon cũng chuẩn bị kế hoạch để rút lui khỏi hoạt động điều hành POSCO sau khi giai đoạn 4 của nhà máy Gwang Yang đi vào hoạt động sau 2 năm nữa. Ông đề bạt người khác lên vị trí phó chủ tịch điều hành và chuẩn bị 1 vị trí chủ tịch danh dự cho mình để dành không gian cho vị phó chủ tịch làm quen với công việc được giao trước khi chính thức toàn quyền điều hành sau đó. Các mối quan hệ rối ren làm nản lòng Joon trong sự nghiệp chính trị của mình ở giai đoạn này và chỉ muốn từ chức rời khỏi chính trị.
Chính trị HQ rối ren với đủ loại chính trị công kích lẫn nhau giữa các chính trị gia. POSCO khánh thành nhà máy Kwang Yang giai đoạn 3 và nâng tổng công suất của POSCO lên 17,5 triệu tấn. Vào cuối năm 1991, Gwang Yang giai đoạn 4 được khởi công với tỉ lệ nội địa hóa lên tới 63,1%. Cùng thời gian, POSCO cũng khởi công nhà máy gia tốc tạo phóng xạ quang tuyến là công nghệ cho tương lai ở bên cạnh Postech với diện tích 62,4ha. Giai đoạn 4 hoàn thành, tổng công suất của POSCO đạt 21,5 triệu tấn/năm. Kỳ tích sau 25 năm công ty bắt đầu hình thành.
- 1992 – 9/2009: Phần kết
Tháng 5/1992, Park Tea Joon từ chức chủ tịch POSCO. Ông chỉ còn giữ chức chủ tịch danh dự và chuyên tâm vào việc thâm nhập thị trường hải ngoại và đích đến là TQ và Đông Nam Á. Mặc dù được ứng viên Kim Young Sam hết lời nhờ vả và muốn Joon đảm nhiệm vai trò chủ tịch ủy ban bầu cử, nhưng đã quá thất vọng với chính trị, Park Tea Joon cương quyết từ chối và rời bỏ hẳn khỏi chính trị HQ và dự báo sự trả thù chính trị của Kim Young Sam.
10/3/1993, Kim Yong Sam nhận chức tổng thống HQ, Park Tea Joon lne đường sang Tokyo lánh nạn rời xa HQ sống trong căn phòng 43m2 ở Tokyo và nghĩ đến cảnh nghiệm kỳ tổng thống 5 năm và phải rời HQ 5 năm, khi trở về đã 70 tuổi. Cuộc sống lưu vong của ông di chuyển từ Nhật sang châu Âu, Mỹ.
Năm 1997, Park Tea Joon quay trở lại HQ chính thức sau 4 năm lưu vong. Joon quay trở lại cạnh trnah ghế đại diện quốc hội của vùng Pohang lúc đó. Với khẩu hiệu “Keng tế biến đi”, “Kinh tế về rồi”, Park Tea Joon đã giành thắng lợi ở cuộc bầu cử này, khi mà nền kinh tế HQ đang đối mặt nguy cơ vỡ nợ cận kề. Rồi khủng hoảng tài chính cũng tới và càn quét HQ rất quyết liệt. Các doanh nghiệp vỡ nợ hàng loạt, chính phủ phải vay khẩn cấp IMP để chống vỡ nợ,… đản câm quyền bị thất bại trong bầu cử là đòn chừng phạt cho việc điều hành kinh tế yếu kém. Park Tea Joon cũng tổng thống mới Kim Dae Jung đã nỗ lực vận động người dân quyên góp vàng, thắt lưng buộc bụng và nỗ lực hồi phục kinh tế. Nền kinh tế HQ đã hồi phục nhanh chóng trở lại và lại bắt đầu chu kỳ tăng trưởng thần tốc kể từ 1999 trở đi.
Năm 2000, Park Tea Joon lên làm thủ tướng HQ, nhưng lục đục trong đảng và sức khỏe suy yếu nên ông đã đệ đơn từ chức vào tháng 5/2000 và quay trở lại làm người dân bình thường ở tuổi 73. Sau đó ông lên đường sang Mỹ phẫu thuật u nước lớn tới 3kg. Sau phẫu thuật, năm 2002 ông trở lại quê nhà. Lúc này POSCO đã liên tục là công ty sắt thép có sức cạnh tranh số 1 trên thế giới nhiều năm liền.



















