Thứ Bảy, Tháng Ba 14, 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Review sách
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Review sách
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Review sách
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Home Review sách Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Danh tướng – Các nhà cầm quân vĩ đại nhất trong lịch sử – R.G. Grant

Danh tướng – Các nhà cầm quân vĩ đại nhất trong lịch sử - R.G. Grant

nguyenminhhanh bởi nguyenminhhanh
Tháng Ba 30, 2021
in Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo
Thời gian đọc:45phút
0
Danh tướng – Các nhà cầm quân vĩ đại nhất trong lịch sử – R.G. Grant

Danh tướng – Các nhà cầm quân vĩ đại nhất trong lịch sử – R.G. Grant
Cuốn sách này tóm tắt các danh tướng, các vị cầm quân vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng có vẻ tác giả là người phương tây và không có nhiều tài liệu các vị tướng ở phương Đông nên sự giới thiệu các tướng phương Đông còn sơ sài. Cũng có thể 1 phần các vùng ở phương đông đại đa số nhỏ bé không mang tầm chiến lược ảnh hưởng lớn đến thế giới nên cũng ít được thống kê vào tác phẩm này. Số lượng các danh tướng đề cập ở đây rát lớn, nhưng tôi chỉ tóm tắt 1 số vị nổi bật nhất lịch sử nhân loại.
I. Anh hùng thời cổ đại (1500 TCN – 500)
Thời cổ đại cũng xuất hiện những vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. 3 vị tướng tiêu biểu nhất là: Alexander Đại Đế, Hannibal và Julius Ceasar. Thời địa này yếu tố kỹ thuật chưa phát triển, chủ yếu là tài dùng quân và phát huy sĩ khí, chớp lấy thời cơ của các vị tướng. Các vị tướng thời này cũng tường là những vị vua nắm quyền thống trị vương quốc. Các cuộc chiến thường là viễn chinh xa xôi và thử thác về tiếp vận, hậu cần cho quân đội khổng lồ, phương tiện truyền tin bế tắc thường là người đưa tin trực tiếp, hoặc các dấu hiệu, cờ chỉ huy,…Các chỉ huy thường mang tín ngưỡng tôn giáo mạnh để dùng nó tiếp theo sĩ khí cho quân đội trước các trận chiến lớn.
1. Hy lạp và các đế quốc cổ đại (1500 – 100 TCN)
Giai đoạn này, khu vực Tây Á, Đông Địa Trung Hải trở thành nơi thường xuyên diễn ra các cuộc chiến của khu vực Ky Lạp với người Ba Tư, Ai Cập. Các vị tướng nổi bật giai đoạn này:
Cyrus Đại Đế: Ông mất vào năm 540 TCN, ông đã xâm chiếm Media, Lydia và Babylon lập ra đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Ông sáng lập chiều đại Achaemenid của Ba Tư, ông là 1 trong những người chinh phạt vĩ đại nhất mọi thời đại. Khi lên ngôi Ba Tư năm 559 TCN, Ba Tư là chư hầu của nước Media, sau đó ông dẫn dắt quân đội phản kháng và chiếm Media vào năm 549 TCN, rồi tấn công các nước xung quanh như Lydia, Babylon và làm chủ khu vực Lưỡng Hà và để lại đế chế hùng mạnh nhiều thế kỷ sau. Lực lượng trung kiên của Cyrus Đại Đế là Bất tử quân hùng mạnh với 1 vạn người luôn duy trì.
Alexander Đại đế (356 TCN – 323 TCN): Ông là nhà quân sự thành công nhất mọi thời đại, cuộc đời của ông nhiều mầu sắc chinh phạt và là người không biết đến thất bại là gì trong suốt sự nghiệp cầm quân của mình. Ông lê ngôi vua Macedonia từ kế vị từ vua Phillip II và sau đó tân công các khu vực nổi loạn tại liên bang Hy Lạp lúc đó để ổn định nội bộ, rồi ông dẫn theo quân Macedonia tinh nhuệ lên đường tấn công Đế quốc Ba Tư và đánh tan toàn bộ Ba Tư, Ai Cập và các vùng thuộc đế quốc Ba Tư, sang tận Ấn Độ sau đó mới chịu rút về khi quân lính đã quán chán ngán chiến tranh dù Alexander vẫn mong muốn tiếp tục chinh phạt. Lực lượng trọng yếu nhất là Chiến hữu kỵ binh do các quý tộc Macedonia tạo thành. Ông Mất đột ngột không kịp chỉ định người kế ngôi làm Hy Lạp rối loạn trong cuộc chiến tranh ngôi vị sau đó.
2. La Mã cổ đại và các kình địch (500 TCN – 500)
Hannibal: Ông là tướng Cathage (247 TCN-182 TCN): quân Cathage thất bại trong trận chiến Punic I nên thề sẽ trả thù La Mã. Vai trò trọng trách này đặt lên vài Hannibal khi ông thay cha cầm quân và kéo quân từ khu vực bắc Phi (Cathage) tiến thẳng tới Italy tấn công đại bản doanh của Đế quốc La Mã. Đoàn quân của Hannibal tạo ra 1 cú di chuyển qua dãy Alps thần kỳ mà mãi 20 thế kỷ sau Napoleon mới làm lại được để tấn công đột kích vào Italy đầy bất ngờ và đánh bại mọi cánh quân La Mã trên chiến trường. Sau đó La Mã chuyển sang đánh du kích tiêu hao. Sau chiến thắng vang dội đánh tan La Mã ở Cannae, ông lại không tổng lực tấn công Rome để trôi qua cơ hội và cứ loanh quanh ở miền bắc Italy và sau đó bị Carthage gọi về và thất bại trong trận đánh ở Zama và phải cầu hòa và sống cuộc sống du mục nay đây mai đó thất bại cuối đời. Ông chỉ huy đội quân của Hannibal cực kỳ tài chính và vô địch khi ở đỉnh cao sự nghiệp của mình.
Julius Ceasar (100 TCN – 44 TCN): Ông là 1 tron vài tướng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại và xây dựng nền độc tài La Mã hùng mạnh. Thủa ban đầu, Ceaser quản lý Tây Ban Nha thành công và kết hợp với 2 người khác thành tam đầu chế: Pompey – Ceasar – Crassus, sau đó ông quản lý vùng Gaul (Pháp – Bỉ) ngày nay, ông đã đánh chiếm 800 thành trì, thu phục 300 bộ lạc khu vực và giết tới 1 triệu người để bình định khu vực này. Sau đó ông lật đổ 2 vị kia và trở thành nhà độc tài suốt đời vào năm 45 TCN, khi đang chuẩn bị tấn công Parthia và Dacia thì ông bị ám sát chết vào năm 44 TCN. Ông vừa là vị tướng vĩ đại lẫn nhà chính trị quản lý đất nước vĩ đại. Trong cương vị nào ông cũng là người nổi bật nhất trong những người nổi bật.
Attila người hung (406 – 453): ông có biệt hiệu là “Ngọn roi của thượng đế” hay “Tai ương của Đất”, ông là người ham mê chinh phạt, ban đầu từ châu Á di cư sang vùng sông Danube giáp ranh La Mã và lúc đầu thống nhất sẽ không đánh La Mã. Nhưng sau đó nhận ra đánh chiếm La Mã sẽ hời hơn nên chuyển sang tấn công La Mã, vó ngựa Hung đi đến đâu các quân La Mã bị đánh bại tới đó. Sau khi bị chặn ở Calons, Attila quay hướng tấn công thẳng tới Rome, giáo hoàng Leo I phải ra ngoài thương thuyết với Attila để ông rút quân về. Sau khi rút quân, Attila qua đời 1 năm sau đó sau 1 cơn say rượu.
3. Châu Á cổ đại (350 TCN – 400)
Tần Thủy Hoàng (259 TCN – 210 TCN): Tần Thủy Hoàng đã thành công trong việc thống nhất Trung Quốc sau nhiều thế kỷ bị chia rẽ thành nhiều vương quốc khác nhau. Sau khi áp dụng cả cách triệt để, Tần Thủy Hoàng đã dùng 10 năm chinh phạt xong các nước và thành lập đế quốc Trung hoa Tập trung tập quyền, do cai trị tàn bạo nên sau khi ông mất, đế chế của ông nhanh chóng sụp đổ. Giai đoạn này cũng xuất hiện binh pháp Tôn Tử được lưu truyền tới tận hiện tại vẫn được nhiều người nghiên cứu học tập.
II. Hiệp sĩ và du mục (500 – 1450)
Đây là giai đoạn chiến tranh nổ ra liên tục khắp nơi, các đế chế lớn được xây dựng đặc biệt Maya ở Trung Mỹ, nhà Minh tại Trung Hoa, Viking ở Scandinavia, Võ sỹ đạo tại Nhật Bản, Đế chế Mông Cổ,…trong đó đế chế Trung Quốc là tổ chức quân sự vượt trội so với các nền văn minh khác trong giai đoạn này. Các nước Tây Âu thường các đội quân nhỏ, cát cứ theo thành trì và quý tộc, khi cần mới hợp quân các quý tộc lại nên thiếu sự đồng nhất và sự trung thành cần thiết, quân cũng thiếu chuyên nghiệp. Khác với lực lượng quân chính quy thường trực đông đảo của Trung Hoa được huấn luyện kỹ càng. Các chiến đấu giai đoạn này cũng không hơn so với giai đoạn cổ đại, các vũ khí công thành như máy bắn đá được sử dụng rộng rãi, quân lính tâu âu Nặng nề giáp trụ, trong khi quân châu Á lại trang bị nhẹ, cơ động.
1. Trung cổ sơ kỳ (500-1095)
Đây là giai đoạn đế quốc La Mã sụp đổ, tây âu rơi vào đêm trường trung cổ với vai trò lớn của tôn giáo kiểm soát đời sống xã hội. La Mã chia làm 2 với di sản được tiếp nối bởi đế quốc Byzantine đóng đô tại Constantinople
Charlemagne (742-814): Ông là vị hòa đế của đế quốc Frank trị vì khắp khu vực Pháp, Bỉ, miền bắc Italy, 1 phần của Đức ngày nay và vùng Bacelona của Tây Ban Nha. Ông đánh dẹp khu vực xung quanh mở rộng đế chế Frank với lực lượng nòng cốt là kỵ binh Frank. Nhưng thất bại trong việc đánh người hồi giáo ở Tây Ban Nha nên sau đó chỉ tập trung quản lý đế quốc của mình.
2. Kỷ nguyên Thập tự chinh (1095 – 1300)
Đế quốc Byzantine bị người hồi giáo đánh cho gần tan và người hồi giáo tấn công mạnh vào khu vực châu Âu, đặc biệt là họ chiếm Tây Ban Nha là con đường từ khu vực Bắc Phi tiến vào châu Âu. Giáo hoàng Urban II kêu gọi thánh chiến, giải phóng Jerusalem khỏi tay người Hồi.
Saladin (1138 – 1193): ông là vua triều Ayyubid và cai trị Ai Cập, Syria. Ông là chiến binh người Krud ở Iraq ngày nay. Ông ban đầu đến cầm quân tại Ai Cập, sau đó lật độ vua Ai Cập khi đó và lập lên nhà Ayyubid. Sau đó năm 1183, ông tấn công xâm lược thành công Palestine, chiếm đóng Jerusalem thành công và đánh tan đội quân thập tự quân Tây Âu và giữu được Jerusalem dù sau đó phải cầu hòa với Thập tự quân.
3. Chiến cuộc tại Châu Á (1200 – 1405)
Giai đoạn này dấu ấn nổi bật nhất là cuộc chinh phục vĩ đại của đế quốc Mông Cổ với sự khởi đầu của Thành Cát Tư Hãn và cháu ông Hốt Tất Liệt đã mở rộng lãnh thổ đế quốc tới mức tối đa. Sau đó là tới nhà chinh phục vĩ đại Timur người tự nhận là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, và cuộc nội chiến Nhật Bản và sự ra đời của Mạc Phủ.
Thành Cát Tư Hãn (1162 – 1227): Ông là nhà chinh phục vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại với diện tích chinh phạt được lớn nhất thế giới. Đế chế của ông kéo dài từ Trung Quốc tới Nga, và kéo dài sang tận Ấn Độ, bắc Phi. Ông chỉ có 1 vài thất bại nhỏ khi mới bắt đầu sự nghiệp của mình. Sau khi thành lập Hãn Quốc, ngài trở thành người vô địch trên chiến trường khi các trận đánh ngài chỉ huy không thất bại lần nào, kể cả các tướng của ngài cũng hầu như không thất bại trong các cuộc chiến chinh phạt các nơi họ đi qua. Đội quân vô địch của ông là kỵ binh Mông Cổ trang bị nhẹ di chuyển nhanh chóng tốc độ cao.
Hốt Tất Liệt (1215 – 1294): Người đã kế vị Đại Hãn sau cuộc tranh chấp với người em của mình và sau đó tập trung đánh triều đình Nam Tống và nước Kim để thống nhất thành đế chế khổng lồ nhất trong lịch sử nhân loại từng có. Hốt Tát Liệt học hỏi văn hóa Trung Hoa và biến mình là người Trung Hoa để cai trị đế chế nhà Nguyên mà ông lập ra theo cách người Trung Hoa thống trị. Đế chế của ông dừng lại khi 2 lần tấn công Nhật Bản bất thành, cũng như 3 lần tấn công Đại Việt và 1 lần tấn công Indonesia, 1 lần tại Ai Cập và đế quốc dừng mở rộng với các đường biên tại các nước đó. Sau khi ông qua đời, đế chế của ông sụp đổ nhanh chóng khi Trung Hoa được độc lập bởi nhà Minh, sau đó Trung Hoa còn chiếm 1 phần Mông Cổ để trở thành đất của Trung Hoa về sau.
Timur (1336 – 1405): Ông tự nhận mình là người kế nghiệp Thành Cát Tư Hãn khi cũng trở thành 1 trong những nhà chinh phục vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Ban đầu ông ganh đau với Kim Trướng Hãn Quốc (Khu vực Thành Cát Tư Hãn chiếm của đế quốc Hoa Thích Tử Mô xưa), sau khi giành thắng lợi tại đây, ông tiến quân tấn công Ấn Độ, rồi kéo quân đánh Syria, Ai Cập. quân Ai Cập bỏ chạy, Tumur quay sang tấn công hoàng đế Bayezid I của Đế quốc Thổ Ottoman vì coi đấy là đối thủ xứng tầm hơn với mình, Timur đánh bại đế quốc Ottoman trong trận này và bắt sống hoàng đế. Sau đó ông chiếm 1 số thành trì rồi quay về vương quốc trong khải hoàn. Ông định tấn công Trung Hoa nhưng đã qua đời trước khi thực hiện việc này. Trung Hoa khi đó đang do Đại Minh của Chu Nguyên Chương chiếm giữ.
4. Châu Âu cuối thời trung cổ (1300 – 1456)
Giai đoạn này, các hiệp sỹ Châu Âu với giáp trụ nặng nề vẫn chiếm ưu thế trong các binh chủng quân tại đây. Tuy nhiên, sự ra đời vả cải tiến liên tục của súng ống, hỏa mai và pháo bắt đầu tạo ra những sự thay đổi trong đường lối quân sự các lực lượng và tác chiến các đạo quân trên chiến trường.
III. Công cuộc cách tân quân sự (1450 – 1700)
Giai đoạn này, hoạt động chỉ huy trở nên phức tạp hơn hẳn, quy mô quân đội lớn dần lên, súng ống ngày càng hiệu quả hơn, bộ binh xuất thân từ dân thường trở thành đội quân chủ lực. Chiến sự rất tốn kém và làm cạn kiệt tài nguyên các quốc gia tham gia chiến tranh. Chiến tranh chỉ kết thúc khi các bên đều kiệt quệ và phải ngừng chiến. Các pháo đài hình ngôi sao được xây dựng để chống lại pháo lớn, cũng như các công sự thường được xây dựng bảo vệ chiến lũy.
1. Thế giới hồi giáo (1450 – 1660)
Giai đạn này người Thổ nắm giữ thế giới hồi giáo và thường xẩy ra chiến tranh với những người Kito giáo. 1 số đế chế hồi giáo hùng mạnh như Mogul ở Ấn Độ, Safavid ở Iran, Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ. Người thổ ban đầu là 1 nhóm nhỏ định cư tại Anatolia, sau đó họ phát triển mạnh và tới thế kỷ 13 thủ lĩnh Osman sáng lập nên đế quốc Ottoman. Khi Byzantine suy yếu, Ottoman vươn lên mạnh mẽ và chiếm thành Constantinople và đánh bại Byzantine, sau đó tiếp tục bành trướng lãnh thổ của mình trải dài Âu – Á – Phi. Giai đoạn đầu họ phát triển vũ bão và vượt trội tây âu, nhưng sau đó bắt đầu suy yếu từ thế kỷ 17. Các vị nổi tiếng giai đoạn này của người hồi giáo có Suleiman Vĩ Đại của Ottoman và Akbar Đại Đế của Mongul.
2. Đông Á tương tranh (1560 – 1700)
Giai đoạn này, khu vực Đông Á xảy ra các cuộc chiến tranh quy mô lớn đặc biệt tập trung tại Trung Hoa và Nhật Bản. Chủ yếu là các cuộc nội chiến và thay đổi triều đại vua. Đầu tiên là cuộc chiến thành lập ra Mạc Phủ ở Nhật, rồi Mãn Thanh chiếm Trung Hoa lập ra nhà Thanh, rồi Triều Tiên liên minh với nhà Minh đánh Nhật xâm lược rồi sau đó bị nhà Thanh chiếm.
Oda Nobunaga (1534 – 1582): là lãnh chúa đầu tiên cố gắng thống nhất Nhật Bản sau nhiều thế kỷ chính quyền trung ương suy sụp. Ông sử dụng bộ binh là nông dân bắn súng thay vì thuần túy võ sĩ đạo (Samurai) như truyền thống và áp đảo các phiên bang khác. Đang trên đỉnh cao sự nghiệp thì ông bị ám sát bởi 1 số người ông tin cậy nhưng lại phản bội ông.
Toyotomi Hideyoshi (1536 – 1598): ông là thuộc hạ của Oda Nobunaga, sau khi Oda chết cuộc chiến tranh quyền kế vị diễn ra và Hideyoshi giành thắng lợi cuối cùng. Ông sở trường hành quân thần tốc, tấn công bất ngờ, đấy đối phương vào thế bị động, và dùng lực lượng ưu việt của mình để đánh tan đối phương. Cuối cùng năm 1590, Hideyoshi đánh tan gia tộc Hojo và hoàn tất thống nhất Nhật Bản và trở thành nhiếp chính Nhật tới khi qua đời. Các đợt tấn công Triều Tiên để làm bàn đạp tấn công Trung Hoa bằng bộ và thủy binh đều thất bại.
Tokugawa Ieyasu (1543 – 1616): là người đặt nền móng đầu tiên cho chế độ cai trị Mạc Phủ tại Nhật Bản. Ông là người nhiều thủ đoạn chiêu trò, khôn khéo và giành thắng lợi cuối cùng khi Hideyoshi qua đời ông giành quyền bính và chính thức lập ra Mạc Phủ từ năm 1603 và tồn tại tới hơn 2,5 thể kỷ sau đó tại Nhật Bản.
Yi Sun-Sin (1545 – 1598): Ông và vị anh hùng của dân tộc Hàn Quốc khi vi đô đốc trên biển này toàn thắng và đập tan cả 2 cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Hàn Quốc. Ông giành chiến thắng trong 23 trận chiến đặc biệt là trận Hansando vào tháng 8/1592 khi Triều Tiên bị xâm lăng lần đầu bởi Nhật Bản. Sau đó là 2 trận lớn là Myeongnyang vào tháng 9/1797 và Noryang tháng 11/1598, ông trúng đạn và qua đời khi đang chỉ huy hải quân đánh Nhật.
Trịnh Thành Công (1624 – 1662): Ông là tướng nhà Minh cũ không chịu theo nhà Thanh nên trở thành cướp biển ra chiếm đóng ở Đài Loan và hoành hành trên biển suốt 1 thời gian dài. ÔNg đánh chiếm đảo Đài Loan từ tay người Hà Lan và dùng làm căn cứ kháng chiến. Sau khi ông qua đời con cháu ông lại đàm phán với nhà Mãn Thanh và đầu hàng. Lực lượng cướp biển dưới trướng ông về sau được Quang Trung – Nguyễn Huệ thu dụng làm lòng cốt xây dựng hải quân Tây Sơn hùng mạnh về sau.
Khang Hy (1654 – 1722): Ông và vị vua đầu tiên của triều đại nhà Thanh tại Trung Hoa sau khi nhà Mãn Châu đánh bại nhà Minh sau nhiều năm chiến tranh. Nhà Thanh sau đó đã bành trướng trở thành quốc gia lãnh thổ rộng lớn chỉ kém giai đoạn Mông Cổ trước đây 1 chút.
3. Bước vào kỉ nguyên thuốc súng (1490 – 1625)
Châu Âu tiếp tục chiến đấu không ngừng, chủ yếu do 2 phe là Công giáo và Tin lành, còn lại là các cuộc nội chiến giằng co với nhau. Nhờ vậy kinh nghiệm và khả năng chiến đấu của Châu Âu rất cao và thử nghiệm nhiều các đánh, chiến thuật và chiến lược khác nhau, cũng như áp dụng các loại vũ khí khác nhau vào chiến đấu. Cuộc chiến tại châu Âu cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi quá trình xâm chiếm thuộc địa Châu Mỹ của các quốc gia này. Giai đoạn này chi phí cho chiến tranh tăng vọt do sử dụng nhiều vũ khí nóng hơn và chi phí tốn hơn nhiều so với các vũ khí lạnh trước đây.
Giai đoạn này chứng kiến người Tây Âu dùng rất ít quân nhưng chinh phục được các đất nướng thuộc địa có quân số cực kỳ đông đảo nhưng sử dụng vũ khí thô sơ và chiến thuộc yếu kém. Họ không biết cách làm thế nào thích ứng lại với vũ khí súng của phương tây dù áp đảo hoàn toàn lính tây Âu về mặt quân số. Cuộc chiến Pháp – Tây Ban Nha với chiến thắng về Tây Ban Nha giai đoạn này cũng nhiều ấn tượng. Hải quân Tây Ban Nha từng thống trị mặt biển đã dần mất ưu thế trước sự trỗi dậy của hải quân Anh, và sau đó Anh thay thế trở thành lực lượng thống trị mặt biển suốt mấy thể kỷ sau đó.
IV. Vua chúa và cách mạng (1660 – 1850)
Giai đoạn này xuất hiện nhiều nhà cầm quân kiệt suất như quận công Marlborough, Frederick Đại Dế, George Washington và Napoleon Bonaparte là những người xuất hiện làm thay đổi lịch sử nhân loại và có tầm ảnh hưởng lớn lao đến tiến trình lịch sử thế giới. Giai đoạn này, quân tại Tâu Âu bắt đầu được chính quy tập trung hóa, các đất nước cũng bắt đầu chế độ quân chủ tập quyền cao độ hơn so với trước kia. Các vị vua vẫn tham gia trực tiếp trên chiến trường và tham gia trực tiếp các trận đánh nhưng đã ít đi. Đến cuối giai đoạn hầu như chỉ còn Napoleon Đại Đế là còn làm vậy.
1. Châu Âu thời kỳ vua Louis XIV (1660 – 1720)
Giai đoạn này quân đội Pháp lớn mạnh và ông có tham vọng thống trị châu Âu nên cũng thường gây chiến nhưng kết quả thường cũng không đi đến đâu. Các đối thủ của Pháp thường liên kết với nhau để chống lại vì lúc đó Pháp tỏ ra quá mạnh với từng nước riêng rẽ. Chiến tranh chủ yếu là vây hãm công thành, nhưng cũng có 1 số nhà lãnh đạo chiến đấu phong cách giàn quân đánh trận.
Quận công Marlborough (1650 – 1722): ông cũng là người có tài nhưng chưa có con đường tiến thân cụ thể dù có 1 số mối quan hệ tốt với hoàng gia. Mãi khi có nội loạn ông mới khẳng định được mình. Sau đó ông bỏ vưa Jame theo William xứ Orange lấy ngôi vua Anh. Sau đó nữ hoàng Anh Anne lên kế vị trở thành nữ hoàng. Marlborough được sủng ái và phong làm chỉ huy liên quân chống Pháp. Ông thuyết phục đồng minh thực hiện chiến thuật táo bạo để cứu Áo khỏi thất bị trước Pháp vào năm 1704. Sau đó ông có chọc thủng phòng tuyến Pháp nhưng cũng không đi tới đâu do liên quan đã chán chiến tranh. Marlborough là 1 người giỏi về mọi mặt. Ông là nhà quân sự toàn diện, xuất sắc trong mọi phương diện chiến tranh, từ hậu cần tiếp vận, huấn luyện binh sĩ, cho tới chiến thuật sa trường, mưu kế lừa địch.
Peter Đại Đế (1672 – 1725): Ông là vị Sa Hoàng hiện đại đã giúp cải cách nước Nga trở lên hùng mạnh trở lại sau nhiều năm yếu kém. Ông vi hành khắp châu Âu, thuê những người giỏi về để cải cách và hiện đại hóa nước Nga. Ông cũng giành thắng lợi trong trận chiến với Thụy Điển khi Thụy Điển xâm lược Nga vào 1708.
2. Chiến sự thế kỷ 18 (1720 – 1800)
Giai đoạn này chiến sự tương đối bình lặng, chủ yếu là sự nổi lên của Frederick Đại Đế của Phổ và các cuộc chiến nhằm xâm chiếm thuộc địa của các nước Tây Âu tiếp tục bùng nổ khắp mọi nơi. Họ đi mọi nơi để xâu xé thuộc địa nhằm thu thập tài nguyên về chính quốc. Giai đoạn này cũng chứng kiến cuộc chiến tranh Độc lập của Hoa Kỳ (1775)
Alexander Suvorov (1730 – 1800): Ông là 1 trong vài danh tướng vĩ đại nhất trong lịch sử nước Nga. Chiến thuật di chuyển thần tốc và đột kích mãnh liệt của ông được trui rèn trong nhiều cuộc chiến nhỏ trước đây như chiến trnah 7 năm, chiến tranh với Ba Lan và Thổ Ottoman. Sau đó là chiến tranh Nga – Thổ (1787 – 1792) với phong cách khác hẳn phong cách chậm chạp, ù lì của tướng Nga. Sau đó ông tiến vào Ba Lan đập tan nghĩa quân tại đây. Sau đó ông tiếp tục cầm quân đánh Pháp tại Italy vào năm 1799 và giành 1 số thắng lợi lớn khiến Pháp phải rút lui.
Frederick Đại Đế (1712 – 1786): Ông là vị vua của Phổ, 1 đất nước đang lên mạnh thuộc Đức ngày nay. Ông là nhà quân sự nổi danh nhất ở giữa thế kỷ 18. Ông tham gia quân đội từ sớm và tham gia các chiến dịch quân sự cùng 1 số tướng tài ba khi đó. Ông lên ngôi vua Phổ vào tháng 6/1740. Sau 6 tháng, ông bắt đầu đi chinh phục bằng các cuộc tấn công Silesia của Áo, sau đó ông thắng liên minh Áo – Saxon. Sau thất bại, Áo liên minh với Pháp và Nga để tấn công Phổ trả thù. Frederick bèn gây chiến với Saxony trước và cuộc chiến 7 năm diễn ra sau đó. Frederick giành 2 chiến thắng chiến lược và liên quan thua tan tác. Nhưng Phổ cũng tiêu hao hết quân và phải tuyển mộ lính mới chất lượng kém hơn, ông vẫn chủ động tấn công và thua tan tác sau đó, với 50k lính đi chỉ còn 3k về. Sau đó Nga rút quân nên liên minh giải thể Phổ được cứu. Dù là nhà cầm quân giỏi, nhưng ông lại kém về ngoại giao và không có tầm nhìn chiến lược lâu dài.
George Washington (1732 – 1799): Ông là tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ông tham gia quân đội từ năm 22 tuổi và chiến đấu trong các cuộc chiến với người da đỏ. Sau đó ông giải ngủ và lấy vợ vui thú điền viên. Khi chiến tranh giành độc lập nổ ra, ông là đại diện của tiểu bang Virginia trong quốc hội lục địa 1. Và họ bầu Washington làm chỉ huy lục địa quân vì không ai xứng đáng hơn ông lúc đó. Cách cầm quân của ông là chỉ cần giữu quân không thua đánh lâu dài, trong khi quân Anh cần đánh nhanh thắng nhanh vì họ ở xa chính quốc. Sau khi cán cân lực lượng nghiêng về Hoa Kỳ, Pháp quyết định gửi quân giúp đỡ Hoa Kỳ đánh Anh. Năm 1781, Hoa Kỳ thắng trận quyết định tại Yorktown. Năm 1783, chiến tranh kết thúc với việc Anh thất bại rút quân, Washington được bầu làm tổng thống đầu tiên năm 1789
3. Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoleon (1792 – 1815)
Cách mạng Pháp nổ ra sau đó đã kích động chiến tranh trong toàn cõi châu Âu. Ban đầu là các cuộc tấn công để lập đồ nền cộng hòa Pháp khôi phục chế độ quân chủ, sau đó là tới Pháp chủ động tấn công các nước châu Âu với mọng bá quyền châu Âu của Napoleon. Giai đoạn này gọi là Thời kỳ Napoleon vì ông là người vĩ đại và chói sáng nhất lịch sử giai đoạn này.
Napoleon Bonaparte (1769 – 1821): Ông là vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Chưa có vị tướng nào thắng nhiều trận trong 1 thời gian ngắn đến như vậy so với Napoleon. Ông từ 1 quý tộc nghèo tại dảo Corse dần dần qua những lần binh biến cách mạng Pháp đã dần leo lên vị trí tướng lĩnh trẻ bậc nhất nước Pháp khi đó. Sau đó ông nhận nhiệm vụ đánh Ai Cập và chiến thắng vẻ vang dù quân ông bị kẹt lại Ai Cập do đường biển bị Đô đốc Nelson phong tỏa. Khi về Paris, ông tham gia đảo chính và thành công trở thành Tổng tài thứ nhất, rồi tiếp tục trở thành Vua của Pháp. Ông liên tục thực hiện các chiến dịch và thành công liên tiếp đưa ông lên đỉnh cao sự nghiệp khi tất cả các nước châu Âu (trừ Anh) đều đã bị ông đánh bại và phải nghe lời ông. Nhưng vì không biết điểm dừng ông đã sa lầy trong cuộc chiến với Nga năm 1812 và quân đội bị thiệt hại nặng nề (khoảng 0,5 triệu quân) nên đã không gược nổi với sự phản công của liên quân các nước. Ông bị đi đầy sau đó trốn trở lại Pháp nắm quyền và đánh thêm trận Wateloo nhưng vẫn thất bại và bị đi đầy và chết trên đảo bị đầy xa xôi.
Quận công Wellington (1769 – 1852): Đây là đối thủ đầy kinh nghiệm và Napoleon thất bại trước vị tướng nước Anh này trong trận Wateloo. Trước đó, Wellington đã thành công trong các cuộc chiến ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đẩy quân Pháp khỏi bán đảo Iberia. Nhờ chiến thắng Wateloo ông được coi là anh hùng dân tộc Anh, là 1 người hiếm hoi thắng được Napoleon trên chiến trường.
4. Hải chiến (1680 – 1830)
Giai đoạn này Anh đã là bá chủ mặt biển và không có đối thủ. Các cuộc chiến hầu như chỉ 1 chiều với việc các nước đều bị Anh đánh bại. Napoleon cũng từng cố gắng xây dựng hạm đội hải quân đối đầu Anh nhưng đều thất bại.
Horatio Nelson (1758 – 1805): ông là vị Đô đốc nổi tiếng nhất của Anh và là người ảnh hưởng lớn lao tới toàn bộ hải quân các nước trên thế giới sau đó. Các hạm đội hải quân đều học tập cách đánh của Nelson. Ông thắng 1 số trận lớn như trận với Tây Ban Nha, trận sông Nile với Pháp năm 1798, trận Copenhagen năm 1801, sau đó là trận đập tan liên hạm Pháp – Tây Ban Nha năm 1805, trận chiến này Nelson tử trận do trúng đạn.
5. Chiến tranh châu Mỹ (1790 – 1850)
Giai đoạn này, các vị anh hùng dân tộc, các nhà cách mạng và giải phóng dân tộc ở châu Mỹ nổi dậy chống lại chế độ thực dân để giành độc lập cho đất nước mình. 1 số nhà cách mạng Nam Mỹ như Jose De San Martin, Simon Bolivar, cũng như việc Mỹ chiến tranh chống lại Anh khi nước này quay lại đánh Mỹ.
V. Đế quốc bành trướng (1850 – 1914)
Chiến tranh giai đoạn này tiếp tục biến đổi khi vũ khí nóng ngày 1 hoàn thiện hơn và có tác động lớn tới các chiến dịch. Kỵ binh thuần túy ngày càng mất đi tác dụng trên chiến trường, pháo binh và bộ binh ngày càng được ưu tiên hơn. Ngành điện tín ra đời giúp việc chỉ huy quân đội và thông tin trở nên dễ dàng hơn nhiều so với trước đây.
1. Chiến tranh Châu Âu (1849 – 1880)
Giai đoạn này, Phổ phát triển ra súng kim hỏa với tốc độ bắn nhanh gấp 5 lần súng hỏa mai kiểu cũ. Việc dùng kỵ binh tấn công trở nên lạc hậu và kém hiểu quả, nướng quân vô ích từ giai đoạn này trở đi. Quân Phổ sau hiện đại hóa đã đi đầu trong việc xây dựng lực lượng tham mưu hùng mạnh. Phổ trở thành nước đứng đầu châu Âu thay thế vai trò của Pháp trước đây.
Helmuth Von Moltke lớn (1800 – 1891): ông là tổng tham mưu trưởng quân đội Phổ. Vị trí này trước đây ít được để ý và hầu như các nước chưa biết đến. Sau thành công vang đội và sự lớn mạnh nhanh chóng của Phổ về mặt quân sự các nước mới bắt đầu áp dụng chế độ tham mư như Phổ. Ông nắm quyền tổng tham mưu trưởng từ năm 1857. Tới 1864, Phổ giao chiến với Đan Mạch và lần đầu Moltke cầm quân và thắng lớn. Năm 1866, ông tiếp tục chiến thắng Áo, và tới 1870 thì thắng Pháp. Đế quốc Đức với lòng cốt là Phổ đã vươn lên thống trị châu Âu sau đó.
Otto Von Bismarck: Ông là thủ tướng của Phổ vào năm 1862 và đứng sau Moltke và chỉ đạo các trận chiến để đưa Đức thành cường quốc số 1 châu Âu. Sau chiến thắng Áo năm 1866, Phổ thành lập được liên bang bắc Đức, sau khi thắng Pháp năm 1870, miền nam Đức cũng theo về. Quốc gia Đức chính thức ra đời từ năm 1871, ông giữ chức thủ tướng tới năm 1890. Ông muốn phát triển ổn định nên không định lấy 2 vùng Alsace và Lorraine của Pháp, nhưng Đức vẫn lấy và làm Pháp căm thù về sau lại xảy ra chiến tranh.
2. Nội chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865)
Cuộc chiến này là 1 cuộc chiến lớn với hơn 40 trận lớn nhỏ, với khoảng 4 triệu lính tham dự trong suốt cuộc chiến này. Chiến tuyến trải dài từ Missisippi tới Maryland, các tướng lĩnh hầu hết đều chưa có kinh nghiệm chiến tranh thực tế mà đều học lý thuyết từ Westpoint ra. Trận chiến ban đầu khá hỗn loạn, quân số ít, sau đó các bên tổng động viên quân số tăng dần nhưng chiến đấu kiểu dân binh thiếu hiệu quả. Cuối cùng nhờ sự áp đảo về kinh tế mà miền Bắc giành chiến thắng trước liên minh miền Nam đòi ly khai. Tổng số thiệt hại khoảng 60k quân trong giai đoạn này cho cả 2 bên.
Robert E.Lee (1807 – 1870): Ông là tổng chỉ huy quân miền Nam trong nội chiến. Khi nội chiến nổ ra ông chọn theo phe miền Nam vì ông cũng đang sở hữu nô lệ và không đồng ý việc bãi bỏ chính sách nô lệ của chính phủ. Ông là nhà cầm quân tài năng táo bạo. Nhưng miền Nam kinh tế yếu kém nên không duy trì được trước sự tấn công tiêu hao của miền Bắc nên phải đàu hàng vào năm 1865.
Ulysses S.Grant (1822 – 1885): ông cũng tốt nghiệp Westpoit như tướng Lee, cũng từng tham gia chiến tranh nhỏ sau đó giải ngũ do nghi nghiện rượu và sống cuộc sống làng nhàng. Chiến tranh nổ ra ông quay lại quân đội, sau khi các người tiềm nhiệm của ông không chịu chiến đấu thì bị cắt chức và ông lên thay, chiến thuật tấn công và làm tiêu hao sinh lực quân miền Nam của ông đã giành thắng lợi khi miền Nam không có đủ tài chính duy trì chiến tranh và phải đầu hàng sau đó.
Abraham Lincoln: Ông là vị tổng thống Hoa Kỳ khi đất nước chuẩn bị bước vào nội chiến. Ông lúc đó chỉ là luật sư và chưa từng tham gia chiến tranh bao giờ, nhưng đã nhanh chóng bắt kịp cuộc chiến. Dù đốc thúc các tướng lĩnh chiến đấu nhưng ban đầu tướng miền Bắc hầu như không có kinh nghiệm thực chiến mà chỉ ngồi bán giầy trước kia rất ngại ra chiến trường và bị nép vế. Mãi sau khi Grant làm tổng chỉ huy tình thế mới bắt đầu thay đổi, chiến tranh vừa kết thúc thì Lincoln bị ám sát và qua đời.
3. Hải chiến trong kỉ nguyên hơi nước (1850 -1914)
Giai đoạn này Anh vẫn thống trị mặt biển nên các trận đánh không mấy diễn ra. Nổi tiếng nhất là chiến tranh Nga – Nhật năm 1904 với sự hiện đại hóa mạnh về quân sự của Nhật Bản và dần vươn lên cường quốc thế giới sau giai đoạn Minh Trị Duy Tân của họ thành công. Hoa kỳ, Đức cũng dần vươn lên thành lực lượng hải quân mạnh trên biển nhưng nhìn chung chưa có đối thủ nào tương xứng với Anh.
Togo Heihachiro (1848 – 1934): ông là đô đốc Nhật Bản và đã có công lớn hiện đại hóa Nhật Bản về mặt quân sự đặc biệt là hải quân Nhật Bản. Ông có thời giant u nghiệm tại Anh năm 1870 và rất hâm mộ phong cách hải quân Anh và về học theo áp dụng cho Nhật Bản. Trong trận chiến Nga – Nhật ở cảng Lữ Thuận năm 1904, Nhật đã có chiến thắng vang dội trước hạm đội Baltic của Nga và chiếm giữu được quần đảo mà giờ đây 2 nước vẫn còn đang tranh giành nhau.
VI. Những nhà cầm quân hiện đại (1914 – nay)
Giai đoạn này diễn ra 2 cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại và hầu như xảy ra kịch liệt nhất tại khu vực châu Âu. Hầu hết các quốc gia đều tham gia vào với sự tích cực của Đức – Pháp – Anh – Nga và sau đó là Mỹ. Các tiến bộ khoa học và kỹ thuật quân sự cao đã làm chiến tranh thay đổi với sự biến mất của kỵ binh và thay thế bằng lính xe tăng. Tướng lĩnh chỉ huy hầu như ở xa chiến trường và quân đội ở cách khá xa nhau không như giai đoạn trước đây đánh thường là giáp lá cà. Phương tiện liên lạc tiên tiến xuất hiện với điện đàm, điện thoại truyền tin xa. Giai đoạn về sau các hệ thống chiến tranh ngày càng tân tiến hơn với sự vượt trội về nghiên cứu quân sự của Mỹ và trở thành siêu cường số 1 độc bá Toàn cầu.
1. Thế chiến I (1914 – 1918)
Giai đoạn này vẫn ảnh hưởng của quá khứ nên chiến tranh vẫn sử dụng bộ binh và kỵ binh với lính xung phong chiếm chiếm lũy là chủ yếu. Việc này đánh dấu việc thiệt hại rất lớn về con người trên chiến trường và thường các cuộc chiến kết thúc với 1 lực lượng lớn quân đội các bên bị tiêu diệt dưới hỏa lực địch. Cuộc chiến này diễn ra với 2 phe, 1 bên là Đức – Áo – Hung đánh phía bên kia là Nga – Pháp – Anh và sau đó là Mỹ cũng tham gia vào phe Pháp – Anh. Ban đầu chiền tranh rất trì trệ và nướng quân, sau đó Nga rút lui và Hoa Kỳ thế chỗ ở liên minh, cùng với sự xuất hiện của xe tăng và máy bay nên chiến trường bắt đầu thay đổi và kết thúc được chiến tranh chiến hào sa lầy trước đó.
Douglas Haig (1861 – 1928): Vị tướng trầm lặng ít nói và là vị tướng Anh chỉ hủy liên quân tới thắng lợi trước quân Đức trong thế chiến I. Tuy nhiên, phong cách chiến đấu của ông quá bạo liệt đã làm quân lính thiệt hại rất lớn nhân lực trên chiến trường. Ví dụ như trận sông Somme lính Anh thiệt hại tới 58k quân và cuối cùng giành thắng lợi trong 100 ngày tổng tấn công.
Ferdinand Foch (1851 – 1929): Ông là tổng chỉ huy quân đội Pháp trong chiến tranh, Pháp đã cầm cự được với Đức trong 4 năm và sau đó phối hợp với liên quân phản công lại Đức thành công và buộc Đức phải ký hiệp ước hòa bình với sự mất ngôi của vua Đức.
John J.Pershing (1860 – 1948): Tổng tư lệnh quân Hoa Kỳ, ban đầu quân Mỹ mãi tới năm 1917 mới tham chiến thay Nga và họ đánh khá kém do toàn lý thuyết quân sự ở Westpoit mà không có sự thực hành. Họ đánh bắt chước quân Anh và thiệt hại lớn với khoảng 120k quân thương vong sau chiến tranh. Nhìn chung quân Hoa Kỳ không có gì đặc sắc trong giai đoạn này cũng như các vị chỉ huy của họ.
Erich Ludendorff (1865 – 1937): Ông thực tế là tổng tham mưu trưởng của quân đội Đức và điều hành mọi việc trong chiến tranh thế giới thứ I. Ông cũng có nhiều trận đánh táo bạo và thành công trong giai đoạn đầu chiến tranh khi đánh Bỉ, Pháp. Sau thành công mặt trận phía Đông đánh bại Nga và Nga phải ký kết hiệp ước hòa bình, ông tập trung sang mặt trận phía Tây đánh Pháp vốn bị sa lầy nhưng không dứt điểm được Pháp trước khi Hoa Kỳ tham chiến và sau đó bị phe đồng minh phản công thành công và thất bại buộc phải từ chức sau đó.
2. Thế thời hỗn loạn (1913 – 1939)
Giia đoạn này nhiều cuộc xung đột nổ ra ở quy mô nhỏ, các cuộc chiến giành độc lập của các cuốn gia cũng bùng nổ. Các nước lớn thì ký hiệp ước hòa bình sau thế chiến và áp đặt nhiều điều khoản khắc nghiệt lên Đức làm nước này bắt đầu bùng nổ chũ nghĩa quốc gia cực đoan và sau đó là phong trào Quốc xã ở Đức lên nắm quyền. Bên cạnh đó là sự nắm quyền của giới sĩ quan lục quân – hải quân Nhật và hình thành đế quốc Phát xít Nhật, và chế độ phát xít tại Italy của Mussolini. Các nước phương tây cũng tấn công triều đình Mãn Thanh Trung Quốc và xâu xé đất nước này khi triều đình Mãn Châu sụp đổ và các thế lực cát cứ tại Trung Quốc bùng nổ với sự ra đời Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Giai đoạn này nối đánh cũng thay đổi lớn với việc áp dụng chủ yếu chiến lược xe tăng, máy bay ném bom các thành thị và các mục tiêu chiến lược. Nhưng Đức vẫn là nước có nhiều tướng lĩnh và lối đánh tốt nhất trong các nước dù họ thua trong cuộc chiến với quân đồng minh. Các chỉ huy tập trung vào tấn công là chính và ít coi trọng việc phòng thủ. Như quân Pháp lập phòng tuyến phòng thủ trong chiến tranh thế giới thứ II đã bị Đức đánh bại hoàn toàn trong chỉ 6 tuần.
Mustafa Kemal Ataturk (1881 – 1938): Ông là vị tướng tài ba và là nhà sáng lập nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại sau khi đế quốc Ottoman sụp đổ. Ottoman khi đó là đồng minh của Đức ở phe thau trận và bị nhiều điều ép buộc cũng như bị Hy Lạp xâm chiếm 1 phần lãnh thổ và chế độ quân chủ Ottoman bị giải thế. Ông đã đứng ra làm tổng thống đầu tiên và sau đó chiếm lại được phần đất của Thổ Nhĩ Kỳ bị Hy Lạp chiếm đóng sau thế chiến I.
Tưởng Giới Thạch (1887 – 1975): ông là 1 nhà lãnh đạo năng động, quân của ông từng vươn lên lãnh đạo Trung Hoa với phần lớn lãnh thổ và đánh dẹp được nhiều thủ lãnh cát cứ sau khi nhà Thanh sụp đổ. Nhưng sau khi quân Nhật tràn vào quân Tưởng thua đã phải rút về cố thủ ở Vũ Hán (1938), sau đó thất thủ lại chạy về Trung Khánh xa xôi. Sau khi đồng minh giải phóng Trung Quốc khỏi Nhật, nội chiến giữa Đảng Cộng Sản TQ và Quốc Dân Đảng nổ ra với sự thắng lợi của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch chạy ra chiến cứ Đài Loan và trở thành nhà độc tài cai trị hòn đảo này cho tới khi qua đời.
Francisco Franco (1892 – 1975): Ông là tướng Tây Ban Nha tham gia các cuộc chiến ở thuộc địa, sau đó là lãnh đạo phe Quốc gia Tây Ban Nha và giành chiến thắng trong nội chiến Tây Ban Nha và trở thành nhà độc tài suốt đời tại Tây cho tới khi mất.
Jozef Pilsudski (1867 – 1935): Ông liên minh với Áo đánh Nga trong cuộc chiến Thế chiến I nhưng thất bại. Sau thế chiến I, nước Ba Lan được lập lại và ông trở thành Quốc trưởng với nền độc lập mong manh. Cuộc chiến với Nga nổ ra năm 1920 và quân Ba Lan giành thắng lợi mới có thể có nền độc lập về sau cho Ba Lan. Trước đây nhiều thế kỷ Ba Lan đã bị Đức, Nga, Áo chia cắt và Ba Lan cơ bản có thù với Nga nhất trong các nước vì đã tấn công và tiêu diệt đất nước Ba Lan trước đây nên Nga luôn cương quyết phản đối xây dựng lại đất nước Ba Lan.
3. Thế chiến II (1939 – 1945)
Đây là cuộc xung đột lớn nhất trong lịch sử loài người từng biết đến. Chiến tranh diễn ra ở 2 mặt trần là mặt trận Châu Âu và Bắc Phi đối đầu với Đức và các đàn em phe trục (chủ yếu là Italy, ngoài ra có Áo và Ottoman); mặt trận thứ 2 là tại Thái Bình Dương, Đông Nam Á, Trung Hoa đối đầu với quân Nhật Bản. 3 vị anh hùng chính có ảnh hưởng lớn nhất gồm Erwin Rommel của Đức, George Patton của Hoa Kỳ và Georgi Zhukov của Liên Xô. Ban đầu quân Phát Xít thắng như chẻ tre, Hoa Kỳ không tham gia từ đầu, Pháp thì bị đánh bại dễ dàng trong có 6 tuần sau khi Đức tấn công, hầu hết các nước Châu Âu đều chịu khuất phục. Anh cũng bị Đức thả bom tấn công mạnh, chỉ có Liên Xô là cầm cự được và sau đó bắt đầu phản công mạnh mẽ đánh tan quân Phát xít về sau. Ngay cả khi chiến trường phía Pháp có quân đồng minh đổ bộ Đức cũng chỉ giữ 58 sư đoàn ở mặt trận đó, trong khi có tới 228 sư đoàn tập trung ở mặt trận đánh Liên Xô.
Erwin Rommel (1891 – 1944): Ông từng tham gia chiến tranh thế chiến I, sau đó giải ngũ rồi quay lại quân đội sau khi lọt mắt xanh của Hitle. Dù chưa có kinh nghiệm về xe tăng, ông cũng nhanh chóng làm sư đoản trường xe tăng số 7 và tấn công Pháp táo bạo đập tan Pháp nhanh chóng. Sau đó ông lên làm thống lĩnh quân đoàn Châu Phi đánh Lybia, xa mạc bắc Phi đánh Anh, đánh Ai Cập. Sau đó ông quay lại Châu Âu lo phòng thủ miền duyên hải Pháp chống quân đồng minh. Sau đó không bị nghi ngờ tham gia âm mứu ám sát Hitle nên đã tự sát.
Georgi Zhukov (1896 – 1974): Ông là vị tướng nổi tiếng nhất trong chiến tranh thế giới thứ II với vai trò quan trọng giúp Liên Xô và quân đồng minh lật ngược thế cờ trước quân Đức. Ban đầu ông tham gia quân Sa Hoàng Nga trong thế chiến I, rồi tham gia đảng Bolshevik và leo lên các lĩnh vực khác nhau. Ông tránh thoát được cuộc thanh trừng của Stalin và được giao cầm quân. Năm 1939, ông đánh thắng Nhật tại Mông Cổ, và được chỉ định là tổng tham mưu trưởng (tháng 1/1941). Ban đầu Stalin can thiệp nhiều vào đường lối chiến tranh nhưng Zhukov phản đối, sau đó ông toàn quyền chỉ huy quân đội đóng đánh với quân Đức tấn công ào ạt vào Liên Xô năm 1941. Tháng 12/1941, ông có công cứu Moscow khỏi rơi vào tay Đức, sau đó tháng 10/1941, Zhukov được phong phó tư lệnh tối cao (đứng sau Stalin) và được giao nhiệm vụ giải nguy cho Stalingrad. Zhukov đã thể hiện khả năng quân sự tuyệt vời tại trận này khi đã vô hiệu hóa quân Đức và buộc Đức phải rút lui sau đó, sau đó là đại thắng Kursk năm 1943, rồi chiến dịch Bagrantions, giải phóng Belarus, rồi tấn công giải phóng Berlinnawm 1945. Nhưng sau đó mâu thuẫn ông bị giáng chứng và sau đó có quay lại làm bộ trưởng quốc phòng 1 thời gian năm 1950.
George Patton (1885 – 1945): Ông là vị tướng của Hoa Kỳ khi đã tham gia 1 số cuộc chiến nhỏ ở châu Mỹ trước khi tới châu Âu. Ban đầu ông là lính kỵ binh, sau đó chuyển qua thiết giáp và rất giỏi lý thuyết quân sự, tốt nghiệp West Point. Ông tham gia mặt trận Tunisia và giành thắng lợi tại đây năm 1943. Sau đó quân đồng minh thực hiện chiến dịch D Day, và đánh chiếm Normandy năm 1944 rồi đánh thẳng tới Đức sau đó giành thắng lợi. Ông được phong tướng 4 sao vào thagns 4/1945. Ông làm người đứng đầu chính quyền ở Bavaria nhưng nhanh chóng bị cắt chức do đề xuất tái sử dụng đảng viên Đảng Đức Quốc Xã.
Dwight D. Eiisenhower (1890 – 1969): Ông tốt nghiệp học viện West Point năm 1915, sau đó làm trợ tá cho tướng Douglas MacAthur và đeo lon thiếu tá suốt 16 năm không có gì nổi bật. Đột nhiên ông lọt mắt xanh của tổng tham mưu trưởng quân Mỹ tướng George C. Marshall và năm 1942 được chọn là chỉ huy lực lượng mỹ tại châu Âu. Ông cũng thành công trong các chiến dịch bắc Phi, giám sát đổ bộ quân ở Sicily đánh chiếm Italy, ông trở thành tư lệnh tối cao của lực lượng đồng minh. Sau thế chiến, ông là tư lệnh tối cao đầu tiên của NATO, trở thành tướng 5 sao của Hoa Kỳ (Hoa Kỳ trong lịch sử chỉ có 5 vị tướng 5 sao), rồi thành tổng thống Hoa Kỳ từ 1953 – 1961.
4. Hậu thế chiến II (1945 – nay)
Hậu chiến có 2 cuộc chiến tranh lớn là chiến tranh Triều tiên (1950 – 1953) và chiến tranh Việt Nam (1955 – 1975) mà đều có sự tham gia của Hoa Kỳ vào đó khi họ là siêu cường số 1 thế giới. Chiến tranh lạnh là giai đoạn chính từ 1945 – 1990 và chỉ chấm dứt sau khi Liên Xô sụp đổ. Các cuộc chiến chủ yếu rơi vào chiến tranh du kích né tránh hỏa lực mạnh của Hoa Kỳ. các cuộc chiến khác nhỏ hơn như tại vùng vịnh giữa Israel với các nước Ả Rập, hay 1 số cuộc chiến giành độc lập của Fidel Castro và Che Guevara. Chiến tranh trống khủng bố ở Iraq, Aghanistan,…
Mao Trạch Đông (1893 – 1976): Năm 1921, Đảng Cộng Sản TQ thành lập và Mao Trạch Đông là những người đảng viên đầu tiên. Do mâu thuẫn với Quốc Dân Đảng nên Đảng Cộng Sản TQ di chuyển về các vùng núi xa xôi, bị tấn công họ phải thực hiện cuộc Vạn lý trường chinh chạy đến tỉnh Thiểm Tây xa xôi (1934). Trong giai đoạn đó, Quốc Dân Đảng chống Nhật và bị đánh bại và suy yếu. Quân Đảng Cộng Sản lấy nông thôn làm căn cứ để kháng chiến trường kỳ và du kích. Sau khi Nhật thất bại, nội chiến nổ ra giữa Hồng quân của Đảng Cộng Sản với quân của Quốc Dân Đảng với phần thắng về phía Đảng Cộng Sản. Tháng 10/1949, nước Cộng hòa Trung Hoa ra đời đưa thanh thế Mao lên cao vút và là 1 trong những nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng nhất thế giới.
Fidel Castro (1926 – 2016): Ông là nhà cách mạng Cuba nổi tiếng, ông lãnh đạo những người nổi dậy lật đổ chính quyền của nhà độc tài Fulgencio Batista năm 1953 nhưng thất bại phải đi tù. Sau đó ông trốn tù sang Mexico, sau đó lại quay lại tiếp tục khởi nghĩa năm 1956 bất thành, sau đó rút lên vùng núi Sierra Maestra tiếp tục kháng chiến, người dân dần ủng họ ông và tới tháng 5/1958, cuộc tổng khởi nghĩa thành công và thắng lợi vào tháng 1/1959, nhà độc tài Batista phải chạy đi lưu vong. Sau đó Mỹ can thiệt tại trận vịnh Con lợn (tháng 4/1961) nhưng thất bại vì có Liên Xô can thiệp. Cuba từ đó được hòa bình độc lập.
Ernesto “Che” Guevara (1928 – 1967): Ông sinh ở Argentina và tham gia cách mạng tại nhiều quốc gia khác nhau từ Cu Ba, Congo, Bolivia. Ông tham gia các phong trào chống đế quốc Hoa Kỳ. Ông từng đảm trách nhiều vị trí quan trọng trong chính quền Cuba sau cách mạng. Ông phát triển lý thuyết chiến tranh cách mạng vào truyền bá nó rộng rãi. Năm 1965, ông rời Cuba lên đường đến các quốc gia nghèo để thắp sáng lý tưởng chiến tranh du kích giành độc lập cho các nước bị đế quốc chiếm đóng, đặc biệt là đế quốc Mỹ. Sự tuyên truyền của ông ở Congo không thành, ông quay về Nam Mỹ tới Bolivia nhưng cũng thất bại và bị thiệt mạng ở đây vào tháng 10/1967.
Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013): Ông là vị tướng vĩ đại nhất thời hậu chiến thế giới thứ II khi đã dẫn dắt quân dân Việt Nam đánh bại cả Pháp và Mỹ. Ông tham gia cách mạng từ sớm, lập ra Việt Minh và huấn luyện quân du kích đánh Pháp, Nhật trước thế chiến II. Khi Nhật đồng hàng đồng minh năm 1945, Việt Minh nhanh chóng cướp chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa với tuyên ngôn độc lập vào 2/9/1945. Ông Giáp làm bộ trưởng nội vụ chính phủ và tổng chỉ huy quân đội chính phủ lúc đó. Và trở thành Đai tướng đầu tiên của quân Việt Nam năm 1948. Khi Pháp quay lại chiếm Việt Nam, quân đội Việt Nam rút về vùng rừng núi phía bắc và tiến hành chiến tranh du kích. Sau 1 thời gian, 1 số trận đánh lớn bắt đầu được tiến hành như chiến tranh Biên giới (tháng 10/1950), Sau đó các trận ở đồng bằng sông Hồng (1951), các trận đánh là sự kết hợp của quân chính quy và quân du kích địa phương. Tới chiến dịch Hòa Bình (1951 – 1952) Pháp đã bắt đầu xu hướng thất bại trên chiến trường, và đỉnh cao là trận Điện Biên Phủ năm 1954 và Pháp phải ký vào hiệp định Geneve và rút quân khỏi Việt Nam. Nhưng sau đó, Mỹ bắt đầu đưa quân vào thay thế Pháp với lực lượng quân đội và cố vấn hùng hậu hỗ trợ cho chính phủ miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa). Năm 1959, quân Miền Bắc bắc đầu đưa vào miền Nam để tiến hành chiến tranh du kích giành độc lập cho miền Nam, các lực lượng tiếp vận và quân đội được vận chuyển qua con đường Hồ Chí Minh chạy qua Lào và Campuchia vào miền Nam. Tới năm 1964, quân miền Nam bắt đầu giành 1 số thắng lợi trong các trận đánh. Mỹ đang nỗ lực chống Cộng trên toàn cầu nên quyết định đổ quân lớn vào miền Nam Việt Nam và viện trợ hùng hậu cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Tới năm 1968, quân Việt Nam tiến hành tổng tấn công tết Mậu Thân, dù cả 2 bên thiệt hại lớn nhưng đã giành được chiến thắng chính trị lớn gây sứt ép buộc Mỹ phải rút quân do tình hình nhụt chí của người dân và chính khách Mỹ tại Mỹ về việc không có khả năng chiến thắng tại chiến trường Việt Nam. Sau đó, Mỹ buộc phải rút quân và quân Việt Nam giành chiến thắng trước quân Việt Nam Cộng Hòa và thống nhất đất nước vào 30/41975. Sau đó ông giữ nhiều vị trí quan trọng từ 1976-2009 rồi nghỉ hưu và qua đời năm 2013.

ShareTweetShare
nguyenminhhanh

nguyenminhhanh

Người đam mê đọc sách để phục vụ niềm đam mê công việc, kinh doanh của mình và hi vọng giúp ích được cho người khác điều gì đó.

Bài liên quan Posts

Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi

Tháng Mười 5, 2025
Thiên Hoàng Minh Trị – Donald Keene
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Thiên Hoàng Minh Trị – Donald Keene

Tháng Chín 14, 2025
Quân Vương – Niccolo Machiavelli
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Quân Vương – Niccolo Machiavelli

Tháng Bảy 20, 2025
Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc – Kim Byung Kook & Ezzra F.Vogel
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc – Kim Byung Kook & Ezzra F.Vogel

Tháng Sáu 27, 2025
Ngũ luân thư (Gorin No Sho) – Miyamoto Musashi
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Ngũ luân thư (Gorin No Sho) – Miyamoto Musashi

Tháng Mười Hai 4, 2022
Võ sỹ đạo – Linh hồn Nhật Bản  – Tác giả: Inazo Nitobe
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Võ sỹ đạo – Linh hồn Nhật Bản  – Tác giả: Inazo Nitobe

Tháng Mười Một 30, 2022
Bài tiếp theo
William O’Neil: Làm giầu qua chứng khoán.

William O'Neil: Làm giầu qua chứng khoán.

Tuyệt kỹ giao dịch bằng đồ thị nến Nhật – Steve Nison

Tuyệt kỹ giao dịch bằng đồ thị nến Nhật – Steve Nison

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu

Nguyen Minh Hanh

Học Tin học kinh tế tại National Economics University
Sống tại Hà Nội
Đến từ Hà Nội

  • Xu hướng
  • Bình luận
  • Mới nhất
Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Tháng Ba 27, 2021
45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

Tháng Mười Hai 19, 2020
Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Tháng Tám 28, 2020
Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Tháng Mười Một 8, 2020
Hiệu ứng dòng vốn rẻ

Hiệu ứng dòng vốn rẻ

26
Ups – Big Brown

Ups – Big Brown

23
Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

20
Quant Trading – Hoàng Tùng

Quant Trading – Hoàng Tùng

17
Lợi nhuận tốt (Good Profit) – Quản trị dựa trên thị trường và Cách tạo dựng một doanh nghiệp vĩ đại – Charles G. Kock (Chủ tịch kiêm CEO của Kock Industries Inc.)

Lợi nhuận tốt (Good Profit) – Quản trị dựa trên thị trường và Cách tạo dựng một doanh nghiệp vĩ đại – Charles G. Kock (Chủ tịch kiêm CEO của Kock Industries Inc.)

Tháng Ba 6, 2026
KOCHLAND – Đế chế KOCH

KOCHLAND – Đế chế KOCH

Tháng Hai 28, 2026
Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ – Vanderbilt – T. J. Stiles

Tài phiệt đầu tiên của nước Mỹ – Vanderbilt – T. J. Stiles

Tháng Hai 28, 2026
The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

The House of Morgan – Gia tộc Morgan – TITAN – Ron Chernow

Tháng Một 25, 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Call us: +84 9

© 2020 Nguyenminhhanh.com

Không kết quả
Xem tất cả kết quả
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác

© 2020 Nguyenminhhanh.com