Thứ Năm, Tháng Một 15, 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Review sách
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Review sách
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Review sách
Không kết quả
Xem tất cả kết quả
Home Review sách Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Chính trị thế giới sau năm 1945 – Peter Calvocoressi

Chính trị thế giới sau năm 1945 – Peter Calvocoressi

nguyenminhhanh bởi nguyenminhhanh
Tháng Tư 19, 2021
in Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo
Thời gian đọc:167phút
0
Chính trị thế giới sau năm 1945 – Peter Calvocoressi

Chính trị thế giới sau năm 1945 – Peter Calvocoressi
Cuốn sách bao hàm toàn bộ thời gian 50 năm kể từ sau thế chiến thứ II. Nửa thế kỷ này là thế kỷ của chiến tranh lạnh. Chiến tranh lạnh là 1 hiện tượng hết sức phức tạp. Nó được tiến hành với những ngôn từ hùng biện và mạnh mẽ của hệ thống đã nêu ra, nhưng phần nhiều không xác đáng bằng những vũ khí có tính hủy diệt khủng khiếp chưa từng có, mà xét chặt chẽ về mặt quân sự thì vô dụng. Chiến tranh lạnh có gốc rễ từ sự khôn tin nhau được khuếch đại bởi những hiểm lầm toàn tính sai, thành 1 nỗi sợ hãi quá mức, nó là thủ phạm thực sự của chiến tranh lạnh. Mỹ và Liên Xo chia rẽ sâu sắc nhưng thật sự không có ai có ý định tấn công đối phương mặc dù ai cũng sợ đối phương gây chiến. Vấn đề tiếp theo là việc các nước tiến hành giành giật tài nguyên (chủ yếu là dầu mỏ) ở các khu vực chiến lược quan trọng mà tập trung chính tại khu vực Trung Đông. Thứ 3 là chủ nghĩa dân tộc với việc coi nhà nước là trên hết quan trọng hơn sự hợp tác quốc tế.
I. Quyền lực và trật tự thế giới
1. Các siêu cường quốc
Chiến tranh lạnh: Các giai đoạn đầu tiên
Chiến tranh lạnh không có sự khởi đầu và kết thúc cụ thể. Nó cũng không hẳn có kẻ thằng người thua. Sự khác nhau về mặt lịch sử, chính trị đã kích thích sự đối nghịch lẫn nhau và thiếu tin tưởng lẫn nhau. Bên này dè chừng bên kia và luôn lo ngại bên kia sẽ tấn công bên mình dù thật sự cả 2 đều không có ý định tấn công bên kia. 1 số cuộc chiến nổ ra ở khu vực châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên với phần thắng nghiên về phe Cộng Sản đã làm dấy lên sự lo ngại sâu sắc của các nước phương tây về chủ nghĩa cộng sản toàn cầu, và đỉnh cao là chiến tranh Việt Nam gây tổn thất khủng khiếp, nhưng nó không phải cuộc chiến có yếu tố quyết định với chiến tranh lạnh đang xảy ra khi đó. Trong khi đó, tại trung tâm châu Âu lại khá yên bình khi không có cuộc xung đột nào xảy ra giữa khối Đông Âu và Tây Âu.
Trọng tâm của chiến trnah lạnh ban đầu diễn ra tại Đức, khi mà lúc đó Liên Xô là những người tiến về Berlin trước và họ đã kiểm soát được 1 vùng rộng lớn của Đức. Trong khi phương tây với 3 nước chính là Mỹ – Anh – Pháp tiến vào sau nên 1 phần phía Tây họ giải phóng lại không có được Berlin của Đức. Cuộc chiến giành Berlin nổ ra khi Liên Xô muốn kiểm soát đức để loại trừ chủ nghĩa phát xít và đưa Đức theo con đường cộn sản, trong khi Tây Âu lại muốn đưa đức theo con đường dân chủ nghị viện. Tại Châu Á, sau khi Hoa Kỳ ném 2 quả boom nguyên tử xuống Nhật thì Nhật ngay lập tức đầu hàng và hầu như quân đồng minh giải phóng hết khu vực này trước khi Liên Xo kịp tới. Các khu vực được Liên Xô giải phóng được họ dựng lên các nhà nước thân Liên Xô, sau đó tiến hành tổng tuyển cử và dần chuyển đổi thành các đảng Cộng Sản, đảng Xã Hội nắm quyền và thân LX, trong khi phía Tây được dựng lên các nền dân chủ nghị viện thân phương Tây mà Mỹ là người cầm đầu. Các nước tham gia chiến tranh được nhận nguồn viện trợ 20b$ theo kế hoạch Marshall để tái thiết đất nước trong đó trừ Liên Xô không nhận chúng. Sau khi sử dụng vũ khí hạt nhân tại Nhật, cũng có luồng ý kiến nói nên dùng nó ở Trung Quốc để đánh tán Hồng quân Trung Hoa và từ đó gây lo ngại cho Liên Xo rất lớn về rủi ro bị Mỹ đe dọa hạt nhân và hàng loạt các nước đặt biệt các nước ở phe Cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc nhanh chóng trang bị cho mình vũ khí hạt nhân làm đối trọng với Mỹ và đó là điều được họ coi là cấp thiết. Vì vậy, các đề nghị về giải trừ vũ khí hạt nhân theo cuộc họp liên hiệp quốc năm 1946 do Baruch đề xuất đã không đi đến đâu, vì Mỹ có giải trừ thì họ vẫn có kiến thức sản xuất vũ khí hạt nhân sẵn có và có thể tái vũ trang bất cứ lúc nào nếu cần, trong khi Liên Xô, Trung Quốc chưa có sẽ bị động rất lớn.
Sau cái chết của Roosevelt, tổng thống Hoa kỳ, Truman lên thay và chính sách chống Liên Xô bắt đầu phát động từ giai đoạn đó. Từ đó Liên Xô cũng thực hiện các chính sách cứng rắn hơn và cao trào là trong cuộc chiến chia rẽ nước Đức của 2 cường quốc này sau đó. Ban đầu các cuộc bầu cử ít có sự can thiệp thì các nước hầu hết lựa chọn theo chế độ nghị viện Tây âu, nhưng sau đó làn gió Đông thổi mạnh và nhiều sự can thiệp hơn thì rất nhiều nước ở Đông, Nam và Trung Âu đã chuyển sang thân Liên Xô sau các kỳ bầu cử mà từ đó các đảng Cộng sản lên nắm chính quyền. Đức bị đền bù chiến tranh nhưng không có tiền trả, người Liên Xô đã dỡ máy móc mang về Liên Xô để lại 1 nền sản xuất yếu kém ở phía Đông nước Đức, trong khi người Tây âu hiểu rằng làm điều đó càng khó giúp họ thu được tiền. Ban đầu 1 cơ cấu chính phủ liên bang lỏng lẻo được đặt ra thống nhất cho nước Đức, nhưng chia rẽ về kinh tế thành 2 miền nhưng nó nhanh chóng sụp đổ. Năm 1947, sự ra đời của học thuyết Truman và kế hoạch Marshall đã hợp nhất các vùng được đồng minh phương Tây chiếm đóng lại với nhau và dưới sự quản lý của Mỹ và họ lập ra 1 hội đồng kinh tế quản lý khu vực bị chiếm đóng này. Họ bắt đầu chuẩn bị kế hoạch lập ra nhà nước Đức mới độc lập có chủ quyền rõ ràng thay cho tình trạng bị chiếm đóng vô chính phủ như giai đoạn từ 1945 – 1947. Nhà nước tây Đức phôi thai này được ra đời với sự viện trợ của Mỹ và sau đó họ phá gia đồi mác Đức. Sau đó, cuộc chiến tranh giành Berlin nổ ra, Nga lúc đó đang kiểm soát khu vực này, lực lượng Tây âu dùng máy bay để tiếp tế cho thành phố để đánh bật sự cô lập gần 1 năm của Liên Xô với thành phố Berlin để buộc người đức đầu thành phố này phải theo về phe Liên Xô. Sau đó, vùng phía Tây nước Đức đã thành lập nhà nước Cộng hòa liên bang Đức vào 20/9/1949 với Bonn là thủ đô, thành 1 nước độc lập, được tái vũ trang và thân thiện với phương tây. Sau chiến tranh Triều Tiên và chia cắt đấu nước này, Tây Đức đã được tái vũ trang lại để đóng góp vào khối NATO kiềm chế Liên Xô. Sau chiến tranh Triều Tiên, lo ngại âm mưu thống trị toàn cầu của lực lượng Cộng Sản lên cao trào và các liên minh chống Cộng lần lượt ra đời khắp nơi và lan ra toàn cầu thay vì tập trung ở châu Âu như trước kia. Giai đoạn này cũng chứng kiến 3 nước bị chia cắt lãnh thổ là Đức, Triều Tiên và Việt Nam với cùng 1 kịch bản 1 bên là Hoa Kỳ và 1 bên là Liên Xô – Trung Quốc. Sau khi hòa nhập được tây Đức vào NATO, Mỹ chấp nhận phần phía Tây trở thành 1 nước Cộng Sản thân Nga và hình thành Công hòa Dân chủ Đức. Năm 1952, các nước tiến hành rút quân khỏi Tây Đức và nước Đức trở thành độc lập và thành viên trong các hiệp ước với Tây Âu bình đẳng. Sau đó là sự nắm quyền của đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo, và tháng 5/1954, Tây Đức gần như là 1 thành viên chính thức của NATO bất chấp sự phản đối mạnh của LX.
Từ cái chết của Stalin đến Cuba
Sau giai đoạn dài nắm quyền, tháng 3/1953, Stalin qua đời và cuộc chiến ngầm tranh giành quyền lực diễn ra giữa người được Stalin lựa chọn kế vị với những lực lượng khác chống đối. sau 13 năm không tổ chức đại hội đảng Cổng sản Liên Xô, Đảng CS đã tổ chức đại hội lần thứ 19 và bắt đầu bầu ra các vị trí thay thế Stalin. Kết thúc là sự thỏa hiện với việc nắm chính phủ của Malenkov, trong khi Khrushchev nắm quyền kiểm soát Đảng và 2 nhóm này tiếp tục mâu thuẫn với nhau trong nội bộ Đảng. Tới năm 1955 thì Malenkov bị lật đổ và Khrushchev lên kiểm soát cả đảng và chính phủ tại Liên Xô và vị thế cầm quyền này được kéo dài tới tận 1964. Trong giai đoạn này Nga cũng đạt 1 số thành tựu như phóng vệ tinh vũ trụ lên không trung làm Mỹ giật mình về cuộc đau công nghệ, Nga cũng giải trừ quân bị 1 phần từ 5,8 triệu quân về 3,6 triệu quân. Khrushchev tuy nhiên tỏ ra là người hay thay đổi và có mong ước không có chiến tranh với Hoa Kỳ, mong muốn giải trừ quân bị để tập trung phát triển kinh tế nhưng các chính sách của ông càng về sau càng không được ủng hộ khi vào những năm 1963, 1964 2 lần ông đề nghị giảm quân nhưng đều bị phủ quyết và có lẽ là lý do chính cho sự ra đi của ông sau đó. Trong giai đoạn này, bức tường Berlin ngăn chặn Đông Đức và Tây Đức cũng được xây dựng để ngăn chặn dòng người bỏ khỏi Đông Đức chạy sang Tay Đức tạo ra làn sóng khủng hoảng ở Đông Đức khi đó nhằm cứu sự sụp đổ của chính quyền Đông Đức. Giai đoạn này cuộc khủng hoảng Cuba cũng nổ ra khi Nga đưa các đầu đạn tên lửa đe dọa đến nhiều thành phố của Mỹ tới Cuba, và còn vận chuyển các thiết bị hạt nhân đến đó và đe dọa sự ổn định của Mỹ, buộc Mỹ phải ra lệnh cấm vận hàng hải trên biển và các cuộc đàm phán buộc Nga phải rút các thiết bị quân sự này khỏi Cuba về nước.
Cuộc chạy đua vũ trang
Kế hoạch giải trừ vũ khí Baruch của Mỹ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của Liên Xô và không thể thực hiện được. Tới năm 1949, Liên Xô cũng đã có thể làm chủ được vũ khí hạt nhân và cơ bản kế hoạch Baruch biến mất trong im lặng. Sau đó năm 1952 – 1953, 2 nước lần nước sản xuất được bom nhiệt hạch (hydro) và cuộc cạnh tranh tiếp tục gay gắt hơn khi năm 1961 đầu tiên là Liên Xô đưa người lên vũ trụ và Mỹ đưa người lên mặt trăng. Các kho quân sự của Mỹ luôn nhiều hơn áp đảo so với Liên Xô nhưng họ vẫn luôn có sự sợ hãi mơ hồ với Liên Xô và liên tục cải thiện vũ trang mạnh mẽ. Các cuộc đàm phán giải trừ quân bị cũng không đi đến đâu khi Pháp và Trung Quốc từ chối việc bị kiểm soát vũ khí hạt nhân khi họ đang tích cực tự phát triển vũ khí hạt nhân cho bản thân mình để nhằm mục đích răn đe đối thủ. Các thỏa thuận giải trừ quân bị chỉ đạt được từng phần riêng lẻ. Các lực lượng giám sát việc giải trừ quân bị lại đa số là các điệp viên của các bên cài vào để tìm ra điểm yếu trong hệ thống phòng thủ của bên kia để khi cần có thể đánh 1 đòn chí mạng bẽ gãy sự kháng cự của đối phương. Vì vậy, các lực lượng quân sự thường được đưa ra các phương tiện di động như tầu ngầm hạt nhân, xe chở tên lửa, các chiến thuật luân phiên máy bay thường trực để giảm thiểu thiệt hại khi bị tấn công bất ngờ tới các địa điểm quân sự. Cuối cùng hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân được ký năm 1970, sau đó nhiều nước tham gia vào nhưng nó vẫn bị vô hiệu hóa 1 phần khi hàng loạt các nước khác cũng có vũ khí hạt nhân như Pháp, Trung Quốc, rồi tới Ấn Độ, Pakistan, Bắc Triều Tiên và các nước tiếp cận như Israel, Barazil, Argentina, …Trong khi đó, Mỹ – Liên Xô liên tục các các cuộc đàm phán giả trừ quân bị mà trọng tâm là các vũ khí chiến lược và lần lượt ký với nhau các hiệp ước SALT 1 (1972), SALT 2 (1979), nhưng bầu không khí chính trị tại Mỹ và Liên Xô cũng trở lên xấu hơn đáng kể đặc biệt khi Reagan lên làm Tổng thống Hoa Kỳ từ năm 1980 khi Reagan tỏ ra cực kỳ hiếu chiến và thù địch với Liên Xô. Chính sách này được lòng dân Mỹ nhưng không được lòng người châu Âu vì họ vẫn lo ngại mối nguy cơ từ Liên Xô khi mà không có thỏa thuận nào cụ thể. Thế bế tắc của giải trừ quân bị dần được phá vỡ khi Gorbachev lên nắm quyền tại Liên Xô và 2 nhà lãnh đạo Mỹ – Liên Xô gặp nhau năm 1985. Cả 2 nhận ra khi Liên Xô không đủ tài chính duy trì cuộc đua vũ trang và Mỹ thì đang tiến tới sự vỡ nợ. Họ nhận thấy cần phải thúc đẩy việc giải trừ quân bị để giảm gánh nặng lên nền kinh tế nước mình. Nhưng các cuộc đàm phán này sau khi léo lên hi vọng cũng không đi tới đâu. Mãi tới năm 1987 thỏa thuận giải trừ vũ hí lần đầu được ký kết khi Gorbachev chấp nhận nhiều điển khoản bất lợi cho Liên Xô. Sau đó 2 hiệp ước START I được ký năm 1991 giữa Gorbachev – Bush và START II được ký giữa Bush và Yeltsin. Các cuộc rút quân sau đó được diễn ra ở nhiều khu vực châu Âu và châu Á, phá hủy bớt các loại vũ khí trên đất liền và trên biển của bán bên được đưa ra. Sau khi khối hiệp ước Vacsava tan vỡ, NATO đã dần trở trành tổ chức không có mục tiêu rõ ràng từ hậu chiến tranh lạnh.
Sự suy yếu của nước Mỹ
Thập kỷ 80 là lúc các siêu cường suy yếu nhanh chóng đặc biệt là Liên Xô, trong khi Mỹ cũng suy sụp uy tín sau những thất bại ở chiến tranh Việt Nam và các chính sách kinh tế sai lầm trước đó để lại. Trên sân nhà của mình tại Trung và Nam Mỹ, Mỹ cũng dần mất kiểm soát khi các nước tuyên bố độc lập liên tiếp. Tại Trung Đông, Mỹ mất đồng minh thân cận nhất là Iran sau khi cách mạng hồi giáo nổ ra năm 1979. Lực lượng tại Châu Âu cũng bộc lộ mâu thuân giữa Mỹ với các nước tại đây đặc biệt với Pháp. Nhiều nước tại châu âu nổi lên xung đột với nhau như Thổ Nhĩ Kỳ tấn công Hy Lạp, Anh với Tây Đức và Ailen đụng độ với nhau trên biển,… Mỹ đã phải gánh chịu quá nhiều chi phí duy trì liên minh với châu Âu từ các gói vay hỗ trợ kinh té tới chi phí duy trì quân sự cho khối NATO, sau khi được các nước châu Âu chia sẻ kinh phí thì các nước không chịu tăng kinh phí quốc phòng lê càng làm uy tín của Mỹ suy giảm. NATO sau khi mất đi kẻ thù khi Liên Xô và các nước Trung và Nam Âu sụp đổ đã tiếp tục được duy trì và dần kết nạp thêm các kẻ thù cũ của họ vào là các nước theo chế độ Cộng Sản cũ tại châu Âu.
Hệ thống kinh tế của Mỹ được tin tưởng lớn và được thể hiện qua việc thiết lập ngân hàng thế giới, quỹ tiền tệ thế giới tại Bretton Woods với giả định đồng dolla thống trị và nơi cất trữ tài sản bị tan rã và sụp đổ khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ nổ ra từ 1973 – 1979. Các chính sách tài trợ bằn thâm hụt ngân sách và cắt giảm sản lượng để đánh bại lạm phát đã làm suy yếu vị trí độc tôn của Mỹ trong và hậu giai đoạn Reagan nắm quyền. Sau khi Reagan rời nhiệm sở, Mỹ từ chủ nợ lớn nhất thế giới khi cho cả thế giới vay sau chiến tranh thế giới II thành con nợ lớn nhất thế giới. Đồng USD giảm 1/3 giá trị của nó so với các đông tiền khác và kinh tế Mỹ suy yếu trầm trọng so với nhậu từ cuối những năm 80s. Liên Xô sụp đổ đã làm chính sách ngoại giao của Mỹ mất phương hướng, họ cũng không chắc chắn việc hệ thống tư bản hiện đại sẽ hoạt động như thế nào sau chiến tranh lạnh.
Sự tan rã của Liên Xô
Vấn đề của Liên Xô khác Mỹ khi họ hoạt động với tư cách 1 liên bang với nhiều sự khác biệt. Sau khi Khrushchev bị mất chức năm 1964, Leonid Brezhnev kế vị tới tận năm 1982 khi ông mất với sự trì trệ kéo dài. Tiếp theo là 3 đời tổng bí thư trong 3 năm rồi tới năm 1985 Mikhail Gorbachev lên nắm quyền. Khi đó, Liên Xo đã gần như mất quyền kiểm soát tuyệt đối với vùng Trung và Nam Âu, liên bang của họ cũng dần tan rã bởi sự yếu kém trong quản lý và thiếu thốn trang thiết bị, cung cấp lương thực, thực phẩm cho người dân của họ. Gorbachev là người thông minh, dũng cảm và lanh lợi về mặt chính trị đã bắt đầu tiến hành cải cách dưới ngọn cờ công khai và cải tổ. Đạo luật cải cách đầu tiên là cải cách kinh tế năm 1987 với việc bãi bỏ quy định về giá và 1 số thủ nghiệm với các ngành công nghiệp không phải là chủ chốt. Năm 1988, Gorbachev triệu tập đại biểu Xô Viết tối cao chỉ với 750 thành viên bầu cử từ các bên và tiến hành thanh lọc Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng Sản và tuyên bố ông lên làm Tổng thống Liên Xô. Ông cũng cho giải tán hội đồng bộ trưởng và thành lập hội đồng liên bang gồm ông là tổng thống Liên Xô và 15 vị tổng thống các nước cộng hòa. Tuy nhiên, năm 1990, ngoại trưởng Shevardnadze 1 đồng minh lớn trong cải cách từ chức đã làm quyền lực của Gorbachev suy giảm nhanh chóng cũng như lo ngại các vấn đề với KGB. Kế hoạch cải cách 500 ngày của Liên Xô gặp nhiều sự phán đối mạnh mẽ khi nó được đưa ra nhằm tư nhân hóa các cơ sở nhà nước. Việc hàng loạt nước cộng hòa thành viên đều rục rịch đòi ly khai càng làm cho tình hình trở lên rối loạn tại Liên Xô. Litva là nước Cộng Hòa đầu tiên tuyên bố ly khai khỏi liên bang Xô Viết vào năm 1990 sau cuộc bầu cử. Quân Liên Xô ngay lập tức tiến vào áp đặt phong tỏa nước Cộng hòa này.
Năm này, Boris Yeltsin cũng giành được ghế Tổng thống của Cộng hòa Nga và là nhân vật đối nghịch với Gorbachev. Năm 1991, cả 3 nước Cộng hòa vùng Baltic tuyên bố Độc lập, tiếp theo là Ukraina là nước Cộng hòa lớn thứ 2 trong liên bang Xô Viết cũng tuyên bố độc lập tách khỏi Liên Xô. Vùng Crime là nơi có cảng Sebastopol nơi có hạm đội biển đen với 300 tầu của Liên Xô đóng là nơi tranh giành của cả Nga và Ukraina, cuối cùng nước này chọn là 1 nước Cộng hòa tự trị nằm trong Ukraina. Ukraina sau đó đưa toàn bộ vũ khí hạt nhân của mình tới Nga phá hủy và nhận được sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ từ Nga, Mỹ và Pháp (nhưng điều này đã chấm dứt khi Nga đưa quân đánh chiếm Crime về sau). Các quốc gia tuyên bố độc lập từ Nga khác cũng gặp nhiều rắc rối khi di sản của Liên Xô vẫn còn quá lớn ảnh hưởng tới nền chính trị nước họ, đặc biệt các vấn đề sắc tộc đan xen và sự thất bại trong kinh tế và các chính sách thân Nga hay chính sách dân tộc chủ nghĩa của từng nước. Cộng động các quốc gia Độc lập (CIS) ra đời là bước đệm cho việc giải tán liên bang Xô Viết này. Sự thất bại của Gorbachev tiếp theo là ông làm mất uy tín của Đảng cộng sản và làm tan rã việc nắm quyền của Đảng cộng sản tại Liên Xô. Nhiều ké hoạch cải cách kinh tế được Gorbachev đưa ra nhưng đều loanh quanh và không đi tới đâu. Tháng 7/1991, các sỹ quan KGB đã tiến hành đảo chính lật đổ Gorbachev nhưng thất bại, nhưng đã làm lung lay tận gốc quyền lực và năm 1992, Gorbachev phải xin từ chức Tổng thống Liên Xô. Yeltsin, người giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tại Nga cũng không làm tốt được vai trò của mình trong cảnh rối ren của đất nước Nga khi đó, Yeltsin cũng cho giải tán Đảng cộng sản Nga sau khi giành thắng lợi trong bầu cử. Chính sách in tiền vô tội vạ dẫn tới lạm phát 4 chữ số, sản xuất bị phá hủy đã làm Yeltsin cũng mất uy tín trầm trọng tại Nga sau đó. Yeltsin cũng tích cực đẩy mạnh việc tư nhân hóa với tốc độ cực nhanh và giai đoạn này là giai đoạn hàng loạt nhà tài phiệt Nga ra đời sau đó khi thâu tóm được các cơ sở vật chất của nhà nước với giá rẻ mạt. Năm 1994, Nga đưa quân tấn công vào Chechnya nơi mà người dân tuyên bố độc lập nhưng thất bại càng làm giảm uy tín của Yeltsin. Sau đó là thất bại thảm hại trong việc điều hành kinh tế khi lạm phát năm 1994 là 50% – 1995 là 200% càng làm nền kinh tế kiệt quệ.
2. Nhật Bản
Lịch sử thời hậu chiến Nhật Bản là bài học thực sự với nền chính trị thế giới. Họ thất bại sau thế chiến, biểu tượng dân tộc Nhật Bản, Nhật Hoàng cũng bị phết truất. Nhưng chỉ sau 1 thế hệ, Nhật Bản đã lấy lại được vị thế và còn vươn lên thành cường quốc thứ 2 thế giới về kinh tế, họ xây dựng lại các ngành công nghiệp, lấy lại mức tăng trưởng thương mại và tái thiết lại hệ thống dự trữ tiền tệ. Chỉ có quân sự là họ vẫn chưa có vị thế tương xứng như vị thế kinh tế mà họ có. Nhật Bản phát triển mạnh công nghiệp tái thiết đất nước, nhưng họ lại thiếu hụt trầm trọng tài nguyên và bị phụ thuộc vào việc nhập khẩu chúng từ nước ngoài. Các cải cách được tướng McArthur giám sát cũng đạt nhiều thành tích tốt khi đồng minh (mà chủ yếu là Mỹ) và chiếm đóng Nhật Bản. Sau đó sự bùng nổ của chủ nghĩa Cộng Sản và chiến tranh Triều Tiên đã làm Nhật Bản được hưởng lợi lớn khi được miễn các khoản bồi thường chiến tranh và còn hưởng lợi từ chiến tranh ở khu vực châu á Thái Bình Dương sau đó. Cùng với tính kỷ luật, quyết tâm của nhân dân Nhật Bản đã hình thành nên 1 nền văn hóa tư bản chủ nghĩa hà khắc, đẩy những kẻ yếu vào góc tường nhưng đồng thời khuyến khích sự mạo hiểm và tầm nhìn xa trông rộng giúp nền kinh tế Nhật Bản bùng nổ mạnh mẽ sau đó.
Sau khi Truman tay thế McArthur tại khu vực Thái Bình Dương, chiến tranh Triều Tiên nổ ra và Nhật Bản cùng nhiều nước khác cùng ký hiệp ước hòa bình với Mỹ và Nhật Bản bị mất các phần lãnh thổ lớn mà nước này kiểm soát trước đây, nhưng bù lại Nhật Bản hưởng lợi về kinh tế và 1 hiệp ước cho Mỹ đóng quân và bảo trợ về mặt quân sự và đồng minh thân cận của Mỹ từ sau đó thay vì vị thế 1 nước thất bại sau chiến tranh phải trả bồi thường chiến phí. Việc chiếm đóng Nhật Bản chấm dứt vào năm 1952, từ đó Nhật Bản trở thành đồng minh trong phe chống cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, công luận Nhật Bản rất căng thẳng về vấn đề hạt nhân khi họ phải hứng chịu 2 quả boom nguyên tử trước đó và rất tức giận với chính phủ thân Nhật của mình.
Thập kỷ 60 bắt đầu chứng kiến sự tăng trưởng thần tốc của Nhật Bản với tăng trưởng hang năm >10% đã đưa nước này thành cường quốc kinh tế mới trong khối OECD. Nhưng họ lại thiếu hụt trầm trọng nguyên vật liệu cơ bản cung cấp cho sản xuất và quá trình công nghiệp hóa bùng nổ của mình. Họ bắt đầu đi ra làm ăn với Đài Loan, các nước Đông Nam Á, Úc, NZ để tìm kiếm tài nguyên trong khi vẫn dè dặt trong mối quan hệ với Trung Quốc. Sau đó là các chính sách viện trợ với các nước ASEAN như Việt Nam nơi mà Nhật Bản chiếm đóng ngày xưa với mục đích hỗ trợ phát triển. Nhật gặp 1 số cú sốc kinh tế khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ nổ ra vào những năm 1973, và sau đó là sự trừng phạt kinh tế từ Mỹ áp thuế lên hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản. Năm 1972, sau chuyến thăm Trung Quốc của Nixon, Nhật Ban ngay sau đó đã nối lại quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và tiến hành các bước đầu tiên xâm nhập vào thị trường rộng lớn này. Nội bộ đang LDP cũng liên tục sóng gió đấu đá, các lãnh đạo phần lớn già nua nhưng họ vẫn thực hiện các cải cách mạnh mẽ và thành công cho NB. NB khi đó thặng dư thương mại quá lớn với Mỹ và luôn bị chỉ trích và phải thực hiện các chính sách làm giảm thâm hụt với Mỹ. Nội bộ đang LDP cũng gặp nhiều vấn đề và bị chia rẽ sâu sắc khi nhiều thành viên ra đi lập đảng mới cạnh tranh lại. Cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra từ năm 1991 mà các chính phủ sau đó không thể làm gì để đưa nước Nhật tăng trưởng trở lại suốt nhiều năm sau đó khi mà khủng hoảng tài chính quá lớn trong hệ thống ngân hàng Nhật Bản và lan ra cả nền kinh tế nước này dù họ vẫn là vị thế cường quốc kinh tế thế giới.
3. Trung Quốc
Trung Quốc sau nhiều năm dưới sự trị vì của nhà Thanh, triều đại cuối cùng ở Trung Quốc đã suy yếu mạnh mẽ, sau đó là sự tham gia của các nước tư bản thực dân và chia nhỏ Trung Quốc ra và hệ thống trung ương tập quyền của nhà Thanh tan rã dần dần. Năm 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi đã đánh dấu sự chấm dứt của chế độ phong kiến và chế độ cát cứ đã xuất hiện ở Trung Quốc. Có rất nhiều nhóm tham gia vào việc này, nổi bật nhất là nhó của nhà cách mạng Tôn Trung Sơn, người không thật sự rõ ràng theo khuynh hướng nào. Ở ông có cả chủ nghĩa dân tộc, dân chủ và vừa theo xã hội chủ nghĩa. Ông mong muốn cải cách Trung Quốc với công cụ là Quốc dân đảng. Quốc dân đảng được lập tại miền Nam với thủ phủ là Nam Kinh, tại miền Bắc, các lãnh đạo quân phiệt ra đời các cứ các khu vực sau khi nhà Thanh sụp đổ đã làm khu vực phía bắc trở lên rối loạn. Lúc đó, Đảng cộng sản Trung Quốc cũng ra đời và thủ phủ ở Thượng Hải. Chỉ có khu vực miền Nam được Quốc dân đảng áp đặt hệ thống quản lý kiểu nhà nước mới tương đối an bình. Sau đó, Quốc dân đảng sử dụng chuyên gia Liên Xô làm cố vấn và liên minh với Đảng cộng sản, Tưởng Giới Thạch khi đó là người đứng đầu Quốc dân đảng và cũng đứng ra là người bảo hộ cho Đảng cộng sản TQ khi đó. Nhưng mâu thuẫn giữa những người cộng sản với Quốc dân đảng ngày càng lên cao và họ nổ ra chiến tranh nội bộ và chia rẽ. Năm 1931, quân Nhật Bắt đầu tấn công vào Mãn Châu, đảng cộng sản đại bại do sai lầm chiến lược của Mao Trạch Đông và rút về phía Tây xa xôi để bảo toàn lực lượng và nhường lại cuộc chiến cho Quốc dân đảng với Nhật Bản. Cuộc rút quân của Đảng cộng sản là cuộc trường chinh huyền thoại của họ, trên đường đi này Mao Trạch Đông dần lên nắm quyền và trở thành thủ lĩnh tối cao của Đảng cộng sản sau đó. Cách Mao đi tránh cách chiến tranh giai cấp vô sản kiểu Mác, cách mà là sự kết hợp của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản với sự phẫn nộ của tầng lớp nông dân. Mao tiến hành thành lập các Xô viết công nông nhỏ và thành lập quân đội nông dân ở vùng nông thôn và chờ đợi cơ hội quay trở lại thành phố.
Trong khi đó, quân Quốc dân đảng dẹp loạn quân phiệt thành công từ 1928 – 1929 nhưng sau đó thất bại nặng nề trước cuộc xâm lược của Nhật Bản và phải rút lui cố thủ khu vực phía Nam. Quân Quốc dân đảng lại trở lên hủ bại và chiến đấu kém nhiệt huyết để đưa đất nước TQ trở lại hùng cường. Trong khi lực lượng quân Cộng sản đã nhanh chóng lớn mạnh lên tới 100k quân từ nhóm tàn quân nhỏ trước đó và thực hiện chiến lược nông thông bao vây thành thị với ý chí chiến đấu cao và nhiệt huyết chống Nhật đã được lòng của nhân dân TQ hơn. Sau khi Nhật rút, cuộc nội chiến tiếp tục diễn ra tới tận năm 1949 sau khi Tưởng bị lật đổ và rút tàn quân ra cố thủ ở Đài Loan như cách vị vua cuối cùng của nhà Minh từng làm sau thất bại trước nhà Thanh.
Sự bành trướng của Trung Quốc trước đó luôn là nỗi lo thường trực với Nga và họ mong muốn TQ bị chia rẽ thay vì 1 chính phủ trung ương tập quyền hùng mạnh. Điều này cho thấy kể từ sớm khi Nga nhiều lần can thiệp tấn công vào vùng phía bắc Trung Quốc cũng như bảo trợ nhiều hoạt động chống phá tại các khu vực ngoại mông xa xôi nơi mà Nga có nhiều ảnh hưởng hơn TQ. Cuộc xâm lược của Nhật vào Trung Quốc diễn ra với sự kiềm chế từ 1932-1937, nhưng sau đó họ rời khỏi hiệp ước hải quân với Mỹ và Anh nên quyết định tổng tấn công Trung Quốc từ năm 1937 và cành đánh chiếm mạnh hơn sau khi châu Âu nổ ra chiến tranh từ 1939 và các nước tập trung vào chiến trường châu Âu. Từ năm 1940 Nhật bắt đầu mở rộng đánh chiếm cả khu vực Đông Nam Á. Sau đó vị tướng Hideki Toji, người chủ trương đánh Mỹ giành được ưu thế trong chính phủ Nhật và trở thành thủ tướng Nhật năm 1941 đã hướng nhật tới trận Trân Châu Cảng để đánh bật Mỹ khỏi khu vực viễn đông này. Điều này làm Mỹ lại có xu hướng thân thiết với Trung Quốc và mong muốn có 1 Trung Quốc thống nhất với các đường biên giới cổ xưa và có 1 chân trong Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (lúc đó Trung Quốc dưới sự chỉ huy của Tưởng Giới Thạch). Sự giúp đỡ ban đầu của Mỹ cho Trung Quốc ở vai trò là Mỹ giúp Quốc dân đảng như sau lại là thành toàn cho Đảng cộng sản TQ khi họ đánh bại Quốc dân đảng.
Sau khi Nhật đầu hàng, Mỹ tiến vào vùng Đông Bắc TQ và kiểm soát khu vực này, trong khi Nga tiến vào khu vực Mãn Châu đã cung cấp vũ khí, đạn dược cho quân của Đảng cộng sản và nội chiến nổ ra sau đó. Cuộc nội chiến chia cắt Trung Quốc này tương tự các cuộc chia cắt ở Đức, Triều Tiên và Việt nam. Nhưng Trung Quốc nhanh chóng được thống nhất 4 năm sau khi Đảng cộng sản trở lên vượt trội hơn và giành được thắng lợi trong nội chiến. Mặc dù có 1 số nỗ lực để 2 đảng này hình thành liên minh và bầu cử để Trung Quốc trở thành 1 nước dân chủ nhưng không thành công. Ngày 18/12/1949, TQ tuyên bố độc lạp và Mao trở thành nguyên thủ quốc gia chính thức của TQ. Sau đó quan hệ Mỹ – Trung nhiều va chạm nên sự công nhận chính quyền mới gặp nhiều khó khăn, đặc biệt vấn đề Đài Loan khi Mỹ quyết định dùng nó làm căn cứ quân sự tại khu vực để kiềm chế chủ nghĩa Cộng sản tại đây.
Trung Quốc và các cường quốc
9 tháng sau khi nước TQ mới được thành lập, chiến tranh Triều Tiên nổ ra khi mà Mỹ loại Đài Loan và Hàn Quốc khỏi vành đai bảo vệ, quân đội bắc Hàn với sự hỗ trợ từ Nga đã nhanh chóng tấn công qua vĩ tuyến 38 là nơi phân chia Nam – Bắc và chiếm thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Hội đồng bảo an LHQ nhanh chóng họp khẩn và tổ chức lực lượng đánh quân bắc Hàn với sự vắng mặt của Nga và cử tướng MacArthur là tổng chỉ huy liên quân, mà thực tế chủ yếu là quân Mỹ đang đóng tại Nhật Bản tham chiến với cuộc đổ bộ táo bạo vào Inchon và nhanh chóng đánh bật quân bắc Hàn và tiếp tục tiến quân truy đuổi qua vĩ tuyến 38 tấn công tới tận sát biên giới Mãn Châu. Cuộc chiến tưởng như kết thúc khi Nga chắc chắn không tham gia vào, nhưng đột nhiên Trung Quốc lo ngại Mỹ sẽ dùng bắc Hàn là bàn đạp để tấn công vào lục địa Trung Quốc nên đã đưa quân tấn công vào bắc Hàn đẩy lùi liên quân về lại sau vĩ tuyến 38 và họ tiếp tục tiến quân với nhiều thắng lợi. Tướng MacArthur xin sử dụng vũ khí hạng nặng, và còn đề xuất cả vũ khí hạt nhân nhưng bị Mỹ bác bỏ. Sau đó các cuộc đàm phán diễn ra và Trung Quốc rút quân về lại sau vĩ tuyến 38 và Đất nước Hàn Quốc tiếp tục bị chia làm 2 ở vĩ tuyến 38 như hiện trạng trước đó. Hiệp định ngừng bắn được ký vào năm 1954 và cho tới nay 2 đất nước Hàn Quốc vẫn luôn trong tình trạng chiến tranh mà chưa có 1 nền hòa bình chính thức. Trung Quốc rất quan ngại về Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á mà Mỹ lập ra bao gồm nhiều nước bao quanh Trung Quốc. 1 số cuộc tấn công của Trung Quốc nhằm chiếm lại Đàn Loan đều không thành công do sự can thiệp của Mỹ khi coi Đài Loan là căn cứ quan trọng không thể mất trong vành đai bảo vệ của mình.
Bên cạnh đó, sau nhiều tranh cãi kéo dài từ những năm 50s và đỉnh điểm từ những năm 60s giữa Liên Xo và Trung Quốc do sự khác biệt về ý thức hệ và văn hóa và làm 2 nước dần xa cách nhau. 1 phần do Mao tự tin rằng mình cũng là nhà lãnh đạo Cộng sản thế giới chứ không phải là người Nga mà khi đó đại diện là Khruschev, người đã không có đủ uy quyền như Stalin hay Lenin. Trước đó, Liên Xô đã có 1 khoản vay viện trợ ưu đãi 300tr$ cho TQ tái thiết đất nước sau chiến tranh và TQ vẫn cần tới điều này ở giai đoạn những năm 50s. Năm 1954, Nga cũng rút quân khỏi cảng Lữ Thuận và trao lại cho TQ cùng với các thiết bị quân sự, chia sẻ tài nguyên và các kỹ thuật để hiện đại hóa quân đội TQ. Mối quan hệ của 2 cường quốc này vẫn khá tốt, nhưng nhìn chung cũng nhiều bất đồng trong cách xử lý vấn đề, TQ cho rằng Nga quá lỏng lẻo và không làm chuyên chính vô sản chặt chẽ. Năm 1957, Liên Xô bắt đầu trao cho TQ 1 số tài liệu cách để chế tạo vũ khí hạt nhân. Sau khi Nga phóng thành công vệ tinh lên vũ trụ, TQ tin rằng gió đông đang thổi vào phía Tây và các cuộc cách mạng cộng sản nổ ra khắp nơi tại các khu vực kém phát triển và họ tin rằng Nga cần nhiều hành động để thúc đẩy quá trình này thay vì giảm nhiệt huyết chiến tranh và giành thắng lợi cho giai cấp vô sản trên toàn cầu. Nga thì đồng ý giúp đỡ mọi nơi mà chống Tư bản, trong khi TQ chỉ muốn giúp đỡ các nước cộng sản và họ bắt đầu nghi ngờ nhau về việc còn trung thành với lý tưởng Mác nữa hay đã biến chất. Việc Tưởng chiếm các đào gần bờ TQ là sự khiêu khích trắng trợn nhưng TQ không có hạm đội đánh lại, họ đề nghị Nga giúp nhưng Nga không muốn bị kéo vào chiến tranh nên từ chối, Nga muốn đặt 1 trụ sở hạt nhân ở TQ để kiểm soát châu Á nhưng không thành, sau đó quá trình Đại nhẩy vọt của TQ bị Nga dội gáo nước lạnh khi cắt viện trợ làm mâu thuẫn 2 nước trở lên cao trào. Sự thất thường của Khrushchev cũng góp phần vào mâu thuẫn 2 bên ngày càng bùng nổ, sau đó họ bắt đầu chỉ trích nhau trên các diễn đàn và công khai từ năm 1960. 12k chuyên gia Nga sau đó cũng được lệnh rút về nước bỏ lại Trung Quốc đang trong nạn đói.
Sau khi Khrushchev bị loại bỏ năm 1964, các lãnh tụ mới của Liên Xô đã cố gắng hàn gắn quan hệ với TQ nhưng không thành công, cơ bản 2 nước chuyển sang quan hệ lạnh nhạt và xa cách nhau. Sau đó quân Nga liên tục tăng quân số trên tuyến biên giới với TQ, rồi Nga lập căn cứ hải quân và không quân ở Việt Nam càng làm cho TQ cảm thấy bị đe dọa. Năm 1970, TQ cũng trở thành thành viên LHQ và là thành viên thường trực nhờ sự cải thiện mối quan hệ Mỹ – Trung, sau đó là cuộc viếng thăm bất ngờ TQ của Nixon năm 1972. Tới năm 1975, TQ đã tiến hành khoảng 20 vụ nổ hạt nhân thử nghiệm và sở hữu khoảng 300 đầu đạn hạt nhân, quân đội đông nhưng về cơ bản họ vẫn ở dưới không thể so sánh với Mỹ và Liên Xô. Trước khi TQ được tham gia trở lại LHQ năm 1970, vị trí của TQ vẫn do Quốc dân đảng ở Đài Loan nắm giữ. TQ đã đẩy mạnh ngoại giao ở các thế giới thứ 3 như tịa Đông Nam á, châu Phi để thể hiện vai trò siêu cường mới lên của mình.
Sự hồi sinh
Về mặt kinh tế, cải cách ruộng đất bắt đầu từ năm 1951 với việc đưa tài sản ra khỏi sở hữu tư nhân và đưa vào tập thể, các chính sách từ khuyến khích sang ép buộng người dân phải từ bỏ quyền sở hữu đất đai, ruộng đất để góp vào thành của cải chung và được phân phối theo sức lao động họ bỏ ra. Đây là giai đoạn của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất tại TQ. Sau đó, Mao rất nhiệt huyết và mong muốn trí thức đóng góp ý kiến, nhưng có quá nhiều ý kiến trái chiều và họ nhanh chóng bị dập tắt. Tiếp theo từ 1958, kế hoạch 5 năm lần thứ 2 hay còn gọi là cuộc đại nhẩy vọt, với việc sản xuất gang ở khắp nơi từ hộ gia đình đã sản xuất ra rất nhiều gang nhưng toàn thứ kém chất lượng và đây là hoạt động lãng phí bậc nhất tài nguyên đất nước, việc sản xuất trong tập thể như trò hề. Vào gần cuối đời, Mao lo ngại cuộc cách mạng mình theo đuổi bị hủy hoại, nên đã tìm cách thanh trừng hết những nhân vật bị coi là thân Nga, hay những người cho phép thỏa hiệp với tư sản khỏi chính quyền. Năm 1966, cuộc cách mạng văn hóa do Mao dẫn dắt chính thức bùng nổ, học sinh không tới trường mà bị xung vào các lực lượng hồng vệ binh, đi về nông thôn sản xuất trong 1 năm trì hoãn tuyển sinh. Hàng loạt các quan chức bị cắt chức, sát hại và lưu đầy, lực lượng quân đội trở lên hùng mạnh và nắm quyền tại đất nước. Năm 1976, Mao qua đời. Vị trí của Mao được Hoa Quốc Phong tiếp quản, cuộc chiến tranh giành diễn ra 3 năm sau đó và năm 1980, Đặng Tiểu Bình chính thức kiểm soát đảng và chính quyền hất cẳng Phong ra khỏi các vị trí quan trọng. Đặng là 1 thực dụng bảo thủ, thắng lợi của ông đồng nghĩa với sự trở lại của những kiểu cạnh tranh truyền thống, phục hồi danh dự giới trí thức, phục hồi động cơ lợi nhuận, tăng thuế đối với nông dân và tăng lương cho các ngành công thương nghiệp, mở rộng cửa với phương tây, Nhật Bản, và nối lại quan hệ với Liên Xô. Ông muốn hiện đại hóa nền kinh tế TQ mà không nới lỏng sự kìm hãm về chính trị của Đảng cộng sản. Đặng phải giải quyết xung đột giữa phát triển kinh tế và kiểm soát chính trị và đã khá thành công trong cả 2 việc này. Năm 1987, Đặng về hưu nhưng vẫn có ảnh hưởng chính tại TQ khi ép Hồ Diệu Bang mất chức Tổng bí thư đảng, năm 1989, Hồ Diệu Bang qua đời và lực lượng sinh viên, trí thức trnah thủ biểu tình lớn tại quảng trường Thiên An Môn đòi đẩy nhanh quá trình cải cách. Đặng đã cho quân đội đàn áp cuộc biểu tình do lo ngại đây là sự chống đối Đảng. TQ cũng mất rất nhiều năm để lấy lại các phần lãnh thổ đã mất cho các đế quốc và chỉ còn Đài Loan là có vẻ vẫn chưa thể lấy lại được.
Năm 1982, Đặng tuyên bố nếu không đạt thỏa thuận với Anh về Hongkong TQ sẽ tiến quân vào đó để kiểm soát theo cách của họ, điều này đã gây ra 1 cơn hoảng loạn ở HK, tỷ giá dolla HK giảm ½, chứng khoán, bđs rơi không phanh sau đó. Mãi năm 1984, Anh từ bỏ quyền cai quản HK mọi việc mới trở lại ổn định.
4. Trật tự thế giới
Khi nhà nước còn là 1 thành tố căn bản trong xã hội quốc tế thì việc ngăn chặn chiến tranh chủ yếu sẽ do các cường quốc hùng mạnh nhất đảm bảo. Họ có thể lựa chọn nhiều phương pháp tiến hành khác nhau, họ có thể độc quyền trong khu vực ảnh hưởng của mình, hoặc cùng nhau giải quyết các vấn đề quốc tế, hoặc có thể trang bị, đầu tư tài chính cho 1 tổ chức khu vực để tổ chức này giải quyết công việc cho họ. Ngày nay rộng rãi nhất là mô hình Liên Hiệp Quốc để ngăn chặn các cuộc xung đột trên toàn cầu có thể gây nguy hại cho hòa bình và ổn định khu vực và thế giới. Mỹ thì thường xuyên cùng các đồng mình Anh, Pháp thực hiện các sự áp đặt ở thường trực hội đồng bảo an, còn Nga lại lạm dụng quyền phủ quyết của mình với lý do các chính sách Mỹ đưa ra đều thù địch với Nga.
Các cuộc chiến nổ ra như Anh – Argentina, Mỹ tấn cong Libi đều được viện dẫn theo điều 51 của hiến chương LHQ với mục đích tự vệ, nhưng bản thân nó đều là các cuộc xâm lược vi phạm trắng trợn hiến chương LHP mà chủ yếu do các nước lớn như Mỹ gây ra và vi phạm nhưng không bị lên án mạnh mẽ. Vai trò của Mỹ ngày càng mờ nhạt hơn trong việc đưa ra tiếng nói ép buộc các nước khác trong 1 trận tự mà nhiều khi vượt ra khỏi vòng pháp luật, khi họ có quyền tự ý can thiệp quân sự vào 1 số nước mà phớt lờ LHQ. Điều 51 cho phép chống trả tự vệ, nhưng các nước phương tây thường viện dẫn nó để chủ động trả đũa, đánh phủ đầu các nước khác.
5. Thế giới thứ 3 – và thứ 4
Chủ nghĩa trung lập và tái liên kết
Sự khởi đầu sự tan rã các nước bắt đầu tư sự tan rã của đế quốc Ottoman, sau đó đến nhà Habsburg, đặc biệt mạnh là khoảng 20 – 25 năm sau khi chiến tranh thế giới II chấm dứt. Trước đây, các nước Tây Âu thường cạnh tranh và nổ ra chiến tranh để tranh giành thuộc địa các nơi, sau chiến tranh thế giới II điều này gần như chấm dứt và sự cạnh tranh chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế khi mà các nước mâu thuẫn với nhau nhiều thế kỷ trước đã ngồi lại với nhau chung trong 1 liên minh NATO (như mối thù Anh – Pháp).
Thế giới thứ 3 ra đời bao gồm chủ yếu các nước nghèo châu Á và Mỹ la tinh. Nơi mà chỉ có Mỹ – Liên Xô là quan trọng, các nước còn lại phải lựa chọn hoặc theo Mỹ hoặc theo Liên Xô bởi sự sợ hãi vũ khí hạt nhân mà 2 nước này sở hữu. Mỹ thì ngày càng tích cực với chủ nghĩa chống cộng trên toàn cầu, Liên Xô thì ngày càng giáo điều cộng sản cứng nhắc đã làm các nước thế giới thứ 3 ở lưng chừng lựa chọn. Với lá cờ của thủ tưởng Nehru của Ấn Độ, khối thịnh vượng chung ra đời trong hoàn cảnh hậu chiến như vậy. Khối thịnh vượng chung (tức khối liên hiệp Anh) đã có tới 50 nước tham gia vào năm 1989, chỉ có Myanmar là rời khỏi Anh ngay sau khi giành được độc lập.
Ngoài châu Âu là tâm điểm của chiến tranh lạnh, các nước ở khu vực khác cho rằng họ nằm ngoài tầm ảnh hưởng và cùng nhau tham gia 1 phong trào trung lập, không liên kết và bài xích chiến tranh. Sau cuộc chiến Triều Tiên, Mỹ đã thay đổi và trở thành thủ lĩnh tinh thần và vật chất cho chủ nghĩa đế quốc trên toàn cầu nhằm chống lại sự bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa Cộng sản đặc biệt tại châu Á.
Các hội nghị châu Á mà vai trò dẫn dắt chính của Ấn Độ đã được diễn ra để gây sức ép lên các chính quyền thực dân như tại Indonesia và tạo ra sức ép rất lớn lên LHP và yêu cầu LHP phải có hành động ngăn chặn sự áp đặt lại của chủ nghĩa thực dân. Trong khi các cuộc tấn của ông Anh và Pháp ở Maxlai và Việt Nam thì phong trào này không phản đối nhiều vì hơi hướng cộng sản cao độ ở 2 nước này. Họ cũng phản ứng mạnh với chiến thắng của Mao ở Trung Quốc khi 1 nước Cộng sản hùng mạnh ra đời ở châu Á và chắc chắn sẽ tham gia vào phe Liên Xô. Tới những năm 1950, phong trào không liên kết có xu hướng tàn lụi do các cám dỗ về kinh tế mà Mỹ và Liên Xo đem lại khi họ tham gia vào phe của các cường quốc lớn. Mỹ và Liên Xô giằng co tại châu Âu và bắt đầu quan tâm tới các khu vực khác và gia sức lôi kéo giành các đồng mình mới tại các khu vực khác, đặc biệt tại châu Á đang có hàng loạt quốc gia mới được tái lập và giành được độc lập. Liên Xô thì tận dụng chủ nghĩa dân tộc tại các nước để đưa họ vào xu hướng chống phương tây, còn Mỹ thì muốn khai thác sự sợ hãi cộng sản để tạo ra cá liên minh chống Cộng. Mẫu thuẫn giữa TQ – LX đã làm hội nghĩ bị gián đoạn 1 thời gian. Tới năm 1969, hội ngị các quốc gia không liên kết đã được nối lại với 92 nước tham dự
Tổ chức thống nhất Châu Phi cũng ra đời với việc liên kết châu Phi lại với mục tiêu chúng cao nhất là chống chủ nghĩa thực dân để giành độc lập hoàn toàn cho châu lục và phát triển kinh tế sau đó. Sau đó là sự chia rẽ tại khu vực và hàng loạt các hội, nhóm nhỏ ra đời và mâu thuẫn lẫn nhau trong nội bộ. Châu Phi là khu vực các cuộc chiến tranh vẫn liên tục diễn ra kéo dài tới hiện tại.
Đói nghèo
Đói nghèo là xiềng xích chính của các nước thuộc thé giới thứ 3 này. Họ có thể giành lại được độc lập về mặt chính trị sau thời gian bị thực dân xâm lược, nhưng họ vẫn bị phụ thuộc về kinh tế bởi các hoạt động kinh tế thực dân để lại sau chiến tranh. Trong hội nghị Bretton Woods, IMP và tổ chức thương mại thế giới đã ra đời để hỗ trợ việc rỡ bỏ hàng rào thuế quan khơi thông hàng hóa và hỗ trợ tài chính cho quá trình tái thiết đất nước. Hoạt động rỡ bỏ thuế quan đạt thành tựu lớn khi thương mại toàn cầu tăng 5 lần sau 25 năm tổ chức này hoạt động, thuế suất bình quân từ 40% về 4%. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã đạt được nhiều thỏa thuận lớn cho các nước tham gia vào. GATT sau đó chuyển đổi thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 1995, và nó đặc biệt ý nghĩa hơn khi TQ tham gia vào. Bên cạnh đó, nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương khác được ký kết như hiệp định khối bắc Mỹ (Mỹ – Canada – Mexico),…
WB ra đời cũng thời gian với tiền thân của WTO, với mục đích tái thiết châu Âu sau chiến tranh, nhưng sau khi có kế hoạch marshall thì WB chuyển hướng sang phát triển hạ tầng cho các nước phát triển và các nước thế giới thứ 3. Tổ chức này khá bảo thủ trong cách cấp vốn, tập trung cho vay phát triển hạ tầng, tài sản của nó được đóng góp và quản lý theo dạng hội đồng với quyền theo tỷ lệ nước góp, nó cũng dùng tiền cùa mình mau các chứng khoán quốc tế, và phát hành các chứng khoán ra thị trường tài chính. Trong các nước phát triển, WB thường dùng công ty tài chính quốc tế (IFC) để đầu tư công – tư tại đây.
IMP ra đời cùng lúc với WB, mục tiêu nhằm đảm bảo tỷ giá hối đoán giữa các nước, tránh tình trạng hỗn loạn của tình hình tài chính như những năm 30s từng xảy ra. Hoạt động của nó thông qua các khoản đóng góp của thành viên, nó giúp cung cấp các khoản cho vay ngắn hạn làm giảm những khó khăn về thanh khoản, cán cân thanh toán tập trung chủ yếu cho các quốc gia đang phát triển. Nền tảng của IMF bị nghi ngờ khi chế độ tỷ giá cố định bị bãi bỏ năm 1971 ở Mỹ và sự mất uy tín của nó sau đó. Tương tự như WB, từ khoảng sau năm 1970, các tổ chức quốc tế đã phải cải tổ mạnh mẽ với việc hướng tới các nước thế giới thứ 3 thay vì tập trung vào các nước công nghiệp phát triển như trước.
Nhiều tổ chức hợp tác kinh tế ra đời để giải quyết tình trạng đói nghèo, như cả chính sách yêu cầu trích 0.7% GNP các nước phát triển để hỗ trợ các nước đang phát triển, tổ chức nhóm G77 hỗ trợ nhau, và cao điểm là tổ chức OPEC ra đời và sau đó họ gây ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ từ 1973-1979. Mặc dù nhận viện trợ khá lớn từ các nước phát triển, nhưng các nước thế giới thứ 3 vẫn cực kỳ trì trệ không phát triển được, không những vậy nợ của họ ngày càng phình to ra hơn, các khoản vay phần nhiều mang ý nghĩa đảo nợ các khoản nợ cũ, giãn nợ mà không đem lại lợi ích thực tế cho đất nước mình.
II. Châu Âu
6. Tây Âu
Phục hồi
Tây Âu sau chiến tranh có sự phục hồi với tốc độ tăng trưởng vượt mọi dự đoán trước đó, đặc biệt là Tây Đức đã trở thành 1 cú phát triển thần kỳ. Nước Mỹ đã được thúc đẩy vào việc phục hồi châu Âu do lo ngại Nga sẽ xâm chiếm các nước châu Âu sau chiến tranh. Kế hoạch phục hồi bắt đầu chính từ kế hoạch Marshall năm 1947 khi nó cung cấp các khoản viện choc ho cấc nước châu Âu bao gồm cả Liên Xô nhưng Liên Xô đã từ chối, các khoản viện trợ này sẽ được cung cấp tới năm 1951, các sự đóng góp của các nước châu Âu đã hợp thành Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu (OEEC), sau đó tới năm 1960 thì tổ chức này chuyển đổi thành Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nơi tập trung các nước công nghiệp phát triển nhất trên thế giới. Năm 1949, hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết giữa Hoa Kỳ và 10 quốc gia Châu Âu, với cam kết Hoa Kỳ sẽ đảm bảo an ninh cho khu vực này trong vòng 20 năm sau đó, Tổ chức này đã hình thành nên khối quân sự Bắt Đại Tây Dương (NATO) với sự đóng góp quân của châu Âu là chính, Hoa Kỳ có các căn cứ quân sự và vũ khí tại Châu Âu, nó giống 1 hiệp ước bảo hộ mà nước lớn thắng trận ký với nước thua trận trước đây ở châu Âu. Sau đó, NATO là công cụ chính trong chiến tranh lạnh với LX, tới nửa cuối những năm 80s, khi LX suy yếu thì vai trò NATO trở lên không rõ ràng và mất phương hướng.
Sau khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, hoạt động tại châu Âu của Mỹ đã trở lên báo động với lo ngại sự tấn công của Nga sang các nước châu Âu, Mỹ đã phải tái vũ trang cho Tây Đức năm 1950 khi mà lực lượng của Anh và Pháp vẫn đang viên trinh và chiếm đóng ở nhiều vùng thuộc địa khác trên thế giới và lực lượng tai châu Âu khá mỏng so với LX. Pháp là nước phản đối mạnh mẽ nhất sự tái vũ trang của Đức nhưng rồi cuối cùng cũng phải nhân nhượng. Tuy nhiên, chính trị Pháp rối loạn, kinh tế trì trệ và liên tiếp thất bại trong 2 cuộc thế chiến đã làm suy kiệt nước này và họ trở lên lạc hậu so với Anh và Tây Đức trong quá trình phục hồi sau chiến tranh. Sau các cuộc chiến ở thuộc địa đặc biệt là Algeria, Pháp gần như nổ ra nội chiến, nhưng có sự trở lại của De Gaulle đã giúp ổn định đất nước trở lại. Ỗng cũng tin rằng Pháp cần là 1 cường quốc hạt nhân và đã bắt đầu phát triển vũ khí hạt nhân để duy trì vị thế cường quốc của mình. Vị thế của Pháp khi đó trong NATO cũng kém Mỹ và Anh dù họ cũng đòi hỏi họ cần được coi là 1 trong tam đầu chế của tổ chức này. Sau đó Pháp quay ra liên kết với Đức nhưng thủ tưởng Đức khi đó lại chuẩn bị hết nhiệm kỳ và hiệp ước Pháp – Đức sau đó không được các lãnh đạo kế tục tích cực ủng hộ. Từ khoảng 1966, Pháp rút bớt lực lượng khỏi NATO và muốn rút lui khỏi các cơ quan mà Mỹ kiểm soát tại Tây Âu. Uy tín của De Gaulle dần giảm sút sau khi là anh hùng dân tộc giải phóng Pháp khỏi phát xít Đức trước đó. Các cuộc biểu tình, bạo loạn nổ ra ầm ĩ khắp Pháp trong những năm 1968, sau cuộc trưng cầu dân ý cải cách bãi bỏ thượng viện thất bại, De Gaulle tuyên bố từ chức và qua đời 1 năm sau đó. Tiếp theo là quá trình lãnh đạo trong thời gian dài của đảng xã hội Pháp với Mitterrand làm tổng thống và thu được 1 số thành tựu kinh tế. Sau đó là sự thắng lợi của Jacques Chirac lên chức Tổng thống để lèo lái nước Pháp đang trong tình trạng thất nghiệp cao.
Tại Tây Đức, sai quá trình cai trị lâu đời của Konrad Adenauer (1952 – 1963, với kế hoạch Marshall đã giúp Tây Đức phục hồi mạnh mẽ sau chiến tranh và lươn lên số 1 khu vực như nó từng đó trước đó. Chính sách Tây Đức ban đầu hướng hoàn toàn vào Mỹ, sau đó dần tập trung vào châu Âu hơn nơi mà vị thế Tây Đức được chấp thuận và không còn nhiều lo ngại về chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Đức lại tái hiện. Sau đó là sự chuyển giao sao các thế hệ đảng xã hội Đức nắm quyền và hướng nhiều hơn tới các khu vực Trung Âu, Đông Âu nơi mà Tây Đức có thể cung cấp máy móc, thiết bị hiện đại cho họ.
Nước Anh ban đầu phục hồi nhanh chóng sau chiến tranh nhờ các khoản tiền hỗ trợ lớn từ kế hoạch Marshall, nhưng họ phát triển không ổn định và thiếu bền vững. Sau chiến tranh, Anh bị Mỹ và Tây Đức ngày càng bỏ xa hơn về công nghiệp và kinh tế. Mặc dù vây, Anh vẫn luôn tỏ ra mình là thượng đẳng hơn các nước châu Âu khác và thường có thái độ xa cách các ước châu Âu, và chủ yếu tập trung vào chính sách thân Mỹ của mình. Năm 1979, Thatcher trở thành thủ tướng và cầm quyền lâu nhất trong lịch sử nước Anh tới lúc đó. Bà chăm chỉ, quyết đoán, mạnh mẽ và làm việc cật lực, nhưng khôn gphair lfa thông minh nhất. Bà bị cản trở bởi các thất bại của những người tiền nhiệm, bởi việc lựa chọn các thành viên trong nội các thiếu thận trọng, và bởi tính chuyên quyền, độc đoán của bà làm giảm giá trị của hạ viện và dân chủ tại Anh trước thời đại Thatcher. Chính sách bẻ gãy lạm phát bằng lãi suất cao đã bóp nghẹt ngành công nghiệp của Anh. Sau đó là chính sách cắt giảm kiểm soát tín dụng, đã biến Anh từ 1 nước căn ke tiếm kiệm sang 1 nước thích đầu cơ đánh bạc và thổi bùng các làn sóng đầu cơ bất động sản, tiêu dùng quá mức. Các mâu thuẫn giữa Thatcher và nội các của bà bùng nổ và bà bị ép phải từ chức. Thatcher đã tạo ra khuynh hướng bài ngoại là trọng tâm của bà, thêm vào đó là thủ thuật dung tiền từ bán dầu biển bắc để biến báo các khoản thặng dư ngân sách giả tạo. Người kế vị Thatcher muốn khởi động quá trình tham gia vào EC sâu rộng của Anh nhưng cũng gặp nhiều khó khăn do các vấn đề mà Thatcher để lại quá lớn đã ngăn cản ông ta xích lại gần hơn với châu Âu lục địa.
Liên minh Châu Âu
Cộng đồng Châu Âu được tạo ra với 2 mục đích chính: tìm ra 1 giải pháp cho vấn đề nước Đức tại Châu Âu và làm cho những thành viên của châu Âu trở nên phồn thịnh hơn và có ảnh hưởng hơn trên thế giới với tư cách là những đối tác của nhau so với tình trạng họ là những quốc gia riêng biệt.
Nước Đức, chắc chắn là người dẫn dắt châu Âu. Kể từ thời Bismarck trở đi Đức đã dần thể hiện sự vượt trội của họ với các nước châu Âu khác. Họ có kỹ năng cao, tài nguyên nên dù 2 thần thất bại trong các cuộc chiến tranh thế giới I và II họ đều có thể quay trở lại và phục hồi mạnh mẽ. Các nước châu Âu khác bị phục thuộc mạnh vào nền kinh tế Đức, kinh tế Đức phồn vinh thì họ mới có thể phồn vinh được theo.
Nước Anh thì vẫn mang trong mình sự thờ ơ cố hữu về vấn đề châu Âu và không có mặt mà với các nước ở khu vực này và họ chỉ quân tâm tới mối quan hệ với Mỹ và điều này diễn ra suốt 10-15 năm sau chiếu tranh. Trong khi đó, các nước châu Âu còn lại rất tích cực để xích lại gần nhau, hòa giả và hợp tác với nhau ngày 1 chặt chẽ hơn bằng các thử nghiệm về 1 cộng đồng chung tại châu Âu. Họ đã bắt đầu thử nghiệm với hội đồng châu âu gồm 13 nước vào năm 1948, sau đó là cộng đồng than và thép châu âu, cộng đồng quốc phòng châu âu, rồi họ hợp nhất 3 cộng đồng lại tạo ra nỗ lực xây dựng 1 cộng đồng châu Âu thống nhất. Tiếp theo là sự ra đời Hội đồng kinh tế châu Âu, và cộng đồng nguyên tử châu Âu. Tới 1967, chúng được tiếp tục hợp nhất thành lập Hội đồng bộ trưởng, ủy ban, nghị viện, và tòa án châu Âu tại hiệp ước Rome. Họ đề ra lộ trình hợp nhất 12 năm gồm hội nhập thương mại, liên minh thuế quan với biểu thuế chung, bãi bỏ các hạn chế về thuế quan trong cộng đồng chung này. Cho tự do hóa di chuyển lao động, chính sách nông nghiệp chung, chính sách xã hội, luật pháp, y tế, tiêu chuẩn an toàn, liên minh tiền tệ chung, 1 ngân hàng trung ước chung,…
Từ 6 thành viên ban đầu năm 1979, cộng đồng châu Âu sau đó có sự tham gia thêm của nhiều nước trong đó quan trọng nhất là sự tham gia của Anh năm 1981. Anh là nước bị Pháp liên tục phủ quyết khi nước này muốn tham gia sâu hơn vào cộng đồng châu Âu với lý do Anh chỉ là cánh tay nối dài của Mỹ để chọc sâu vào nội bộ châu Âu. 1 phần cũng do các chính sách của Anh không muốn tham gia sâu vào EC. Trong khi đó, Đức đang chuẩn bị cho việc tái thống nhất nước Đức vào nhưng xnawm 80s và cũng hông mặn mà việc tham gia vào ngân hàng TW châu Âu (Eurobank). Tới những năm 80s, EC đã bao gồm cộng đồng gồm 12 quốc gia (từ 6 quốc gia ban đầu) và tiếp tục mở rộng ra thêm nữa khi thu hút được nhiều nước xin tham gia. Tuy nhiên, các cơ chế liên bang được 1 số người đề xuất đã liên tục bị Pháp cầm đầu nhóm phủ quyết và chỉ đồng ý dưới dạng 1 liên kết lỏng lẻo hơn về chính trị, kinh tế, và tiền tệ. Cách chính sách chung của EC cũng được đưa ra trong giai đoạn này với việc dùng 1 đồng tiền chung, thống nhất tỷ lệ thâm hụt ngân sách của các thành viên.
Sườn miền nam
Italy sớm từ bỏ chế độ phát xít từ năm 1943 và theo nền dân chủ nghị viện, nhưng tình hình kinh tế của họ rất bấp bênh với 10% dân số thất nghiệp, hàng năm có khoảng 150k người trốn đi các nước khác để tìm kiếm công việc tốt hơn so với ở lại Italy, đất nước Italy dần trở thành lão hóa nhanh chóng khi lực lượng thanh niên liên tục rời đất nước ra đi. Đất nước Italy tham gia sớm vào quá trình hội nhập với việc tham gia cộng đồng Than và thép dù họ chẳng có cả 2 thứ này, nhưng họ đã xây dựng được nền công nghiệp thép manh và xuất khẩu thép sau đó, với GNP tăng gấp 2 vào những năm 50. Tuy nhiên, nền kinh tế Italy nhanh chóng rơi vào khủng hoảng những năm 70 khi khủng hoảng dầu mỏ nổ ra và cần tới IMF cho vay để giải cứu. Đảng cộng sản Italy là 1 đảng lớn và thường được các đảng khác tại Italy nhờ cậy khi lập các chính phủ. Họ cũng chủ trường không lệ thuộc vào đảng cộng sản LX, nhưng những người cộng sản Italy vẫn luôn bị loại ra khỏi các chức vụ trong chính quyền Italy suốt mấy chục năm sau chiến tranh. Nạn tham nhũng tràn nan diễn ra khắp nơi tại Italy cũng là vấn đề với nước này suốt nhiều năm sau chiến tranh.
Thổ Nhĩ Kỹ, 1 quốc gia được xây dựng từ đống tro tàn của đế chế Ottoman dưới sự nỗ lực của niều thành viên trong đó tiêu biểu là Attaturk. Đất nước này là thành viên dự bị của nhiều tổ chức châu Âu và vẫn bị lôi kéo là 1 thành viên tại khu vực trung đông. Đất nước Thổ sau khi nhận viện trợ của Mỹ sau chiến tranh có sự tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng lại nhanh chóng phá sản và cần tới sự trợ giúp của IMF để giải cứu nền kinh tế. 1 số cuộc đảo chính do quân đội tiến hành cũng diễn ra tại đây và đàn áp các đảng dân sự. Sau đó các đảng dân sự lấy lại quyền lực từ năm 1965. Đất nước Thổ trở lên hỗn loạn vào những năm 80 khi rất nhiều cuộc bầu cử cũng không có tổng thống, quân đội thường can thiệp vào hoạt động chính trị. Thổ là 1 nước hồi giáo, họ gặp rất nhiều vấn đề về tôn giáo, đặc biệt với người Quốc ở Iraq khi cuộc chiến Iraq nổ ra.
Hy Lạp, là 1 nước ở sườn Nam khác của châu âu với nhiều mối hận thù với Thổ Nhĩ Kỳ và thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Những người cộng sản đã suýt nắm quyền tại đây nhiều lần và chính thức thất bại hoàn toàn từ năm 1949 sau khi Mỹ viện trợ lớn cho Hy Lạp. Họ tham gia vào đầu minh châu Âu và là 1 thành viên của Nato để chống lại LX và khối đông Âu.
Sau chiến tranh, LX cũng thực hiện 1 loạt các cuộc đảo chính phía sau các nước vệ tinh của họ để đưa đảng cộng sản lên nắm quyền tuyệt đối tại các nước này dưới chế độ dân chủ nhân dân. Nam Tư là 1 trường hợp cộng sản kỳ lạ khi phản đối LX, bị các nước cộng sản cô lập nhưng lại được viện trợ từ Mỹ và phương Tây.
7. Trung và Đông Âu
Thời kỳ hậu Stalin
Sau khi Stalin qua đời năm 1953, các nước chư hầu của LX bắt đầu rục rịch nổi dậy để đòi độc lập hoàn toàn khỏi LX. Nhìn chung rất ít nước cam tâm tình nguyện trở thành 1 nước chư hầu của nước khác do các khác biệt về dân tộc. Như các cuộc biểu tình ở Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungari, Ba Lan,…
Tại Ba Lan, chính phủ cộng sản mới mặc dù tách rời so với LX 1 cách tương đối nhưng vẫn chấp nhận được. Trong khi tại Hungari, chính phủ mới lại đi quá giới hạn khi cho phép đa nguyên đa đảng và quay ra chống lại LX, quân Nga đã tiến vào tấn công Hungari và lật đổ chính quyền cộng sản chống đổi để lập lên chính quyền cộng sản thân LX với 1 chiến dịch đàn áp đẫm máu năm 1956. Người Ba Lan luôn luôn nuôi dưỡng mối căm thù với người Nga từ yếu tố lịch sử để lại. Họ thường bị Nga chiếm đóng trong lịch sử và nhiều lần mất nước của mình. Các cuộc bãi công lớn tại đây đã giúp người dân Ba Lan có nhiều quyền tự do hơn các nước khác, nhưng hệ thống kinh tế của họ lại quá yếu kém, bên cạnh đó việc có chung đường biên giới với Nga làm đất nước này không dám có các hành động như Nam Tư đòi ly khai Nga vì lo sợ các cuộc tiến quân vào như cách Nga từng làm với Rumani, Tiệp Khắc.
Tiệp Khắc ban đầu là 1 nước dễ bảo nhất trong các quốc gia phụ thuộc của LX. Sau đó khi lãnh đạo mới lên qua 1 cuộc bầu cử đã tiến hành những cải cách lớn đẩy LX vào tình thế tiến thoái lưỡng lan. Nền kinh tế nước này ban đầu khá hiện đại với 1 phần đất nước mang hơi hướng phương Tây với nền công nghiệp phát triển tốt (vùng Xlovakia) khi Đức chiếm đóng nước này và Tiệp Khắc là 1 đồng minh của phát xít Đức. Nhưng sau khi là chư hầu của LX thì đất nước này sản xuất theo định hướng của LX với việc sản xuất thép dư thừa gấp 2 lượng cần thiết và không có thị trường tiêu thụ, nền kinh tế trở nên trì trệ và lạc hậu so với phương Tây. Các nhà cải cách kinh tế ở Tiệp Khắc bắt đầu thử nghiệm và tiến hành các cải cách tự do tại đây, Nga đã phải thay thế lãnh đạo ở đây nhưng xu hướng cải cách tự do vẫn tiếp tục tại đất nước này sau đó. LX rất bất mãn với việc nới lỏng quả lý tại Tiệp và đã chuẩn bị các kế hoạch thay thế và đưa xe tăng vào đàn áp phong trào tự do tại đây. Nhiều cuộc thương thuyết hào giải được tiên để tránh việc tương tự như ở Rumani đã xảy ra. Tháng 8/1965, điều lệ mới của Đảng cộng sản Tiệp Khắc đã treo quyền cho các đảng khác được tham gia sâu rộng vào nền chính trị 1 cách độc lập, 1 sự công nhận việc dân chủ đa nguyên đa đảng đã làm LX tức giận và nay trong tháng này, quân đội Nga đã tiến vào Tiệp Khắc. Tiệp Khắc không có sự chống cự nào, lãnh đạo bị bắt sang Nga rồi sau đó bị điều sang Thổ rồi bị khai trừ đảng. Các nhà cải cách bị dập tắt hoàn toàn tại đây trong giai đoạn này.
Sua cuộc xâm lược Tiệp Khắc này, LX đã đưa ra học thuyết cứng rắn bảo hộ các nước thuộc khối Đông Âu của mình và sẵn sàng đàn áp bất cứ cuộc nổi dậy chống đối nào trong hệ thống của mình nhằm duy trì quyền thống trị.
Kết thúc đế chế
Năm 1985, Gorbachev lên nắm quyền và bắt đầu quá trình kết thúc của đế chế LX theo phong cách Stalin xây dựng mấy chục năm từ sau khi Lenin qua đời.
Ba Lan: nơi có mâu thuẫn thường xuyên với LX từ yếu tố lịch sử, nền kinh tế nước này yếu kém nhất trong các nước vệ tinh của LX với khoảng nợ nhất nhất 35,5 tỷ usd với các nước tây Âu, kinh tế suy sụp, các biện pháp cải cách không đem lại hiệu quả. Từ năm 1989, Ba Lan chấp thuận hệ thống đa đảng phái, tự do báo chí và 2 năm sau những người cộng sản thất bại trong cuộc bầu cử tại Ba Lan. Các nước Tây Âu đã họp khẩn cấp và cứu trợ đói cho Ba Lan và thực hiện cuộc đại phẫu nền kinh tế Ba Lan theo phương pháp sốc, họ được clb Paris, clb các chủ nợ xóa cho 2/3 khoản nợ cho phần thưởng chuyển đổi thành 1 nước dân chủ thông qua bầu cử.
Tại Hungari: trong cùng tháng diễn ra bầu cử tại Ba Lan năm 1898, Hungari biểu tình rầm rỗ nổ ra và chế độ cai trị suốt 32 năm của Kadar sụp đổ, nền chính trị độc quyền 1 đảng bị bãi bỏ, đảng công nhẫn xã hội chuyển đổi thành đảng xã hội Hungari, khoảng 50 đảng phái khác cùng xuất hiện sau khi chế độ độc đảng bị bãi bỏ.
Đông Đức: các cuộc di ư ồ ạt của người dân Đông Đức diễn ra khi họ vượt biên sang Tây Đức để tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn do sự sụp đổ của nền kinh tế Đông Đức. Người dân thông qua các đường biên giới Đức – Hungari, Đức – Ba Lan đi vòng để sang tây Đức với số lượng nên tới 500k người. Chính phủ Đông Đức định đàn áp đẫm máu như cách Đặng Tiểu Bình làm năm 1989 ở TQ nhưng bị Nga bác bỏ. Sau đó, Đông Đức từ bỏ chế độ độc đảng theo phong trào chung của các nước Đông Âu, năm 1990, họ bắt đầu tổ chức bầu cử đa đảng và đàm phán hợp nhất với Tây Đức. Nhà nước Đông Đức sau đó được giải tán và sáp nhập vào thành 5 bang thuộc Cộng hòa Liên bang Đức mới.
Tại Tiệp Khắc: cách mạng diễn ra sau cũng nhưng diễn ra rất nhanh chóng. 1 hiến chương được nhiều người ký két và 1 diễn đàn dân chủ quy mô lớn diễn ra thảo luận chính sách với nhà nước. nhà cách mạng Havel trở thành tổng thống qua bầu cử năm 1990. Sau đó mẫu thuẫn và nhà nước này tách làm 2, khu vực Xlovakia tách riêng thành 1 nước, và phần còn lại thành lập CH Séc.
Bungari: Zhikov nắm quyền rất lâu tại đây. Việc mẫu thuẫn chế độ với người Bungari gốc Thổ, rồi hội nghị môi trường tiến tới các cuộc biểu tình và bị cảnh sát đàn áp dã man, sau đó chế độ ông bị lật đổ và 1 liên minh đảng mới được thành lập để kiểm soát đất nước.
Rumani: sự sụp đổ của chế độ chuyên chính cộng sản được hoàn tất thông qua những hành động đổ máu dã man. Ceausescu là nhà lãnh đạo Cộng sản đã chuyển đổi từ chế độ cộng sản thành cá nhân và gia đình trị. Ông đã sẵn sàng hi sinh người dân để đạt được mục đích của mình. Các cuộc biểu tình diễn ra khắp nơi, cảnh sát được lệnh bắn vào người biểu tình để đàn áp và ông bị thủ tiêu trong cuộc thanh trừng lật đổ.
Các cuộc cách mạng này không xảy ra đột ngột. Chúng là 1 hệ quả của những cuộc nổi dậy bị chết yểu xảy ra ở các năm 1956, 1968, 1980. Mẫu thuẫn trong nội bộ chế độ vẫn còn và âm ỉ chỉ chờ cơ hội bộc phát và nó đã tìm thấy và những năm 1989-1991 ở các khu vực Đông Âu. Các cuộc cách mạng này thực tế không giải quyết được các vấn đề kinh tế, do đời sống tại đây bị bóp méo mó chứ đời sống vẫn hơn hẳn cư dẫn tại châu Phi hay châu Á. Cấc nền kinh tế này có những lợi thế sản xuất khác nhau, nhưng lại bị ép buộc sản xuất các mặt hàng được chỉ định và đó không phải là lợi thế của họ khi sản xuất.
8. Nam Tư và Anbani
Tito là nhà lãnh đạo của Nam Tư, ông có mâu thuẫn với Stalin và Nam Tư về cơ bản là nước Cộng sản nhưng lại tách rời so với khối LX do vị trí địa lý xa Nga của mình. Khruschev đã có 2 lần thăm Nam Tư để nối lại quan hệ với quốc gia này không thành công. Nam Tư cũng thực hiện quốc hữu hóa nhà máy, xí nghiệp, đất đai vào tập thể kiểu LX. Nhưng không thành công và từ những năm 50 bắt đầu nới lỏng và giao quyền cho người lao động hơn nhưng nhìn chung nền kinh tế vẫn rất trì trệ và kém hiệu quả. Lạm phát tăng cao và Nam Tư bị phụ thuộc vào viện trợ của IMF để cứu sống đất nước trong 1 thời gian dài. Liên bang Nam Tư cũng được xây dựng từ những người Croat và Slovene và có những mâu thuẫn khác biệt trong văn hóa dân tộc. chế độ của Toti ban đầu khá gắn kết bởi các sắc tộc đan xen nhau. Từ những năm 70, thế hệ lãnh đạo trẻ hơn mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa hơn lên nắm quyền và tư tưởng ly khai ngày càng mạnh hơn. 1 loạt các thành phần như Xecbia, Slovennia, Macedonia muốn ly khai như cách mà Ukraina, Byelorussia đã có được đưa ra nhưng bị Toti phủ quyết ở giai đoạn này. Sau đó, Nam Tư chuyển đổi thành liên bang với nhiều nước phụ thuộc nhỏ hơn nhưng vẫn là 1 thể thống nhất với Tito là tổng thống và khi ông qua đời năm 1980, quyền tổng thống xoay vòng giữa các nước trong liên bang. Nam Tư khi đó là nước cộng sản trung lập duy nhất trên thế giới tại lúc đó. Nền kinh tế Nam Tư rất yếu kém với sự sụp đổ kinh tế do lạm phát quá cao, làn sóng di cư đi khỏi đất nước, các cải cách diễn ra quá chậm, mâu thuẫn sắc tộc lên cao giữa các tộc người tại Nam Tư. Xung đột giữa các tộc người Nam Tư bùng nổ tại Kosovo và làm cho liên bang Nam Tư tan rã.
Sự tan rã của Xecbia, Croat, Sloven
Xecbia là nước cộng hòa hùng mạnh nhất trong 6 nước cộng hòa thuộc liên bang Nam Tư, với dân số khoảng 40% của cả liên bang. Người Xecbia là những người nắm quyền chính ở Nam Tư sau khi Tito qua đời. Chủ yếu nhờ 135k quân được các tướng lĩnh người Xecbia nắm quyền là chủ yếu, bên cạnh đó là sự ủng hộ của giáo hội công giáo cho người Xecbia. Tới tháng 9/1991, người Slovenia và Croatia tuyên bố độc lập và thành lập 2 nước cộng hòa riêng biệt và rời khỏi liên bang Nam Tư. Slovenia được chấp thuận cho ra khỏi liên bang, nhưng Croatia thì không và có nhiều dấu hiệu cho sự tấn công của quân liên bang Nam Tư và nước cộng hòa Croatia mới tuyên bố độc lập. Croatia với 4,5 triệu dân, chiếm 20% diện tích của liên bang và có 600k người Xecbia đang sống, cuộc tấn công của người Xecbia nhan chóng giành thắng lợi và chiếm được 1 vùng đất của Croatia. Sau đó khu vực Bosnia cũng tuyên bố độc lập và thu hút sự chú ý của cả Croatia và Xecbia vì cả 2 không muốn nước cộng hòa thứ 4 này được ra đời. Các lệnh cấm vận vũ khí được áp đặt toàn cõi Nam Tư để ngăn chặn chiến tranh bùng nổ bởi LHQ. Các lỗ lực ngoại giao để chấm dứt chiến tranh rất tích cực vì lo ngại các cuộc xung đột sắc tọc này sẽ lan ra nhiều nước gây bất ổn lớn cho khu vực.
Sự chia cắt Bosnia-Hercegovina: khu vực này với ½ là người hồi giáo, và 1 phần nhỏ là người Xecbia và Croatia. Họ là những người từ bên ngoài tới, sau đó cải đạo theo kito giáo rồi lại quay lại vào hồi giáo khi bị Ottoman chiếm đóng. Đây là khu vực phức tạp về tôn giáo và nằm giữa Xecbia và Croatia. Sau khi Xecbia, Croatia, Slovenia ly khai liên bang Nam Tư, Bosnia cũng tiến hành ly khai và tuyên bố độc lập. Sau đó, quân Xecbia tiến đánh Bosnia năm 1992 và nhanh chóng chiếm được ½ đất nước vừa tuyên bố độc lập này. Xecbia đã bị cấm vận chặt chẽ vì hành động xâm lược Bosnia của họ, khi mà Bosnia trước đó đã được LHP kết nạp là thành viên chính thức. Mỹ muốn can thiệp và ủng hộ người hồi giáo Bosnia chống lại những người Xecbia Bonia và cuộc chiến tại đây tiếp tục diễn ra dai dẳng. Cuối cùng hiệp ước hòa bình được ký kết với 1 nhà nước Bosnia lỏng lẻo và bị chia cắt làm 2 khu vực.
Macedonia và Anbani: nỗi sợ hãi về các cuộc xung đột thứ cấp bắt nguồn từ sự tan rã của Nam Tư tập trung tại Anbani và Macedonia. Với khu vực Kosovo nơi mà nười Xecbia coi là rất ý nghĩa, trong khu ở khu vực này người Anbani lại là cư dân chủ yếu. Năm 1989, Milosevic bãi bỏ quyền tự trị của Kosovo, các nhà lãnh đạo Anbani lại đây tiến hành 1 cuộc đấu tranh giành độc lập cho Kosovo mà không dùng tới vũ lực. Trong khi đó, khu vực Macedonia gợi cho ta nhớ tới các cuộc chinh phạt vĩ đại của các vị vua Macedonia xa xưa. Nhưng người Macedonia hiện nay chủ yếu là người Slav có quan hệ gần gũi với người Xecbia chứ không phải người Macedonia gốc. đất nước Macedonia bị chia cắt nhiều thế kỷ và iên tục qua tay nhiều nước khác. Đất nước Macedonia được Toti tái lập là 1 nước cộng hòa nằm trong liên bang Nam Tư với 2 triệu dân, trong đó ¼ là ngươi Anbani và 12 dân tộc khác sinh sống.
Sự độc lập của Anbani khỏi đế chế Ottoman lần đầu tiên được công nhận là năm 1912 với 1 công tước Đức lên làm vua. Sau đó đất nước bị chia cắt và phân chia cho Xecbia, Montenegro, Hy Lạp. Sau đó đất nước được tái lập sau chiến tranh thế giới I dưới sự cai trị của Zogu năm 1928, rồi bị Itali xâm lược để làm bàn đạp tấn công Hy Lạp, người Anbani đã chống cực thành công sự tấn công của Italia và sau đó tham gia vào liên bang Nam Tư. Tới năm 1991 thì chế độ cộng sản sụp đổ tại đây.
III. Phần III – Trung Đông
9. Các nước Ả Rập, Israel với chiến tranh Suez
Các nước Ả Rập thống nhất với nhau vào thế kỷ thứ VII nhờ có chung ngôn ngữ với nhau và 1 tín ngưỡng chung, họ đã tạo ra 1 khu vực rộng lớn vượt ra khỏi bán đảo Ả Rập kéo dài tới tới tận Nam Phi, Trung Đông và Trung Á. Nhưng những người kế nghiệp Mohamet đã không giữu dìn được lãnh thổ rộng lớn này và bị chia cắt ra thành nhiều khu vực khác nhau và bị đồng hóa. Các nước Ả Rập bị khoảng 1k năm chịu sự cai trị của nhiều chế độ khác nhau từ người Cuốc, người Thổ Nhĩ Kỳ, người Anh, người Pháp. Nhưng họ vẫn duy trì được tín ngưỡng chung và dần giành lại quyền độc lập cho dân tộc mình. Sau khi đế quốc Ottoman sụp đổ năm 1918, người Ả Rập bị chiếm đóng tưởng rằng sẽ sống ổn định hơn, nhưng dưới sự chiếm đóng và chia cắt của Anh và Pháp, khu vực ngày càng trở lên chia rẽ hơn và các cuộc sung đột ngày càng diễn ra nhiều hơn với sự bất ổn ngày càng gia tăng hơn.
Sự hình thành Israel
Anh đang kiểm soát khu vực trung đông trước và sau chiến tranh thế giới thứ II. Khi đó, người Do Thái ở châu Âu đang bị lực lượng phát xít Đức diệt chủng và họ bỏ chạy về các khu vực của quân đồng minh chủ yếu là Mỹ, và 1 phần rất lớn đổ dồn về khu vực trung đông, là nơi mà người Ả Rập đang sinh sống. Khi đó người Ả Rập đã gây sức ép để Anh hạn chế người do thái tiền về khu vực của người Palestine. Trong vòng 20 năm từ 1919-1939, người do thái đã tăng từ 10% lên 30% dân số Palestine và vẫn tiếp tục tăng lên khi lượng người nhập cư đổ dồn vào. Người do thái tiến hành các chiến lược khủng bố để đòi quyền độc lập xây dựng nhà nước do thái tách biệt khỏi Palestine. Trong khi Anh đòi chia cắt khu vực thành các khu vực riêng rẽ nhau để vẫn duy trì kiểm soát tại đây. Khi có Mỹ can thiêp vào khu vực này làm động lực đòi xây dựng nhà nước độc lập của người do thái ngày càng mạnh mẽ hơn. Sau đó, vấn đề này được Anh chuyển giao cho LHP vào năm 1947 và các bên đã thống nhất sẽ thành lập 1 chính phủ liên hiệp, người do thái đồng ý và nhanh chóng thành lập nước Israel vào 14/5/1948 với thủ tướng là Ben-Gurion và họ nhanh chóng nhận được sự chấp thuận của cộng đồng quốc tế đặc biệt là LX và Mỹ khi đó. Israel nhanh chóng chiến lấy các vị trí mà họ coi là của họ, trong khi cộng đồng Ả Rập không công nhận nhà nước này và tiến hành các cuộc tấn công để phá hủy nhà nước Israel. Israel đã khôn khéo dựa vào mối quan hệ với Mỹ để được cung cấp viện trợ kinh tế, tài chính và vũ khí và giành thắng lợi trong các cuộc chiến với thế giới hồi giáo và giữ được các khu vực họ đã chiếm được và tiếp tục mở rộng ra các khu vực của Palestine.
Nasser và cách mạng
Đối với người Ả Rập, việc người do thái phải gánh chịu sự đàn áp của những người cơ đốc giáo châu Âu không phải là lý do chính đáng cho họ lấn chiếm đất của thế giới Ả Rập và đuổi hàng triệu người hồi giáo phải rời khỏi mảnh đất của họ. Thất bại của liên quân 5 nước Ả Rập đã làm nhiều chính phủ của các nước Ả Rập sụp đổ. Trong thế giới Ả Rập, Ai Cập là quốc gia lớn nhất và có ảnh hưởng nhất trong thế giới này. Nasser đã trở thành thủ tướng Ai Cập từ năm 1954 khi ông 36 tuổi. Ai Cập lúc đó là thành viên quan trọng nhất của liên đoàn Ả Rập mà họ là 1 trong các thành viên sáng lập năm 1944, và tổ chức này chính là tổ chức đã tập hợp quân đánh Israel năm 1948 để chống lại việc Israel lập quốc tại lòng của thế giới Ả Rập. Anh lúc đó vẫn còn đóng quân để kiểm soát kênh đào Sue ở Ai Cập. Ai Cập cũng tham gia vào phong trào không liên kết cùng Ấn Độ và không theo Mỹ hay LX trong chiến tranh lạnh.
Iraq: Hiệp ước Baghdad
Năm 1954, sau chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã thúc đẩy việc trang bị vũ khí cho Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và Iraq và Iran để các nước này gia nhập phe đồng minh chống lại LX. Tuy nhiên, việc kết nạp Iraq là 1 sai lầm lớn do nước này không có đường biên giới chung với LX. Và việc có Iraq làm quan hệ với Ai Cập trở lên cực kỳ xấu đi, tương tự việc trang bị cho Pakistan mà gia tăng đáng kể lo ngai jcuar Ấn Độ vì 2 nước đang tranh chấp nhau khu vực Kashmir. Mối bất hòa Iraq – Ai Cập xảy ra sau cuộc cách mạng Ai Cập đưa nước này trở thành nước cộng hòa mang hơi hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi Iraq vẫn là nước quân chủ truyền thống và Iraq có tham vọng lập lại đế chế lưỡi liềm và nếu thành công có thể thay thế vị thế lớn nhất khu vực của Ai Cập. Nhưng sự thiếu nhất quán của Anh – Mỹ đã làm cho liên minh này suy yếu và mất tác dụng trong việc chống LX khi đó.
Chiến tranh Suez
Israel với sự trở lại của Ben-Gurion đã mở cuộc tấn công vào Gaza với sự hỗ trợ của Pháp do lo ngại Ai Cập đang hỗ trợ sự trỗi dậy của người Algeria. Lực lượng Ai Cập trở lên yếu thế hơn đã lựa chọn LX để mua vũ khí bổ sung cho trang bị của mình và tiến hành chạy đua vũ trang. Việc này sau đó đã làm cả Anh, Pháp, Mỹ quay lực lại với chế độ của Nasser tại Ai Cập.
Kênh Suez ở Ai Cập được hoàn thành từ năm 1869 và được nhượng quyền kinh doanh 99 năm cho công ty khai thác kênh. Tới năm 1956, thỏa thuận này còn 12 năm nữa mới hết hạn và quyền điều hành sẽ được chuyển giao lại cho Ai Cập. Nasser đã tiến hành quốc hữu hóa công ty quản lý kênh này và đã làm Anh, Pháp dự định tấn công bằng vũ lực chiếm lại quyền kiểm soát kênh đào. Mỹ đã cố gắng đứng ra để đàm phá hòa giải nhưng bất thành. Anh trở lên xao nhãng giữa đánh hay đàm phán. Pháp bực tức đã quay ra liên kết với Israel để tiến đánh Ai Cập. Israel ban đầu tư chối đơn độc tấn công Ai Cập mà muốn cả Pháp và Anh cùng phải tham chiến. Các đợt tấn công của Israel ắt đầu từ 29/10/1956 với sự hỗ trợ mạnh của Pháp và Anh. Chiến sự nổ ra nhưng chủ yếu là Israel tấn công các vị trí của du kích Palestine đóng tại Ai Cập đã thành công và họ rút quân vào 2/11/1956. Quân Anh và Pháp đã đổ bộ lên Ai Cập nhưng cuối cùng cũng dừng không tấn công nữa trước sức ép của các lực lượng tại đại hội đồng LHP. 1 phần cũng từ sức ép của LX đe dọa tấn công Anh Pháp nếu họ tấn công trực tiếp Ai Cập.
10. Từ Suez đến cái chết của Nasser
Sau cuộc chiến tranh Suez, uy tín của Nasser trở lên cao vút. Mặc dù chịu sức ép tấn công của 3 nước khác, nhưng ông vẫn tỏ ra tự tin để kiểm soát tình hình và củng cố vị trí lãnh đạo của mình trong cộng đồng Ả Rập. Nhiều nước Ả Rập sau đó đã cắt đứt liên minh với Anh mà họ có trước đó. Học thuyết Eisenhower đưa ra nhằm lôi kéo các quốc gia vào mặt trận chống LX đã không thành công ở khu vực Trung Đông khi các nước hầu hết đều có và đã tham gia vào phong trào không liên kết và không muốn đứng về 1 bên nào trong 2 bên tham gia vào chiến tranh lạnh lúc đó.
Cách mạng ở Iraq
Năm 1957, LX thành công ký hiệp ước về kinh tế quân sự với Xyri và gây ra sự bất ổn và lo ngại lớn ở khu vực khi cán cân ảnh hưởng bắt đầu thay đổi. Nhưng những người Xyri lại có xu hướng thân Ai Cập hơn và 1 nước Cộng hòa Ả Rập thống nhất gồm Ai Cập và Xyri ra đời, sau đó có Yemen tham gia vào. Tại Iraq, Jordan các ông vua tịa đây rất lo ngai cho động thái thành lập nước Ả Rập thống nhất. Sau đó, những người cộng sản kiểm soát quân đội ở đây nổi dậy và giết chết vua và hoàng gia Iraq. Cac nước Libang, Jordan thoát được các cuộc chiến là nhờ lực lượng Mỹ – Anh xuất hiện kịp thời can thiệp vào. Tuy nhiên, sau cách mạng Iraq không trở thành 1 nước theo chế độ Cộng sản mà trở thành 1 nước trung lập. Nga có mặt ở Ai Cập, Mỹ ở Saudi Arabia, Libi, Trung Quốc cũng tham gia vào ku vực này ở Iran. Các thế lực quân sự đã thay nhau kiểm soát Iraq với bất ổn kéo dài cho tới khu Saddam Hussein lên nắm quyền và xây dựng 1 nền chuyên chế và gia đình trị với quân đội mạnh và mong muốn nâng cao vị thế của Iraq trong thế giới hồi giáo và đã tương đối thành công với mong muốn này.
Sự đi xuống của Nasser
Sau khi thành công lớn sau cuộc chiến Suez, Nasser bắt đầu suy giảm ảnh hưởng từ những năm 60s sau khi người ta nhận ra không nhận được nhiều lợi ích từ sau cộng cách mạng mà ông tiến hành. Liên bang Ả Rập với Xyri giải there năm 1961, Ai Cập còn bị kéo vào cuộc nội chiến tại Yemen vô ích và tốn kém. Sau khi Ai Cập và Saudi Arabia hòa giải, nội chiến kết thúc và thế giới Ả Rập trở lại gắn bó hơn 1 phần do sức ép từ phía Israel lên các nước này ngày 1 lớn hơn. Nhiều hội nghị thống nhất Ả Rập dưới sự lãnh đảo của Nasser đều không được ủng hộ cao và uy tín của ông tiếp tục sụt giảm trong thế giới Ả Rập.
Năm 1967: Vòng thứ 3
Israel sau 1 thời gian dài đã trở nên hùng mạnh và họ vẫn có sự hiến chiến thường trực. Khi đó, lực lượng Al Fatah do Xyri hậu thuẫn đã liên tục tấn công và quấy phá Israel và nước này quyết định mở cuộc tấn công vào Xyri để loại bở các phần tử Fatah. Israel đã tổ chức tấn công các vị trí tại Jordan và Libang là nơi lực lượng Fatah thường đồn trú làm bàn đạp tấn công vào Israel. Ai Cập có mối quan hệ với Xyri bởi liên minh Ả Rập trước đây với nước này và nhiều mối quan hệ khác. Đảng Baath nắm quyền tại Xyri niều năm nhưng đất nước này hầu như không có bạn bè thực tế với các nước khác. Assad đã đảo chính và nắm quyền năm 1970. Trước đó, năm 19156, Israel đã đánh tan quân Ai Cập – Jordan và chiếm Jerusalem chỉ trong 2 ngày 1 cách thuyết phục. Quân Israel đóng bên cạnh kênh Suez, cao nguyên Gôlan tại Xyri cũng bị họ chiếm đóng. Chiến sự lần 3 bắt đầu nổ ra khi LX tái vũ trang cho Ai Cập, người tị nạn Palestine đổ về Jordan và lực lượng du kích tại đây tăng vọt. Các cuộc chiến tiêu hao diễn ra khi LX đã hoàn toàn ủng hộ Ai Cập và Ai Cập đã ngã theo LX hoàn toàn. Cả Mỹ và LX đều không muốn chiến tranh nan rộng nên đã yêu cầu 2 bên đàm phán và giữ nguyên trạng đường biên giới các nước trước năm 1967.
Cái chết của Nasser
Cái chết của Nasser đã chấm dứt sự nghiệp của người Ai Cập cầm quyền đàu tiên kể từ sau thời Alexander Đại Đế. Phong trào giải phóng này nhằm giải phóng dân tộc, tìm kiếm sự hồi sinh về tinh thần hồi giáo, cải cách xã hội và 1 cuộc hiện đại hóa kinh tế và quân sự. Nó đã đàn áp tầng lớp quý tộc và phá bỏ chế độ quân chủ, phân chia lại ruộng đất theo cách xã hội chủ nghĩa và giành được 1 số thành công nhất định. Nền kinh tế Ai Cập rất yếu kém do quá ít đất canh tác, chiếm tỷ lệ nhỏ thương mại toàn cầu, nền công nghiệp kém phát triển. Các chính sách quốc hữu hóa tài sản của tư bản, tịch thu ruộng đất cũng làm sự tin tưởng của tầng lớn tư bản suy giảm mạnh. Ai Cập là quá tốn kém tiền của cho trang bị quân sự và không thể phát triển kinh tế được do nỗi lo sợ thường trực với Israel. Cuộc sống của người dân sau 18 năm cách mạng cơ bản không khá lên nhiều và Ai Cập lúc Nasser chết chỉ là 1 con tốt trên bàn cờ của của LX.
11. Li Băng
Khi Nasser chết, nền chính trị của Trung Đông đã bị thống trị bởi mô hình lưỡng cực Mý – Israel và LX – Ai Cập. 2 phía này chống đối nhau quyết liệt mọi mặt. Liên minh Nga – Ai Cập đã sụp đổ nhanh chóng vào năm 1972 khi Nga bắt đầu giảm trợ cấp cho Ai Cập và Ai Cập yêu cầu các chuyên gia Nga phải rút về nước. Trong khi Mỹ – Israel vẫn thể hiện 1 mqh tốt giữa 2 bên.
Cuộc chiến tranh năm 1973
Sadat đã trở lên táo bạo hơn khi hi vọng hiệp định song phương không thành và Mỹ tiếp tục tăng cường viện trợ Israel. Ngày 6/10/1973, Ai Cập bất ngờ tấn công Israel với đòn đánh phủ đầu bất ngờ và đã xuyên thủng các vị trí của quân Israel. Mỹ đã viện trợ mọi máy bay họ có cho Israel ngay lập tức, quân Ai Cập tấn công lại vượt qua tầm yểm trợ của không quân của họ và chiến thắng ban đầu nhanh chóng mất đi ưu thế. Nga cũng quyết định không đứng ngoài khi gửi viện trợ khẩn cấp cho Xyri, Iraq và Ai Cập để hỗ trợ cuộ chiến. Sau 9 ngày, quân Israel bắt đầu phản công mạnh mẽ và bao vây quân đoàn Ai cập rồi nhanh chóng tấn công tới Cairo, liên quân Xyri, Jordan, Iraq, Saudi và Nga đã thất bại trong cuộc tấn công nhằm chiếm lại cao nguyên Gôlan và đã rút quân sau 2 ngày chiến đấu. Cuộc chiến nhanh chóng kết thúc với sự thúc ép kiềm chế của Mỹ không cho Israel tổng tấn công thế giới Ả Rập do lo ngại các cuộc trả đũa trở lại của họ. Kissinger đã có nhiều lỗ lực trong giai đoạn này để thu xếp hòa bình cho khu vực, đặc biệt là việc cố gắng đạt thỏa thuận hòa bình toàn diện giữa Israel – Ai Cập, 2 nước chủ yếu trong các cuộc chiến tại khu vực giữa Israel và thế giới Ả Rập. lực lượng giải phóng Palestine (PLO) bị Israel cho ra ngoài vòng pháp luật và không công nhận đại diện cho Palestine, họ coi Palestine là những người tị nạn và không có quốc gia. Cũng năm này, cuộc chiến dầu mỏ cũng nổ ra khi các nước OPEC cắt giảm sản lượng và tăng giá bán gây sốc cho nền kinh tế các quốc gia phát triển, và dầu mỏ đã trở thành 1 vũ khí chiến lược mạnh mẽ của khu vực Trung Đông.
Nội chiến ở Li Băng
Tại Trung Đông, từ năm 1919, người Palestine bắt đầu bị bỏ rơi và bị lờ đi. Họ có khoảng 3 triệu người trong đó khoảng 1,5 triệu sống ở Israel và vùng Israel chiếm đóng, 750k ở Jordan, 400k ở li băng và 200k ở Xyri. Họ vẫn kiên trì xới lên các vấn đề chính trị và lương tâm để có thể lập 1 quốc gia cho mình với đủ mọi công cụ từ đấu tranh chính trị, đến du kích, vũ trang, khủng bố,…Họ bị thiệt hại nặng nhất trong cuộc chiến năm 1970 ở Jordan và các hoạt động của họ được chuyển sang Li-Băng, vùng đất giầu có trù phú bậc nhất khu vực nhờ những người buôn bán và các tay chủ ngân hàng ở khu vực này, đất nước Libang khá trung lập ở Trung Đông. Tuy nhiên, LIbang lại có rất nhiều căng thẳng trong các vấn đề sắc tộc giữa nữa Sunni và Shia. Người Palestine lại tràn vào Libang quá nhiều và gây mất cân bằng cán cân quyền lực giữa người Hồi giáo và người Kito giáo tại đây. Người Palestine với nhiều cây súng tổ chức khủng bố Israel cũng là nguyên nhân dẫn tới Israel thường tấn công Libang để trả đũa và càn quét các tay súng Palestine. Sau cuộc biểu tình lớn, tai Libang năm 1975, nó đã kéo thành cuộc nội chiến tại đây. Khi liên minh giữa người Palestine và cánh tả đang chiếm ưu thế thì Xyri can thiệp vào. Cả Libang và Palestine trước đây đều là các vùng lãnh thổ thuộc Xyri, họ đã đưa quân vào và áp đặt được chế độ mới tại đây để chấm dứt cuộc nội chiến. Người Palestine nằm ở nhóm thua cuộc và tiếp tục bì đàn áp, họ đã phải trốn chạy khỏi Jordan, Xyri và tới Libang. Sau đó, đất nước này bị chia cắt bởi Israel đã lập ra 1 cính phủ bù nhìn của người Kito giáo.
Sadat ở Jerusalem: Trại David
Tình trạng cát cứ chia cắt ở Libang đã được Israel thúc đẩy có ý thức, nó đang bị coi là 1 vùng đệm và đòi sáp nhập vào Israel bởi những người theo chủ nghĩa Xion (phục quốc do thái). Hành động xâm lược khu vực này được người Israel ủng hộ vì họ tin rằng làm thế sẽ đập tan các cuộc tấn công của lực lượng Palestine phản loạn. Những người Palestine khủng bố đã trở thành mối đe doạn lớn nhất với Israel hơn bất cứ nước Ả Rập nào. Về cơ bản không còn nước Ả Rập nào có ý định đánh Israel nữa sau mất lần họ tấn công thất bại. Năm 1977, rất nhiều cuộc họp và bàn luận về Israel – Palestine cũng không đi tới đâu. Sadat của Ai Cập thì mong muốn hòa bình đã đồng ý đàm phán với Israel và tiến tới thỏa thuận hòa bình khi ông đến thăm Jerusalem theo lời mời của Israel. Thỏa thuận kết thúc chiến tranh đã có, nhưng số phận người Palestine không được nhắc tới, họ có thể ở lại khu vực và dưới sự bảo trợ của Israel, nằm ở nước Israel hoặc Jordan mà không có nước Palestine nào cả. Các nỗ lực để Israel tiếp tục ký các hiệp ước hòa bình với các nước Ả Rập khác đã không thành dù Mỹ gâp áp lực rất lớn. Các cuộc đàm phán hòa bình với Israel và thế giới hồi giáo luôn gặp trở ngại khi đưa Palestine vào, Israel thì từ chối công nhận 1 nước Palestine độc lập, còn người Palestine cương quyết yêu cầu loại trừ nhà nước Israel, nhưng rõ ràng yêu cầu của người Palestine không thể làm được gì khi mà nhà nươc Israel đã quá mạnh tại khu vực và không nước nào quanh đó có thể làm gì được họ dù là vũ lực hay chính trị.
Sự xâm lược Li-Băng của Israel
Mục tiêu được đưa ra nhằm đuổi sạch người Palestine tại miền Nam Libang hay quấy phá Israel, nhưng sâu xa hơn là họ coi khu vực này là vùng đất của người Israel từ thời xa xưa và nó tồn tại trong kinh thánh của họ, nơi mà vùng đất thuộc đất nước Do thái và nước Israel xa xưa sở hữu. Họ đã xúi dục người Kito giáo tại Libang nổi dậy chống lại người hồi giáo và lập ra khu vực nhà nước riêng thân Israel. Quân Israel với ưu thế vượt trội dễ dàng thành công về mặt quân sự và tiến sát Berut, sau đó các nhóm quân Kito giáo tấn công vào phía Đông và phía Tây Berut, quân Palestine phải rút lui khỏi khu vực trong thất bại. Nhưng về mặt chính trị thì việc này bị lên án mạnh mẽ và mất lỏng cả Mỹ, nước ủng hộ chính yếu của Israel. Hộ còn tiến hành cuộc thảm sát ở trại tị nạn của người Palestine tại khu vực này. Các lực lượng gìn dữ hòa bình của LHP đã được triển khai tại miền Nam Libang được triển khai để giám sát việc di tản của PLO và người Xyri khỏi khu vực này. Lực lượng quân đội của Libang rất mỏng và chủ yếu là quân đội Xyri đóng tại đây dưới danh nghĩa quân đội của khối Ả Rập để bảo hộ cho Libang. Sau nhiều năm chiến tranh, cuối cùng năm 1985, Israel rút quân khỏi khu vực, Xyri thì không làm được việc thống nhất lại Libang, PLO sau khi bị đánh nhiều năm cũng không bị tiêu diệt hoàn toàn mà đã tai lập trở lại ở khu vực sau khi Israel rút đi với các trại quanh Beirut và Sidon. Đất nước Libang cơ bản bị phân rã thành 3-4 khu vực, 1 khu vực do Israel dựng 1 chính phủ bù nhìn kiểm soát, 1 khu vực có lực lượng Palestine, 1 khu vực có lực lượng quân sự mà Iran hậu thuẫn và 1 khu vực do nhà nước Libang với quân Xyri bảo trợ.
Chính sách ngoại giao của vua Hussein
Vua Hussein là vua của Jordan và ông khá tích cực trong việc tìm kiếm hòa bình cho khu vực bằng ngoại giao. Ông đã có nhiều bước tiến trong đàm phán với nhà lãnh đọa Israel là Shimon Peres và đã đạt được thỏa thuận đổi đất lấy hòa bình với Jordan, nhưng các cuộc đàm phán này hầu như bỏ qua người Palestine và PLO khi không coi họ là 1 lực lượng quan trọng trong đàm phán, và các bên đều từ chối cấp cho Paletstine quyền xây dựng đất nước độc lập. Thực tế, phần lãnh thổ mà hiệp ước của LHP ký với Israel và Palestine năm 1947 phần đất của người Palestine đã bị Jordan chiếm đóng. Lực lượng Palestine cũng thực hiện nhiều vụ khủng bố, cướp máy bay, đánh boom tự sát để gây chú ý cho dư luận về hoảng cảnh đáng thương của dân tộc mình và mong chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài. Cuộc chiến xâm lược Kuwait của Iraq đã làm thay đổi sự chú ý từ sự kiện Palestine sang sự kiện này và thu hút giới Ả Rập vào liên minh của Mỹ để đánh Iraq. Hầu hết các nước đều mong muốn hòa bình với Israel vì nhận ra đã hiện tại đã không thể chiến thắng về mặt quán sự với Israel. Có Xyri là cương quyết đòi lại lãnh thổ đã mất về Israel và mơ hồ muốn xây dựng lại nước đại Xyri trước kia bao gồm cả Libang,Palestine, 1 phần Jordan và cả 1 phần Israel. Israel thì luôn thực hiện chính sách đàm phán với Xyri và Jordan để có hòa bình và gạt bỏ Palestine và không đàm phán với PLO hay người Palestine vì không coi họ là 1 đất nước, Israel chỉ coi họ là những người tị nạn ở trong mỗi vùng của 1 đất nước khác nhau. Giai đoạn này cũng chứng kiến sự ra đời vũ khí hạt nhân của Israel từ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ dành cho họ và khẳng định vị thế quân sự độc tôn của mình ở khu vực Trung Đông mà không nước nào có thể chống lại được, đặc biệt khi họ liên minh chặt chẽ với Mỹ.
12. Chiến tranh Vùng Vịnh
Iran nằm ở trung đông, nhưng lại không hẳn nằm ở thế giới Ả Rập. Họ làm người Ả Rập nhớ tới cuộc chinh phục đầy căm phẫn ở thế kỷ 17 và tàn bạo hơn nhiều cuộc chinh phục của Mông Cổ trong thế kỷ thứ 13. Iran là thành trì duy nhất của người hồi giáo dòng Shia, 1 nhánh thiểu sổ người hồi giáo, trong khi ở các nước Ả Rập khác người hồi giáo dòng Sunni là những người nắm quyền kiểm soát đất nước. Iran rất giầu có về dầu mỏ, và nền công nghiệp cũng rất phát triển so với các nước Ả Rập khác. Iran đã duy trì được độc lập của mình qua hầu hết thời gian tồn tại, họ bị chiếm đóng bởi Anh và Nga vì vị trí chiến lược cung cấp dầu mỏ của họ cho quân đội 2 nước nhưng không bị chiếm đóng hoàn toàn, lực lượng Nga và Anh cũng tuân theo hiệp ước và rút đi khi chiến tranh thế giới II kết thúc.
Dầu mỏ và chữ nghĩa dân tộc tại Iran
Mối quan hệ giữa Iran và Anh dần trở lên xấu đi bởi sự tồn tại của công ty dầu mỏ liên doanh giữa Anh và Iran mà lợi ích chủ yếu thuộc về Anh và gây vấn đề căm phẫn trong nội bộ Iran và đòi đàm phán lại các điều khoản của thỏa thuận nhượng quyền giữa Anh và Iran. Năm 1951, ngành dầu mỏ tại Iran bị quốc hữu hóa và thỏa thuận với Anh chấm dứt. Tuy nhiên, việc này gây gián đoạn hoạt động khai thác dầu và nền kinh tế Iran bị suy sụp nhanh chóng trong năm 1952 và không được Mỹ hay WB cung cấp các khoản vay để trợ giúp nền kinh tế của họ. Sự thành công rồi thất bại của Musaddiq nhanh chóng kết thúc và vua Iran quay trở lại nắm quyền và đàm phán lại các vấn đề dầu mỏ với công ty dầu mỏ nhà nước Iran sở hữu dầu lửa, 1 liên doanh 8 công ty dầu mỏ của Anh, Mỹ, Pháp cùng tham gia và vận hành nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới thời đó là Abadan và trả cho Iran 50% lợi nhuận từ đó.
Sự cai trị của vua Iran
Vị vua Iran này đã đàn áp dã man những người lãnh đạo cánh tả thất thế tại đây và áp dụng chế độ quân sự hóa cho tới năm 1957, rồi áp dụng chế độ cai trị dân sự từ đó trở đi nhưng chỉ những người phục tùng ông mới được sử dụng cho vào các vị trí thủ tướng. Quan hệ chính trị của Iran cũng được cải thiện đáng kể với Mỹ, Anh rồi với LX. Nhà vua Iran tiến hành hiện đại hóa đất nước theo kiểu Mỹ và ngân sách rất tốt trong giai đoạn đầu khi giá dầu liên tục tăng, nhưng rồi tham nhũng tràn nan, sự yếu kém của chế độ quản lý, 1 bộ máy cảnh sát tàn ác đàn áp dã man người chống đối đã làm sụp đổ chế độ của ông và người hưởng lợi chính là giáo sỹ Khomeini, 1 người bảo thủ cứng rắn.
Thắng lợi của Khomeini
Khomeini là 1 người có nhiều uy lực, nhiều nhóm đối lập với vua Iran tập hợp xung quanh ông ta hoặc là tránh xa ông ta. Ông đã tuyên bố 1 nhà nước Cộng hòa hồi giáo và đặt ra 1 chế độ hà khắc hơn cả chế độ của vua Iran. 1 chính quyền dân sự được thành lập do Bazargan làm thủ tướng nhưng không có nhiều thực quyền, phần lớn quyền lực do Khomeini thao túng phía sau dưới vai trò tôn giáo. Tháng 11, sự kiện tấn công đại sứ quán nổ ra là 1 cuộc khủng hoảng với Mỹ. Chủ nghĩa chống Mỹ lên cao tại đây vì họ coi Mỹ là chủ mưu phía sau vua Iran và việc bắt Iran để ép Mỹ trao trả vua Iran về nước để xét xử về tội phản quốc. Việc áp đặt lệnh trừng phạt lên Iran không thành công do họ vẫn có quan hệ buôn bán với châu Âu và Nhật Bản, việc Mỹ muốn dùng những người ôn hòa để nối lại quan hệ với Iran cũng không thành do quan điểm cứng rắn của giáo chủ Iran và lo ngại Nga can thiệp vào Iran nếu đất nước này bị chia rẽ theo hiệp định Nga – Iran năm 1921. Mỹ đã tiến hành cuộc giải cứu bằng quân sự nhưng thất bại và bị tổi hại uy tín nghiêm trọng tại đây.
Saddam Hussein
Ở Iraq, tư fnawm 1968 đảng Baath lên nắm quyền và kiểm soát đất nước, sau đó từ năm 1979 Saddam Hussein chính thức lên nắm quyền kiểm soát đất nước với nhiều tham vọng lớn. Ông nhìn về phía Nam với việc khẳng định vai trò của Iraq ở vùng Vịnh, và đối thủ chính của ông là Iran và Saudi Arabia. Kể từ khi 2 nước này được Mỹ ủng hộ đã có sự phát triển nhanh chóng, Hussein đã quay sang nhờ Nga khi 2 đối thủ của họ thân Mỹ. Iraq cũng tiếp cận các lò phản ứng hạt nhân, mua vũ khí từ các nước phương tây để hiện đại hóa quân đội, nhưng lỗ lực của họ bị cản trở khi Israel đã ném boom các cơ sở hạt nhân của Iraq. Từ nguồn dầu mỏ phong phú, Iraq bắt đầu việc hiện đại hóa đất nước, xóa mù chữ, phát triển công nghiệp, nông nghiệp từ nguồn vốn đầu tư công chính phủ. Iraq trở thành nước xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới vào cuối thập kỷ 70 với 3,7 triệu thùng/ngày.
Năm 1980, Iraq tấn công Iran, sau khi nhà vua Iran sụp đổ tại đây và phải bỏ trốn khỏi đất nước và Hussein nhận ra cơ hội có thể chiến thắng và đánh bại Iran. Ông cũng nghi ngờ giáo chủ Iran cuồng tín cổ vũ các vụ bạo loạn của người Shia ở Iraq, cũng như lo ngại sự ủng hộ của Iran với người Cuốn ở phía Bắc Iraq luôn gây rối. Iran – Iraq cũng có chung đường biên giới là con sông Shatt al chảy ra vịnh Persian. Iraq ban đầu quản lý con sông này dưới sự cho phép của đế chế Ottoman. Sau đó Iran dần lớn mạnh và giành quyền kiểm soát nhiều hơn con sông và phân định lại ranh giới. Iraq tuyên bố toàn bộ sông Shatt là thuộc Iraq quản lý năm 1969, Iran thì hậu thuẫn người Cuốc chống phá Iraq và sau đó 2 nước đành ngồi lại với nhau chấp thuận thỏa ước sử dụng chung con sông. Sau khi vua Iran sụp đổ, đất nước hỗn loạn và mất đi sự ủng hộ của Mỹ thì Hussein đánh giá mình có thể giành chiến thắng trước 1 Iran đang rốn loạn nên đã chủ động tấn công.
Nhưng Hussein đã nhầm, Iran dưới sự lãnh đạo của Khomeini đã không tan vỡ và chống trả thành công cuộc tấn công của Iraq. Iraq ban đàuthành công nhưng sau đó họ lại tạm dừng tấn công với suy nghĩ đã giành chiến thắng. vài tuần sau, Iran bắt đầu phản công và dần lấy lại thế trận, 2 nước sau đó rơi vào trạng thái giằng co với nhau trên chiến trường và không ai thật sự giải quyết được đối phương. Cuộc chiến kéo dài dai dẳng với vài lần tấn công sang lãnh thổ quốc gia đối phương nhưng không đi đến đâu. Các vấn đề này còn bị quốc tế hóa ra ngoài phạm vi 2 nước. Iraq cũng dụ dỗ Mỹ phong tỏa Iran để chống lại việc Iran lật đổ vua của họ và thành lập nước hồi giáo. Cuộc chiến ở Iraq có sự ủng hộ mạnh mẽ của Kuwait vì lo ngại 1/3 dân số Kuwait là người Shiite có thể bị Iran xúi giục làm loạn nếu họ chiến thắng. Mỹ cũng có tham gia tích cực ủng hộ Iraq nhưng không trực tiếp tham chiến. 2 nước kết thúc chiến tranh vào năm 1988 sau nhiều năm dai dẳng. Năm 1989, Khomeini qua đời, nhưng ông để lại di sản là 1 đất nước thần quyền cai trị và chống đối văn minh phương tây với 1 nền chuyên chế hà khắc, chiến tranh kéo dài đã làm kiệt quệ nền kinh tế Iran.
Kuwait và cuộc chiến tranh Vùng Vịnh
Kuwait là 1 phần của đế chế Ottoman trước kia và nó là 1 nước nhỏ bé nằm giữa các nước lớn với sự giầu có về dầu mỏ của mình. Nó được cai trị bởi 1 dòng tộc của đế chế Ottoman từ thế kỷ 18-20 và sau đó được Anh bảo hộ để chống lại sự bành trướng của Nga và Đức tới vùng Vịnh. Nhưng Iraq lại cho rằng Kuwait phải được Iraq thừa kế khi đế chế Ottoman sụp đổ. Năm 1961, sau khi Iraq giành được độc lập từ Anh đã liên tục yêu cầu đòi chủ quyền với Kuwait nhưng do có lính Anh đóng tại đây nên chưa có hành động gì cụ thể. Iraq đã dễ dàng chiếm đóng Kuwait vào năm 1990 và dựng nên chế độ bù nhìn tại đây, họ cướp bóc để có tiền trang trải cho các chi phí chiến tranh kéo dài với Iran mà Iraq đang nợ các nhà cung cấp vũ khí và bị ráo riết đòi nợ. Nhưng việc đánh Kuwait của Iraq đã gây ra phản ứng rất mạnh của LHP và liên đoàn Ả Rập với Iraq, Hussein đã nhầm to khi cho rằng người Kuwait sẽ chào đón ông như vị anh hùng giải phóng dân tộc. Điều này đã làm tạo ra 1 liên minh rộng rãi nhưng nước chống lại Iraq sau hành động này. Cuộc chiến với Iran được nhiều nước phương tây ủng hộ đã làm Hussein ảo tưởng về tham vọng đánh chiếm nước khác trong khu vực của mình cũng được phương tây ủng hộ. Lo lắng về việc Iraq có thể tiếp tục tấn công các nước Ả Rập khác đặc biệt Arabia đã làm Mỹ đưa 250k quân tới khu vực và tấn công Iraq nhằm giải quyết lo lắng này. Liên đoàn Ả Rập gồm 21 thành viên đã cố gắng hòa giải để không xảy ra chiến tranh và buộc Iraq rút khỏi Kuwait nhưng không thành công. Hussein còn bắt người nước ngoài nhốt ở các cơ sở nhậy cảm để tạo sức ép lên các nước tham gia liên minh chống Iraq vi phạm công ước Geneve về đối xử với thường dân 1 cách trắng trợn. Hussein cũng từ chối việc rút quân khỏi Kuwait theo yêu cầu của LHP và đàm phán với Mỹ và liên quân. Mỹ đã giành được đa số suýt soát để tiến hành chiến tranh phủ đầu Iraq. Họ ra tối hậu thư vào ngày 15/1 buộc Iraq phải rút khỏi Kuwait. Nếu Iraq rút quân, Hussein chắc chắn sẽ bị lật đổ nên ông cương quyết không chịu rút. Sua thời hạn chót, Mỹ bắt đầu mở các đợt không kích dữ dội vào Iraq, lực lượng không quân Iraq bị đánh tan nhanh chóng, cả hải quân và lực lượng trên bộ đều tan tác sau 6 tuần. Sau đó liên quân tiến vào giải phóng Kuwait trong vòng 1 tuần, người Iraq bị giết khoảng 50-100k người. Mỹ đã leo thang và lật đổ chế độ Hussein sau đó nhưng không thành công. Mỹ và LHP áp đặt lệnh cấm vận lên Iraq sau đó làm đất nước Iraq ngày 1 kiệt quệ hơn.
13. Bán đảo Ả Rập
Vương quốc Saudi Arabia
Đây là 1 khối liên minh lịch sử tỏa sáng trên 1 hũ vàng. Họ có lượng dự trũ dầu chiếm ¼ của thế giới và là nhà sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới (9,5 triệu thùng/ngày) và là thành viên chính của OPEC. Họ có mối liên minh mật thiết với Mỹ và Mỹ luôn dùng mọi cách bảo vệ họ trong hòa bình và ổn định. Vương quốc này gần như ôm trọn bán đảo Ả Rập với nhiều vị hoàng thân và hoàng tử trong đó. Sau khi anh rút quân năm 71, Saudi Arabia trở thành 1 vương quốc hùng mạnh nhưng dân số lại rất ít với 6-7 triệu dân. Họ càng giầu có thì càng làm các quốc gia khác them thuồng muốn xâm chiếm. Họ đã thận trọng tìm kiếm đồng minh để xây dựng 1 lực lượng vũ trang hùng mạnh để bảo vệ đất nước. Mỹ đã xâm nhập Trung Đông từ của ngõ này qua cty dầu mỏ Aramco, mà ban đầu là liên doanh giữa Saudi Arabia – Mỹ với ty rleej 50:50. Vai trò của Saudi ngày càng lớn lên nhờ vị thế kinh tế ngày càng cao của họ. Quốc gia này cũng vẫn duy trì được lối cai trị vương quốc truyền thống lỗi thời so với các quốc gia khác. Hệ thống thứ bậc được xác định rõ ràng, ai là người kế vị tiếp theo theo thứ bậc đựa duy trì.
Yemen
Đất nước này trước đây là 1 phần của lãnh thổ đế quốc Ottoman từ 1872 – 1919 và được các vua chúa hồi giáo cha truyền con nối liên tục tới năm 1962. Anh là nước bảo hộ Yemen đến năm 1974. Yemen cũng tham gia vào các liên minh với Ai Cập và Arabia nhưng không đi tới đâu. Năm 1956, vị vua mới của Yemen lên ngôi và nội chiến bùng nổ, quân Ai cập tham gia và Arabia tham gia ủng hộ phía đối lập tại Yemen. Cuộc chiến giằng co tới tận năm 1970 khi Ai Cập rút quân khỏi đây, cuộc bầu cữ diễn ra và phe Cộng hòa giành thắng lợi từ bầu cử. Sau đó, Anh rút dần quân khỏi các sứ bảo hộ và dần vô chủ. Phần Eden thuộc Anh bị bỏ quên và thành lập 1 nước độc lập sau khi Anh rút đi, phần này sau đó hợp nhất với Yemen thành nước Yemen thống nhất vào năm 1990. 2 lực lượng quân đội lại không được hợp nhất và nội chiến lại nổ ra năm 1994 tại đây.
Muscat và Oman
Tại vương quốc nhỏ Muscat và Oman, nơi mà 1 cuộc đảo chính đã diễn ra và đã đưa 1 quốc vương hồi giáo lên nắm quyền năm 1970. Sau đó, đảng Mặt trận nhân dân giải phóng Oman dưới sự trợ giúp của Nga và TQ đã duy trì chiến tranh với phe quốc vương tại đây. Năm 1975, quốc vương chiến thắng trong nội chiến với sự giúp đỡ của Anh, Iran và Mỹ.
Vịnh Persian Gulf (Vịnh Péc Xích)
Trong những năm 1970, khu vực này cũng giống như Berlin ở vào thập kỷ 60s khi bị chia cắt bởi 2 thế lực chính là Mỹ và Nga. Phía đầu vịnh là Iraq, sau đó là Kuwait, rồi Saudi Arabia, tới Bahrain, Qatar, các nước thuộc khối hiệp ước (Trucial) và tới nhà nước Muscat và Oman. Kuwait thường quan hệ tốt với Ai Cập, trong khi các nước còn lại lại có quan hệ với Ấn Độ và Pakistan. Anh ban đầu kiểm soát khu vực này để nắm giữ vị thế thống trị trên đường tới Ấn Độ. Dần dần, khu vực này sản xuất ngọc trai phát triển rồi tới dầu mỏ và vị trí chiến lược của nó ngày 1 cao hơn so với các khu vực khác. Anh cũng có các cam kết bảo hộ lâu dài tại khu vực này và đảm bảo được quyền lợi trong nhiều năm của họ tại khu vực. Nhưng từ sau chiến tranh thế giới II, phong trào dân tộc chủ nghĩa bùng nổ đã buộc Anh phải đàm phán và rút quân khỏi các nước trong khu vực và mất đặc quyền kinh tế của mình tại đây.
IV. Châu Á
14. Tiểu lục địa Ấn Độ
Sau thế chiến II, Ấn Độ vẫn là 1 thuộc địa chỉ Anh và phong trào đòi độc lập ôn hòa rất mãnh mẽ. Các cuộc cải cách cảu Anh đã diễn ra sau đó và Ấn Độ bị chia cắt khi Anh trao trả độc lập cho quốc gia này. Chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ lên cao và đỉnh cao là khi quốc hội Ấn Độ được thành lập năm 1885, và chủ yếu là chế độ chống Anh tại đây và đổ cho Anh đã làm họ suy yếu so với các quốc gia khác như Nga, Nhật Bản và Trung Quốc. Đất nước Ấn Độ bị chia rẽ sâu sắc bởi 2 cộng đồng người Hindu và Hồi giáo, trong đó người Hindu chiếm đa số tại đây.
Tháng 6/1948, Anh tuyên bố từ bỏ Ấn Độ và trao trả độc lập. Ấn Độ khi đó bao gồm 562 tiểu quốc khác nhau nằm trong vương quốc. Anh chia cắt Ấn Độ làm 2, với đất nước Ấn Độ cho người Hindu và Pakistan cho người Hồi Giáo, các tiểu quốc được tự lựa chọn gia nhập vào Ấn Độ hoặc Pakistan. Trong đó có 3 bang tự tuyên bố độc lập tách khỏi Ấn Độ và Pakistan nhưng không thành công, trong đó có bang tranh chấp là Kashmir. Nehru trở thành thủ tướng Ấn Độ mới và nắm quyền cho tới khi qua đời năm 1964, ông là người theo đường lối ôn hòa, đảng Quốc đại của ông đã duy trì được quyền lực kiểm soát Ấn Độ. Đời sống Ấn Độ bị chia rẽ chủ yếu do vấn đề ngôn ngữ do quá nhiều ngôn ngữ cùng tồn tại ở đất nước này và không ai chịu ai trong việc sử dụng ngôn ngữ chung thống nhất trên cả nước. Về đối ngoại, Nehu tham gia khối thịnh vượng chung và là nhà lãnh đạo phong trào trung lập, không liên kết. Nhưng Ấn Độ lại cực kỳ lơ là phòng bị Trung Quốc và luôn tự cho rằng có thể sống hòa bình với Trung Quốc, đất nước có chung đường biên giới với mình. Họ chủ yếu lo sợ vấn đề Pakistan nơi mà chính phủ dân sự bất ổn, sau đó là 1 chính quyền quân sự còn đáng lo ngại hơn và vùng đất Kashmir nơi mà Pakistan chiếm 1 phần và Ấn Độ chiếm 1 phần khi phân chia lãnh thổ năm 1948 và họ tiếp tục tranh giành nhau lãnh thổ này suốt nhiều năm sau đó cho tới tận ngày nay.
Năm 1950, Trung Quốc tiến quân vào Tây Tạng và dẹp bỏ nhà nước bán độc lập tại đây được cai trị bởi vị Đạt Lai Lạt Ma. Chế độ này đã cai trị Tây Tạng từ thời Đế quốc Mông Cổ cho phép họ làm điều đó nằm trong lòng đế quốc Mông Cổ. Vào đầu thế kỷ 20, năm 1903, khi quân Anh và Nga tiến vào Tây Tạng, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đã trốn sang Mông Cổ rồi sang TQ và sống tại đó, sau đó lại quay lại Tây Tạng năm 1909 rồi lại ra đi năm 1910 sang Ấn Độ do lo sợ người Trung Quốc. Khi nhà thành tại Trung Quốc sụp đổ, vị Đạt Lai Lạt Ma này trở về Tây Tạng và tiếp tục nắm quyền kiểm soát khu vực này. Sau cái chết của ông năm 1933, người Trung Quốc đã quay lại đây lấy cớ chia buồn và đóng quân đồn chú tại đây không rời đi nữa. Vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vừa lên ngôi khi còn trẻ tuổi và được Quốc Dân Đảng đưa lên và phải bỏ trốn và sống lưu vong tới ngày nay khi quân của Đảng CS tiến vào Tây Tạng để kiểm soát khu vực. Ấn Độ dù phản đối nhưng cũng lấy lệ vì đó là vấn đề nội bộ của TQ được xác định từ trước. Năm 1954, Ấn Độ và Trung Quốc ký hiệp ước thông thương qua Tây Tạng nơi mà họ cùng tiếp giáp với nhau. Từ giữa năm 1950, Trung Quốc cho quân tiến vào và xây dựng con đường tại Aksai Chin, là khu vực dẫy núi Côn Luân là khu vực không rõ ràng phân định biên giới giữa Ấn Độ và TQ. Ban đầu Ấn Độ im lặng vờ như không biết điều này và tập trung vào vấn đề Pakistan. Con đường nối Tây Tạng và Tân Cương được hoàn thành sau đó, nhưng điều này bắt đầu lộ ra khi 1 toán tuần tra của Ấn Độ bị TQ bắt năm 1958 và thổi bùng sự phản đối mạnh mẽ tại Ấn Độ về con đường vi phạm chủ quyền của khu vực Ấn Độ coi là của mình. Năm 1959, Đạt Lai Lạt Ma lại chạy trốn sang Ấn Độ cùng 1 số người Tây Tạng và bắt đầu sống lưu vọng từ đó. Tại khu vực, Ấn Độ cũng duy trì ảnh hưởng được ở các nước sát biên giới và nằm trong dãnh Himalaya như Sikkim, Nepal, Bhutan và ngăn chặn sự ảnh hưởng của TQ lên khu vực này.
Những cuộc chiến tranh hạn chế
Các cuộc đàm phán về biên giới cũng được tiến hành trong những năm 50 nhưng chỉ ở những cấp thấp và không đi tới đâu. Năm 1962, TQ ký hiệp định biên giới với Pakistan và Nepal, nhưng họ lại bất ngờ tấn công vào Ấn Độ bằng vũ lực 1 cách khó hiểu. Quân Ấn Độ yếu kém về hậu cần và tình báo đã bị đánh bại 1 cách nhục nhã. Sau đó TQ bất ngờ rút quân khỏi các khu vực chiếm được và họ vẫn thể hiện mong muốn đàm phán vấn đề biên giới, nhưng người Ấn Độ và Nehru cảm thấy quá nhục nhã đã không đồng ý đàm phán về vấn đề này. Trong khi đó, Pakistan lại vừa được Mỹ cung cấp viện trợ quân sợ để lôi kéo nước này vào nhóm các nước chống LX trên toàn cầu của họ, nhưng điều này lại làm Ấn Độ lo ngại việc Mỹ ủng hộ Pakistan chiếm khu vực Kashmir. Cuối năm 1964, Pakistan bắt đầu chuẩn bị sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc tranh chấp tại Kashmir sau khi thủ tưởng Nehru qua đời.
Ngày 28/8/1965, chiến tranh bùng nổ khi Pakistan tấn công vào khu vực Ấn Độ kiểm soát và chấm dứt lệnh ngừng bắn từ năm 1949 mà LHP tổ chức ở khu vực này. Sau đó là máy bay niếm boom của Pakistan nhưng không thành công. Quân đội Ấn Độ bắt đầu tổ chức phản công tấn công sang khu vực Pakistan kiểm soát. Trọng trấn chiến này, quân đội Ấn Độ đã chiến đấu tốt và xóa bỏ được phần nào sự nhục nhã khu thua TQ vào năm 1962, quân Ấn Độ sau chiến thắng tiếp tục đóng lại phần đất của Pakistan mà không rút về đường biên giới năm 1949. Sau thất bại, người Mỹ đã không giúp đỡ Pakistan và nước này dần ngả theo TQ, đất nước có chung đường biên giới với họ. Vị trí của Ấn Độ rõ ràng có ý nghĩa chiến lược hơn Pakistan nhiều và các cường quốc cần chú ý ưu tiên chính sách với Ấn Độ hơn. Sau cái chết của Nehru và cuộc chiến Kashmir, các tranh cãi về đường lối ngoại giao của Ấn Độ nổ ra vì các chính sách của Nehru không đem lại nhiều giá trị thực tiễn cho Ấn Độ về mặt vật chất. Chính trị Ấn Độ sau đó cũng rối loạn khi con gái Ghandi lên làm tổng thống nhiều năm và bị ám sát sau đó. Nền kinh tế của Ấn Độ phát triển rất chậm chạp trong nhiều năm kể từ khi giành được độc lập tới những năm 90.
Bangladesh
Tại Pakistan cuối những năm 60, tình trạng hỗn loạn ở nội bộ diễn ra triền miên dưới sự cai trị của Ayub Khan. Miền đông Pakistan tâm lý ly khai bùng lên mạnh mẽ của liên đoàn Awami. Họ đòi quyền tự trị rộng rãi ở khu vực này, quân đội được cử đến để đàn áp những người đòi ly khai và các cuộc giao tranh nổ ra tại đây. Lượng người tị nạn đổ dồn sang Ấn Độ ngây lo ngại lớn và Ấn Độ cử quân tiến vào Tây Bengal, lực lượng Pakistan với 90k quân tại đây đầu hàng, nhà nước Bangladesh độc lập được thành lập với phần đất phía đông của Pakistan và tách ra từ đó. Đất nước này trở lên rối loạn, tham nhũng, khủng bố, đảo chính liên tục diễn ra.
Tân Pakistan và Ấn Độ
Mối quan hệ Ấn Độ và Pakistan luôn là vấn đề thường trực. Sau khi Bangladesh độc lập, Ấn Độ đã phải từ bỏ không liên kết để ký 1 thỏa thuận với LX nhằm đối trọng với việc Pakistan được Mỹ hậu thuẫn. Pakistan đã đi lên con đường hạt nhân và tìm kiếm sự giúp đỡ từ Pháp.Năm 1974, Ấn Độ đã có vụ thử hạt nhân thành công và càng kích thích Pakistan phát triển nó để làm đối trọng. Pakistan có nền kinh tế lệch lạc với chi tiêu quốc phòng chiếm quá 40% tổng ngân sách, và cộng thêm thanh toán nợ quốc tế chiếm 85-90% ngân sách. Chế độ cai trị quân đội hà khắc và nền kinh tế yếu kém. Con gái của cựu thủ tướng bà Bhutto về nước cũng nắm quyền được 1 số năm nhưng cũng thất bại sau đó. Mâu thuẫn giữa Ấn Độ và Pakistan vẫn liên tục diễn ra khi có thêm các lực lượng hồi giáo chống đối Ấn Độ hoạt động ở khu vực của Pakistan và thường sử dụng vũ lực, khủng bố đe dọa khu vực Ấn Độ kiểm soát càng làm gia tăng sự bất ổn tại đây.
15. Bán đảo Đông Dương
Khu vực tranh chấp nhiều nhất tại Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ II chính là khu vực Đông Dương. Người Pháp thiết lập vị trí của mình ở châu Á muộn hơn các nước khác, chủ yếu sau thất bại của họ trong chiến tranh Pháp – Phổ năm 1870-1871. Họ đã tham gia vào việc giành giật bất cứ thứ gì có thể từ sự chia cắt của đế chế Ottoman và Trung Hoa khi 2 đế chế này suy yếu. Tunisia, Madagascar bị chiếm, Việt Nam bị chiếm đóng với vai trò hạt nhân của thuộc địa Đông Dương. Họ chiếm Bắc Kỳ rồi làm bàn đạp để tiến vào TQ và miền Nam, rồi các vương quốc Campuchia, Luông Phrabang và va chạm với người Anh tại Miến Điện.
Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đất nước Việt Nam bị chia cắt giống Triều Tiên và Indonesia khi mỗi bên được giải phóng bởi 1 lực lượng đối lập. Người Anh tiến vào miền Nam và người Trung Quốc tiến vào miền Bắc Việt Nam. Sau khi anh rút lui, họ đã dọn đường cho người Pháp quay trở lại miền Nam Việt Nam. Việt Nam được công nhận là 1 nước tự trị nằm trong khối liên hiệp Pháp, nhưng Pháp từ chối thống nhất 3 miền Việt Nam, sau đó đổ bộ quân vào Hải Phòng và đánh chiếm Hà Nội. Cuộc chiến nổ ra 9 năm tiếp theo. Pháp đã dựng lại Bảo Đại với lời hứa thống nhất đất nước, Việt Minh dựa vào vùng biên giới phía Bắc với sự giúp đỡ của Trung Quốc đã chống trả quyết liệt, từ năm 1950 Việt Minh bắt đầu nắm quyền chủ động trên chiến trường với sự chỉ huy của tướng Võ Nguyên Giáp tài ba. Quân Pháp dần chán nản cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng vì thể diện nên quyết định đổ bộ lại ở Điện Biên Phủ, vị trí chiến lược để ngăn Việt Nam tấn công vào Lào. Họ tập trung quân tại đó vì lực lượng vượt trội với quân Việt Minh để ép Việt Minh phải chiến đấu trực diện thay vì cuộc chiến du kích thuộc địa cổ điển diễn ra nhiều năm qua. Người Mỹ đứng sau tài trợ cho Pháp trong cuộc chiến và không định can thiệp vào, nhưng họ dần thay đổi khi suy nghĩ về việc để mất Việt Nam thì chủ nghĩa Cộng sản sẽ bành trướng ra ngoài khu vực châu Á từ TQ như đã làm được ở Triều Tiên. Người Mỹ đã từ chối can thiệp vào trận Điện Biên Phủ khi đó do lo ngại LX và TQ cũng sẽ tham gia trực tiếp vào đây. Hiệp định Genevo được ký kết với việc chia Việt Nam làm 2 qua vĩ tuyến 17, Việt Nam cơ bản được công nhận độc lập nhưng lại bị chia cắt. Người Việt hi vọng thống nhất đất nước sau 2 năm bằng cuộc tổng tuyển cử nhưng đã thất bại.
Chính quyền miền Nam VN được thành lập bởi Bảo Đại có dân số ít hơn và sẽ thất bại khi tổng tuyển cử được diễn ra. Vì vậy, Mỹ tìm cách chống đối lực lượng Cộng sản bằng cách ủng hộ chính phủ miền Nam để chống lại chế độ miền Bắc tương tự như cách Hàn Quốc làm được trước đó. Mỹ lại coi Hồ Chí Minh như 1 chư hầu của TQ mà không coi ông như 1 Tito ở Châu Á. Đồng thời với đó, Mỹ hình thành 1 liên minh chống TQ mới ở châu Á gọi là SEATO. Tổ chức này giải thể năm 1975 sau khi Mỹ thất bại hoàn toàn ở Việt Nam. Trong quá trình đình chiến, vĩ tuyến 17 dần trở thành ý nghĩa chính trị khi lực lượng miền Nam từ chối tổng tuyển cử. Miền Bắc tiến vào cuộc cải cách ruộng đất, phát triển công nghiệp dưới sự giúp đỡ của LX.
Trong khi đó, miền Nam chính quyền bị Ngô Đình Diệm thay thế, ông ta chống đói mọi thứ và không thật sự thân thiết Mỹ, nhưng vẫn viện trợ rất nhiều từ Mỹ. Ông ta tổ chức chế độ kiểu gia đình trị và chính quyền tỏ a khá yếu kém trong quản lý. 1 số cuộc nổi dậy chống Ngô Đình Diễm đã diễn ra đầu những năm 60 không thành. Miền Bắc cũng bắt đầu đưa quân trở lại miền Nam để tấn công chế độ Ngô Đình Diệm. Sau các vụ sô sát với phật giáo, Ngô Đình Diệm bị ám sát và chế độ sụp đổ, 1 loạt các tướng khác đã lên nắm quyền qua các vụ đảo chính quân sự sau đó. Mỹ vẫn cố duy trì việc không can thiệp trực tiếp vào các vân đề châu Á. Nhưng họ dần nhận ra nếu không can thiệp trực tiếp sẽ không thể giải quyết được vấn đề. Quân Mỹ bắt đầu đổ vào Việt Nam từ 23k quân năm 1964 lên 390k quân năm 1966 và 550k quân vào đầu năm 1968. Máy bay cũng được huy động cho cuộc chiến nhưng vẫn không đi tới đâu. Trong khi đó, Nam Việt Nam và đồng minh có quân số khoảng 1,25 triệu. Để đối phó với khoảng gần 1,8 triệu quân ở miền Nam này, tướng Giáp đã thể hiện là 1 vị tướng xuất sắc bậc nhất về chiến tranh du kích. Sau khi Johnson lên làm tổng thống, ông ta bị ảo tướng sẽ chiến thắng Việt Nam bằng lực lượng không quân hùng mạnh của Mỹ và lực lượng hải quân kiểm soát bờ biển. Chiến thắng nhanh chóng đã không tới khi LX tăng cường viện trợ cho miền Bắc Việt Nam. Năm 1968, nổ ra cuộc tổng tấn công tết mậu thân vào các vị trí chiến lược tịa miền Nam Việt Nam. Mặc dù không đạt được mong muốn giải phóng miền Nam, nhưng vị thế chính trị của nó lại đạt được khi Mỹ dừng ném boom và mở ra các cuộc đàm phán hòa bình. Năm 1972, chiến dịch ném boom của Mỹ ở miền Bắc được tiếp tục nhưng chỉ là sự vùng vẫy cuối cùng. Nixon đã bị mắc kẹt trong cuộc chiến mà các đời tổng thống Mỹ trước đó đã gây ra và đã kết thúc chiến tranh sau đó, Mỹ rút quân về nước sau hiệp định Paris. Hòa bình chưa thật sự có khi miền Nam còn hơn 1 triệu quân ngụy do tướng Thiệu chỉ huy. Cuộc chiến vẫn diễn ra quyết liệt tới tận năm 1975 miền Nam mới được hoàn toàn giải phóng.
Trong khi đó tại Lào, sau khi Việt Minh rút đi, các chính phủ trung lập được lập ra nhưng liên tục bị thay thế bởi có sự can thiệp của Mỹ do lo ngại domino của chủ nghĩa Cộng sản sẽ ảnh hưởng tới các nước lân cận như Lào. Các cuộc đảo chính liên tục diễn ra và bất ổn tại đây. Lào cũng kết thúc chiến tranh vào năm 1973 sau khi Mỹ rút đi và thành nước cộng hòa năm 1975.
Tại Campuchia, đất nước này duy trì chế độ trung lập lâu dài và năm 1970 thì sụp đổ do sự can thiệp của Mỹ và lại được tái lập năm 1973. Nhưng sau khi Mỹ rút họ lại rơi vào nội chiến. Lực lượng KHơ Me Đỏ đã nổi lên và chiếm đóng Campuchia, sau đó tấn công sang Việt Nam, Việt Nam sau đó đã đưa quân sang đánh tan lực lượng này và năm 1978 thì chế độ Pon Pốt sụp đổ và Hun Sen lên nắm quyền sau đó.
16. Đông Nam Á và Asean
Đông Nam Á là khái niệm chỉ các nước nằm giữa Ấn Độ, Trung Quốc, Úc và các khhu vực mở trải rộng vùng biển Thái Bình Dương. Khu vực này các nước đều bị đô hội ngoại trừ Thái Lan là giữ được sự độc lập. Các nước bị các nước châu Âu và Mỹ chiếm đóng rất nhiều năm. Sau trận Trân Châu Cảng, Nhật vào chiếm khu vực được 1 thời gian ngắn, sau đó là sự trở lại của châu Âu và Mỹ 1 thời gian trước khi các nước lần lượt giành được độc lập. KHó khăn nhất trong số này là Việt Nam vì tại đây lãnh đạo là những người Cộng Sản, lực lượng Mỹ cực lực chống đối, trong khi những người Indonesia, Mal thân cộng sản lại ít bị lo ngại hơn vì chính sách trung lập của họ.
Malaysia
Khu vực này người Hoa chiếm tỷ lệ lớn dân cư đặc biệt là Singapore với người Hoa áp đảo. rất nhiều trong số này mang tư tưởng Cộng sản chứ không theo tư tưởng Quốc dân đảng và cuộc chiến giành độc lập của Malaysia mang hơi hướng cuộc chiến của những người Cộng sản. Những người Hoa nổi dậy đã chiến đấu với quân Anh trong khỏng 2 năm với lực lượng ít hơn nhiều và được nhân dân ủng hộ. Tướng Anh đã tìm ra việc người dân đã âm thầm ủng hộ quân nổi dậy do lo sợ bị khủng bố, ông đã cho xây dựng các ấp chiến lược để đưa dân vào ngăn cách với quân nổi dậy ở trong rừng. Tới 31/8/1957, Malaysia giành được độc lập. còn Singpapore là hòn đảo hải cảng quan trọng của Anh tại khu vực có ¾ dân số là người gốc Hoa cũng được Anh đưa lên lộ trình cho nước này giành được độc lập, Singapore thiết lập chế độ hành pháp mới và hoàn toàn độc lập năm 1959 nhưng Anh vẫn chiếm đóng tại đây 1 thời gian. Sau đó năm 1963, liên bang Malaysia được thành lập với Malaysia, Singapore và dự kiến cả Brunei, nhưng phút cuối Brunei từ chối tham gia, quốc gia mới này mang hơi hướng thân phương tây nhờ sự bảo trợ của Anh mạnh mẽ. Indonesia đã tổ chức các đợt chống đối việc thành lập liên bang Malaysia rộng lớn có khả năng gây hại cho Indonesia cho tới khi Sukarno bị phết truất vào khoảng 1965-1966. Nước Malaysia sau hình thành có tới 43% dân số là người gốc Hoa, 40% là người gốc Malay. Brunei và Singapore đã khẳng định dù nhỏ họ vẫn có thể tồn tại độc lập được. Brunei tự trị từ năm 1971 và chính thức độc lập hoàn toàn vào năm 1984. Singapore tham gia liên bang Malaysia nhưng sau đó cũng tác ra độc lập hoàn toàn. Ban đầu Lý Quang Diệu có vẻ nghi ngờ sự tự độc lập của Singapore do đất nước này nghèo đói và chỉ có cảng biển, ông bị chình quyền Malaysia từ chối không cho bất cứ người Hoa nào làm thủ tướng liên bang Malaysia và buộc phải rời liên bang trong hòa bình. Nhưng nghi ngờ nền kinh tế Singapore không thể phát triển đã nhanh chóng kết thúc khi Singapore nhanh chóng phát triển thần tốc dù luôn căng thẳng với Indonesia và chỉ được hòa giải với nhau sau năm 1975.
Tại Malay, người gốc Malay sống ở nông thông nghèo khó, trong khi người Hoa sống ở thành trị với ưu thế về kinh tế hơn. Cuộc bầu cử tại đây khá hỗn loạn và mong muốn hòa giải dân tộc thấp vào những năm 1969. Sau khi thủ tướng mới lên, thành công trong kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh, đời sống cải thiện đã giúp mối bất hòa giữa 2 gốc người dịu đi. Tới những năm 1978 thì Mahathir lên làm thủ tướng và vị thế của ông luôn không chắc chắn trong giai đoạn đầu khi hàng loạt vụ xì căng đan về tài chính nổ ra, nhưng đảng UMNO vẫn giành thắng lợi và ông vẫn duy trì thủ tướng rất nhiều năm sau đó với 1 số giai đoạn kinh tế tăng trưởng thần kỳ.
Indonesia
Đây là quốc gia lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á với dân số vượt trội, nhưng cũng là nước khó quản lý nhất với hơn 13.600 hòn đảo khác nhau. Người Anh sau khi giải phóng khu vực đã nhưỡng lại ch người Hà Lan quay trở lại kiểm soát Indonesia như cách họ làm cho Pháp quay trở lại Đông Dương. Cuộc chiến giành độc lập cho Indonesia nổ ra khi lực luwongj dân quân do Sukarno, 1 nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc dẫn dắt chống lại thực dân Hà Lan. Sau 1 số năm giao chiến, Indonesia chính thức giành được độc lập vào năm 1949, nhưng vẫn bị các điều kiện ràng buộc cho sự độc lập này với Hà Lan. Quốc gia Indonesia khi đó ảo tưởng sẽ bao gồm cả họ, Malaysia, Singapore, bắc Borneo và cả New Guinea vì các khu vực này gần với các đảo của Indonesia. Việc Hà Lan vẫn chiếm 1 số đảo đã duy trì tinh thần chủ nghĩa dân tộc ở Indonesia và củng cố vị trí của Kukarno. Năm 1959, Sukarno đã chuyển đổi nhà nước sang nền dân chủ có hướng dẫn, bản chất là 1 nền độc tài cá nhân của bản thân ông, Indonesia thực hiện trung lập nhưng có vẻ lại xích lại gần LX và TQ hơn làm Mỹ nghi ngờ mất niềm tin, họ lại thực hiện chính sách chống phá việc hình thành liên bang Malaysia.
Năm 1965, 1 báo cáo sai rằng Sukarno đã qua đời đã kích thích những người Cộng sản tại Indonesia nổi dậy cướp chính quyền (có thể là 1 đòn của Mỹ), lực lượng này đã bị đàn áp dã man và thiệt hại nặng nề. Năm 1970, Suharto trở thành thủ tướng qua bầu cử và bắt đầu kiểm soát đất nước trong 1 thời gian dài cũng theo mô hình độc tài, gia đình trị và kéo dài tới tận 6 nhiệm kỳ cho tới tận năm 1998.
Thái Lan
Đây là nước duy nhất không bị trở thành thuộc địa suốt thời gian dài. Họ trở thành vụng đệm giữa Anh và Pháp, Hà Lan, Mỹ trong khu vực khi Anh từ Ấn Độ chiếm xuống Miến Điện, còn Pháp từ An Nam và Trung Kỳ chiếm sang Lào, Campuchia. Thái Lan nằm giữa 2 đế quốc này và họ đã áp dụng chế độ mềm dẻo nằm giữa khôn khéo giữa các nước đế quốc hùng mạnh hơn. Thái Lan là thành viên tích cực chủ chốt của liên minh SEATO của Mỹ dựng lên nhằm kiểm soát sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại khu vực châu Á Thái Bình Dương sau chiến tranh Triều Tiên. Chính quyền Thái Lan phần lớn trong rốn loạn giữa dân sự và quân sự khi các vị chỉ huy quân sự thường can thiệp sâu vào việc quản lý nhà nước, các cuộc đảo chính diễn ra liên tục bởi sự giật dây của lực lượng quân đội.
Philippin
Đất nước này có khoảng 700 hòn đảo khách nhau tạo thành 1 quẩn thể quân đảo hình thành đất nước. Nước này trước đó do Mỹ chiếm, sau đó Nhật Bản chiếm rồi sau năm 1945 Mỹ quay lại chiếm lại, sau đó năm 1946 Mỹ trao trả lại nền độc lập cho đất nước này. Đất nước này bị cát cứ bởi các lực lượng khác nhau đặt biệt là Cảnh sát, họ cự coi mình là luật pháp tại đây. Các nhóm nổi dậy vẫn tồn tại tại đây dai dẳng nhiều năm sau chiến tranh. Từ giai đoạn 1966-1986, Marcos lên làm tổng thống nhưng lại xây dựng thành 1 nền độc tài với tham nhũng và củng cố quyền lực cho bản thân mình. Phillipin là nơi đặt các căn cứ quân sự quan trọng bậc nhất của Mỹ tại khu vực châu Á và họ lo ngại việc rối loạn tại đây sẽ ảnh hưởng tới họ. Năm 1986, khi cuộc tổng tuyển cử nổ ra Mỹ đã vứt bỏ nhà độc tài Marcus, tiếp theo là các chính phủ cũng yếu kém ở Phillippin được lập ra và đất nước này luôn trong tình trạng trì trệ không phát triển được.
Năm 1967, 6 nước ban đầu gồm Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Phillippin đã thành lập ra Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean). Brunei tham gia vào hiệp hội năm 1984. Tổ chức được lập ra để tấn công vào nghèo đói, bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác, cản thiện kinh tế và thương mại. Đảm bảo độc lập các nước bằng cách giảm các sự xaocs trộn nội bộ và ngăn cản sự can thiệp của bên ngoài vào các nước. Hiệp hội này là 1 tổ chức trung lập, và rất lo ngại vai trò của TQ tại đây khi Mỹ sau thất bại tại Việt Nam đã rút đi và trao lại quyền ảnh hưởng chính tại khu vực cho TQ.
17. Afghanistan
Đất nước Afghanistan hiện đại ngày nay được hình thành từ thế kỷ thứ 18 bởi Ahmed Shad. Họ thường có mâu thuẫn lớn với người Pakistan đặc biệt là vấn đề lãnh thổ khi 2 nước có đường biên giưới sát với nhau. Đát nước này cũng thân với LX và là nước phi cộng sản đầu tiên nhận viện trợ từ LX vào năm 1953. Đất nước này nền kinh tế rất yếu kém, chủ yếu hoạt động kinh tế diễn ra là buôn lậu. Các cuộc thanh trừng diễn ra tại khu vực này ngày càng nhiều hơn trong những năm 70. Năm 1979, LX tiến quân vào Afghanistan với tuyên bố để hỗ trợ chống lại các lực lượng nổi loạn tại đây. Hành động này của LX đã thổi bùng lo ngại của Mỹ và coi đây là chiến lược toàn cầu của CNCS và Mỹ cũng bắt đầu gia tăng các hành động cao trào chiến tranh lạnh trên toàn cầu. Hành động xâm lược của LX bị lên án mạnh mẽ trên trường quốc tế và cả trong thế giới Ả Rập. Mỹ đã tài trợ lớn cho lực lượng đối lập tại đây và cuộc chiến dai dảng diễn ra, chính phủ mới tại đây cũng dậy lại chương trình tôn giáo và trở thành tiền đề cho chế độ tôn giáo hà khắc ngày sau của Taliban tại đây. Sau khi Govbachev lên nắm quyền tại LX, trong vòng 10 tháng sau đó LX đã rút quân khỏi Afghanistan nơi tốn kém người và vật chất của LX mà không đem lại lợi ích gì đáng kể. Lực lượng thân LX còn tồn tại được 1 thời gian sau khi LX rút đi, sau cùng lực lượng Taliban đã thành công đánh bật họ ra và chiếm Afghanistan saud đó và thiết lập nhà nước hồi giáo hà khắc tại đây.
18. Triều Tiên
Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã để lại hậu quả là miền Nam và miền Bắc ở thế thù hận với nhau 1 cách sâu sắc cho tới tận ngày nay và chưa có 1 quyết định hòa bình chính thức nào giữa 2 đất nước này cho tới tận ngày nay. Các cuộc đàm phán và kêu gọi thống nhất Triều Tiên qua bầu cử liên tục đươc kêu gọi, nhưng rõ ràng Bắc Triều Tiên sẽ không mong muốn điều đó khi sức hấp dẫn của đời sống cao ở Nam Triều Tiên có thể làm chính phủ ở bắc Triều Tiên bị đánh bại dễ dàng qua bầu cử.
Nam Triều Tiên sau khi chiến tranh kết thúc do Lý Thừa Vãn làm tổng thống rồi bị cuộc đảo chính quân sự năm 1961 của Park Chung Hee lật đổ, ông này làm tổng thống HQ 18 năm cho tới khi bị sát hại năm 1979 bởi người đứng đầu lực lượng tình báo HQ. Sau đó là sự lên cầm quyền của 1 số tướng lĩnh quân đội. Nam Triều Tiên đã có sự phát triển thần kỳ ở lĩnh vực kinh tế nhờ lá chắn quân sự của Mỹ cung cấp cho và hưởng lợi trong các cuộc chiến của Mỹ và sự ủng hộ của Mỹ cho họ. HQ đã chuyển đổi nền kinh tế của mình thành 1 nền kinh tế có hiệu suất cao nhất trên thế giới lúc đó.
Trong khi đó tại Bắc Triều Tiên, chế độ Cộng Sản ban đầu do LX ủng hộ đã nhanh chóng suy yếu khi LX tan rã và các vị lãnh tụ tiếp theo phải xoay sở để vừa kiểm soát được quyền lực vừa hội nhập được với quốc tế. Trọng tâm là các chính sách phát triển hạt nhân của họ và họ thường dùng nó để làm răn đe các nước khác. Chế độ bắc Triều Tiên dần trở thành chế độ độc tài trọn đời cha truyền con nối khi bố qua đời tới con rồi tới cháu lên kế vị. Các lực lượng đối lập không dám lên tiếng do lo sợ bị đàn áp.
V. Châu Phi
19. Bắc Phi
Châu Phi là khu vực bị lãng quên từ sau thế chiến II hầu hết các nước trong đói nghèo, chiến tranh liên miên. 1 số nước nổi trội như Nam Phi thì bị ảnh hưởng bởi tệ phân biệt chủng tộc, Ai Cập là nước lớn mạnh nhất khối Ả Rập cũng dần mất vị thế khi các nước khác khai thác dầu mỏ nhiều hơn, Ethietopia có dân số lớn nhưng không tận dụng được ưu thế của mình. Ngày nay, Châu Phi gần như là châu lục bị lãng quên và hầu hết các tập đoàn lớn, các cường quốc bỏ mặc khu vực này.
Maghrib
Miền Bắc châu Phi với vai trò nổi bật của Ai Cập và Maroc nhưng chủ yếu vai trò của Ai Cập trong thế giới hồi giáo Ả Rập. Khu vực này dưới sự thống trị của Pháp, Italia, Anh suốt thế kỷ 19 và kéo dài sang thế kỷ 20 khi Itali và Đức mở mặt trận ở bắc Phi. Ai Cập bị Anh chiếm đóng từ lâu. Pháp chiếm Angieri từ 1830. Năm 1947, liên đoàn Ả Rập hình thành và lập thành 1 Maghrib Bureau gồm 1 số nước như Maroc, Angieri, Tunisia. Sau chiến tranh, khu vực Maghrib này bị Pháp tái chiếm đóng do vị thế là nước thắng trận sau chiến tranh. Phong trào dân tộc chủ nghĩa lên cao và việc đòi quyền độc lập cho khu vực trở lên mạnh mẽ chống đối với sự có mặt của Pháp tại khu vực này. Chính quyền Pháp cũng liên tục chia rẽ về việc trao trả độc lập hay tiếp tục chiếm đóng các nước họ đang bảo hộ.
Tới năm 1952, tại Pháp phe cứng rắn giành được lợi thế và bắt đầu áp đặt lại sự cai trị và xóa bỏ các điều khoản tự trị độc lập tại các nước bảo hộ. Phong trào chiến tranh vũ trang giành độc lập bắt đầu bùng phát ở các nước, nhiều lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa bị bắt và bị đàn áp. Sau thất bại tai Việt Nam năm 1954, Pháp cũng trao trả độc lập cho Tuynisia năm 1956.
Tại Maroc, mâu thuẫn giữa Pháp với các tầng lớp dân tộc chủ nghĩa cũng lên cao và đỉnh cao là cuộc bạo lọa ở Casablanca năm 1952, tới năm 1956, Maroc cũng được Pháp trao trả độc lập cùng thời kỳ với Tuynisia.
Tại Angieri, vấn đề trở lên rất nghiêm trọng do cuộc khởi nghĩa chống lại Pháp ở đây (tương tự như ở Việt Nam). Cuổi khởi nghĩa đầu tiên tại đây diễn ra năm 1945 và bị dìm trong bể máu. Sau đó các nhà dân tộc chủ nghĩa bắt đầu gây dựng lại lực lượng và năm 1954, Pháp phải huy động 500k quân tại đây để chiến đấu với quân khởi nghĩa Angieri.
Năm 1958, De Gaulle lên nắm quyền tại Pháp trong khi nền cộng hòa thứ 5 sụp đổ vì không thể giải quyết được các vấn đề thuộc địa sau chiến tranh, đặc biệt là thất bại tại Việt Nam và Angieri. Ông rút quân khỏi Tuynisia, Maroc và rút 1 phần khỏi Angieri. Nhiều giải pháp đưa ra nhưng mẫu thuẫn giữa người châu Âu da trắng ở Angieri với những người gốc phi ở đây đã diễn ra liên tục và các bên liên tục tiến hành các cuộc nổi dậy và đảo chính lẫn nhau nhằm giành chính quyền. Mãi tới năm 1962, Angieri mới chính thức được tuyên bố độc lập và có chủ quyền riêng tách khỏi Pháp. Chính phủ Angieri mới ban đầu có vẻ thân cộng sản nhưng sau đó bị lật đổ và trở lại thành chính phủ tư bản nhưng có mối quan hệ tốt với cả LX, TQ và các nước hồi giáo. Họ tiến hành quốc hữu hóa 1 số lĩnh vực công nghiệp chủ chốt như dầu mỏ. Họ có cuộc chiến biên giới ngắn với Maroc năm 1963 nhưng sau đó đã giải quyết ổn thỏa.
Libi và Chad
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Libi trước đó là 1 thuộc địa của Ý được tuyên bố sẽ giành được độc lập sau 10 năm, trước đó các nước châu Âu vẫn ủy trị tại khu vực này để thiết lập sự ổn định cho đất nước này. Nhưng các kế hoạch này bị thất bại khi thực hiện và đất nước Libi rất rối loạn cho tới năm 1952 họ giành được độc lập. Tiếp theo là các thời kỳ rối loạn tiếp tục với chế độ vua ở Libi giới sự bảo trợ của Anh và Mỹ. Sau đó tướng Qadafi lên nắm quyền và dần tiêu diệt các lực lượng đối lập để trở thành nhà độc tài quân sự tại đây. Thái độ khó chịu của Libi đã làm cho Mỹ rất tức giận và đã từng gửi quân tới bờ biển khu vực này để giám sát Libi và coi chế độ quả Qadafi là nguy hiểm cho chiến lược của Mỹ và đã áp đặt lệnh cấm vận lên nước này 1983 và 1989. Libi trở thành khu vực căn cứ quân sự lớn nhất của Nga ở bên ngoài châu Âu, nước này cũng bị sụt giảm sản lượng dầu chỉ bằng ¼ lúc đỉnh cao, và thường bán với giá rẻ hơn ½ so với thị trường để đổi lấy vũ khí do bị Mỹ cấm vận, các vụ can thiệp quân sự vào các nước láng giềng ở châu Phi để xây dựng 1 đế chế hồi giáo cũng bất thành do dân số Libi ít và quân đội chỉ có khoảng 40k quân quá ít để làm được điều gì đó lớn. Vụ máy bay dân dụng Mỹ bị đánh boom nổ tren bầu trời Scotland năm 1988 bị nghi ngờ do 2 người Libi tổ chức để trả thù vụ máy bay Iran bị không quân Mỹ bắn đã giây ra cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài khi Mỹ yêu cầu Libi trao 2 người đó để tòa xử lý nhưng Libi từ chối. Điều này đã làm mối quan hệ 2 bên căng thẳng kéo dài rất nhiều năm giữa Libi với thế giới phương Tây.
20. Tây Phi
Châu Phi là khu vực từng gây ra sự sợ hãi và lo ngại lớn cho người châu ÂU từ sau khi nhà tiên tri Mohamet qua đời. Họ từng nhiều lần đánh chiếm vào châu Âu và chiếm giữ khu vực Tây Ban Nha nhiều thế kỷ. Thời kỳ cận đợi, người châu Âu đã dùng khu vực này để bắt nô lệ da đen đến các đồn điền châu Mỹ và buôn bán nô lệ. Người châu Âu sau khi chiếm đóng châu Phi đã không đem lại lợi ích gì đáng kể cho châu Phi và khi họ rút đi các nước châu Phi vẫn nằm trong sự lạc hậu, đói nghèo. Chỉ có các mỏ vàng ở Nam Phi là đem lại sự phát triển và thịnh vượng cho quốc gia này. Các nước này giành được độc lập nhờ chủ yếu bởi sự trao trả tự nguyên của các nước thực dân châu âu do phong trào dân tộc chủ nghĩa lên cao và các cuộc cách mạng tại các khu vực thuộc địa cũ. Sau khi giành được độc lập phần lớn trải qua nhiều cuộc đảo chính quân sự triền miên, đất nước đều đói nghèo và phải nhận viện trợ để duy trì đất nước sau khi giành được độc lập. Các nước hầu hết rơi vào chế độ độc tài hoặc nền quản lý bị quân sự hóa, tham nhũng tràn nan, dân số tăng quá nhanh và luôn trong cảnh đói nghèo trầm trọng.
21. Từ Congo tới Zaire
Khu vực Tây Phi giành được độc lập 1 cách hòa bình và không có 1 cuộc chiến lớn nào nổ ra. Khu vực Đông phi 1 vài năm sau đó cũng giành được độc lập theo cách tương tự. Tuy nhiên, đất nước Congo sau khi giành được độc lập từ Bỉ đã diễn ra nội chiến triền miên và tạo ra cuộc khủng hoảng lớn mang tầm thế giới tại đây và LHQ phải can thiệp vào đất nước này. Nguyên nhân do sự rút lui đột ngột của Bỉ và bỏ mặc đất nước này lại cho các đảng phái có mâu thuẫn với nhau kiểm soát 1 cách hỗn loạn thiếu trận tự. Cuộc nội chiến tại đây kéo dài dai dẳng từ suốt những năm 60 tới nay vẫn chưa chấm dứt được.
22. Đông Phi
Sudan
Lịch sử Sudan qua các thời kỳ hiện đại là 1 sự thay đổi chủ thể và thể chế tự trị. Nó là 1 phần của đế chế Ottoman, nhưng thực tế giống như 1 tỉnh tự trị thuộc Ai Cập. Từ năm 1956, đất nước này là 1 quốc gia độc lập và thành viên của Liên đoàn Ả Rập và LHP. Ai Cập từng nhiền lần muốn sáp nhập đất nước này vào Ai Cập giai đoạn sau chiến tranh thế giới II nhưng không thành công. Đất nước này cũng trải qua nội chiến với vùng miền Nam thân Ai Cập hơn với chính phủ miền Bắc độc lập.
Vùng sừng châu Phi
Vương quốc Ethiopia cổ xưa là sự hòa trộn sắc tộc và tôn giáo. Họ đã duy trì được nền độc lập của mình 1 cách mạnh mẽ ngày từ giữa thế kỷ 19 với sự cai trị hiệu quả của các vị vua và cách chính sách cải cách hiện đại hóa của họ. Mâu thuẫn giữa các quốc gia khu vực này rất lớn khi Somali bị chia cắt bời nhiều đế quốc thực dân và sau khi hợp nhất lại có các phần đất người somaliland nằm ở Ethiopia và Kenya, các cuộc chiến để giành lại các vùng đất này liên tục nổ ra khi LX giúp đỡ Somali, còn Mỹ ủng hộ Ethiopia và Kenya. Nhưng sau khi vua Ethiopia bị thoái vị, tướng quân đội lên thay đã lại ngả theo sự ủng hộ của LX, Mỹ lại quay sang ủng hộ Somali và các cuộc chiến liên tục diễn ra tại khu vực này như là sự nối dài của chiến tranh lạnh giữa 2 siêu cường khi đó. Nội bộ Somali cũng là cuộc nội chiến kéo dài giữa 2 liên minh bộ bạc tại đây mà không ai có thể giành thắng lợi, LHP đưa quân vào can thiệp nhưng cũng phải rút lui sau đó với rất ít thành công.
Uganda, Tanzania và Kenya
3 quốc gia Đông Phi này đã có nhiều lỗ lực nhằm thống nhất dưới 1 liên bang lỏng lẻo và để phát triển nền kinh tế của họ. Nhưng họ cũng đầy lo ngại 1 nước Kenya mạnh hơn hẳn các nước còn lại có thể gây ra nhiều vấn đề cho họ. Các nước ban đầu cũng phát triển tương đối tốt bởi nền chính trị đa đảng nhưng sau đó dần chuyển sang chế độ chuyên chính 1 đảng và mất đi động lực chính trị, nền kinh tế dần suy thoái, nạn tham nhũng tràn nan diễn ra làm mất niềm tin của nhân dân và các vụ li khai chống đối bùng nổ thành các cuộc nội chiến tại các nước.
23. Nam Phi
Di sản của Cecil Rhodes
Khu vực này được xây dựng dựa trên nguồn tài chính của công ty Nam Phi – Anh do Cecil Rhodes lãnh đạo. Thời kỳ này ông đã đã kiểm soát được 1 số khu vực nhưng thất bại trước người Boer tại Hohannesburg và chính phủ Anh buộc phải đưa quân vào tự can thiệp và nổ ra cuộc chiến tranh Anh – Boer để giành quyền kiểm soát khu vực ngày nay là Nam Phi. Đế quốc của Rhodes trong lúc đó đã trở lên hùng mạnh nhờ các thỏa thuận nhược quyền kiểm soát với các tù trưởng và quốc vương địa phương. Khu vực phía Nam Rhodesia do những người da trắng khai phá đã được trao quyền tự trị 1 cách tương đối dù vẫn dưới quyền bảo hộ của Anh đặc biệt về mặt an ninh. Các cuộc thương thuyết để hợp nhất với vùng Nam Phi bị từ chối bởi các lực lượng tự trị da trắng này. Năm 1953, sau nhiều lần đàm phán, liên bang Rhodesia ra đời với vùng miền Bắc giầu có và vùng miền Nam tập trung dân cư da trắng đông hơn. Liên bang này tồn tại được 10 năm nhưng nó chủ yếu để duy trì đặc quyền của người da trắng mà coi thường những người da đen bản địa tại đây. Nạn phân biệt chủng tộc này đã bùng phát các cuộc xung đột bạo lực giữa người da trắng và da đen tại liên bang mới thành lập này. Năm 1957, đảng Đại hội Dân tộc Phi bắt đầu có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong bầu chính trị liên bang và làm cho những người da trắng tại đây phả lựa chọn và họ chọn 1 chính phủ cực đoan hơn để đàn áp phong trào của người da đen tại đây. Mâu thuẫn dần lộ ra khi 1 nhóm muốn thành lập 1 liên bang độc lập tách khỏi anh, 1 số muốn tách các phần của người gốc phi ra thành các quốc gia độc lập. Vùng Nyasaland và Bắc Rhodesia chính thức độc lập từ tháng 7-10/1964 và thành lập các nước Malawi và Zambia.
Tại Nam Rhodesia, hiến pháp mới năm 1961 đã đặt ra vai trò độc lập của khu vực này và tách các phần phái bắc ra thành các quốc gia độc lập. các cuộc thương thỏa được tiến hành nhằm đạt được mục đích này giữa các lực lượng chính trị và với chính phủ Anh. Chế độ cai trị thiểu số da trắng vẫn được duy trì tại đây với sự trợ giúp kinh tế từ Nam Phi. Nhưng mẫu thuẫn với những người da đen chiếm đa số dân vẫn tiếp tục bùng nổ. Dưới nhiều sức ép, chế độ của Smith cái trị dần sụp đổ và năm 1979, đất nước zimbabwe – Rhodesia ra đời qua bầu cử phổ thông, nhưng nạn phân biệt chủng tộc chỉ giảm nhẹ đi chút ít. Đất nước này sau đó đi vào bạo loạn khi những người thiểu số Ndebele không chịu cảnh ơ chiếu dưới trong môi trường chính trị do đóng vai trò dân tộc thiểu số. Sau đó là cuộc nội chiến giữa quân chính phủ của Mugabe với lực lượng nổi dậy Phong trào Thống nhất Zimbabwe
Angola và Mozambique
Đây là các khu vực mà Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục chiếm đóng tới tận năm 1974 mới chấp nhận trao trả lại cho người châu Phi tự quyết. Từ đó thành lập nên 2 nước độc lập là Angola và Mozambique. Các cuộc nổi dậy lớn diễn ra tại Angola năm 1922 và 1935 bị đàn áo khốc liệt nhưng vẫn nuôi trong nó tinh thần độc lập cho khu vực này từ sự đàn áp của người Bồ Đào Nha. Những năm 70 là các cuộc chiến giành độc lập tại các thuộc địa của Bồ Đào Nha đầy tốn kém và làm họ nhụt nhệ khí giữu các khu vực này và dần trao trả độc lập cho các khu vực qua các bước tự trị rồi độc lập hoàn toàn. Angola sau đó rơi vào nội chiến khi là 1 chiến trường ủy thác giữa 1 bên là LX – Cuba ủng hộ với 1 bên là Mỹ, đây cũng chỉ là 1 công cụ của chiến tranh Lạnh tương tự như các chiến trường khác trước đó. Tương tự Mozambique cũng rơi vào cuộc nội chiến sau khi giành được độc lập từ Bồ Đào Nha.
Nam Phi
Người Hà Lan đã chinh phục Nam Phi trong thế kỷ 18 và kiểm soát khu vực này và thủ phủ tại mũi Cape. Họ biến những người địa phương Bantu thành các nô lệ và thợ khai thác gỗ cho mình. Sau đó người Anh tiến vào đánh chiếm khu vực này sau khi họ chiến thắng Napoleon ở châu Âu. Những năm 1860, Nam Phi nổi bật nhờ việc khám phá ra các mỏ kim cương và vàng khổng lồ tại đây, thêm nữa mũi Cape là điểm nối tuyệt vời trên con đường chinh phục của Anh kéo dài khắp các châu lục. Các cuộc chiến tranh mở rộng lãnh thổ của Anh đã được diễn ra và dần chiếm hết các khu vực của các nước thực dân khác nằm trong lãnh thổ Nam Phi ngày nay. Cecil Rhodes trở thành thủ tướng của thuộc địa Cape năm 1890 và ông là người có tính quyết định tại đây chứ không phải chính phủ Anh tại chính quốc. Mặc dù sau đó Rhodes sụp đổ nhưng Anh đã tiếp quản và quản lý khu vực này với việc đề rõ vai trò quan trọng của Cape. 1 số vùng được trao quyền tự trị như Transvaal, Orange nhưng do người da trắng kiểm soát và hoàn toàn bỏ quên những người da đen thất thế tại đây. Năm 1910, Anh đã thống nhất 3 khu vực mà Anh quản lý lại và 2 khu vực của người Boer quản lý thành 1 liên bang thống nhất là Nam Phi. Những người Boer đã từ chối điều này và liên tục phản kháng lại.
Lúc này, học thuyết phân biệt chủng tộc đựa đưa ra với những định nghĩa rằng người phi ở thành thị là những người man nợ, không văn minh và không phù hợp với trách nhiệm cộng đồng hoặc những quan hệ giao du cá nhân; còn người phi ở nông thôn là những kẻ hầu đã thuần thục, khá lười nhác, và an phận chỉ có mong ước duy nhất là được sống yên ổn, dù là lệ thuộc. Đây đã là nền tảng cho chế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi suốt mấy chục năm tiếp theo.
Mặt khác, phong trào dân tộc Phi cũng tiến hành các biện pháp bạo lực để đòi quyền bình đẳng cho người da đen tại đây. Đảng dân tộc Phi cũng nhiều lần bị kết án vì tội phản quốc và các đợt đàn áp tàn bạo để giải thể phong trào này. Trong khi đó, tù trưởng Nelson Mandela lại đi theo con đường đấu tranh hòa bình để giành quyền co người gốc Phi tại đây. Ông tổ chức các cuộc bãi công, biểu tình đòi quyền bình đẳng giữa các thành phần dân tộc Phi. Năm 1963, ông bị bắt và bị kết án tù dài hạn dưới chế độ apacthai. ở đây, người Phi cũng bị cấm tổ chức các nghiệp đoàn, các vụ bãi công, tổ chức đảng phái và chính quyền có thể bắt tùy ý những người bị nghi ngờ chống đối chính phủ. Các trường học cũng bị cấm người Phi vào học từ năm 1959 trở đi. Các chương trình của đảng Dân tộc cơ bản luôn tìm cách tách biệt 87% dân tích Nam Phi cho người da trắng và 13% cho người da mầu, đây là các khu vực định cư cho người da đen và họ lùa người da đen vào các khu vực này sinh sống. Những người da trắng đã thực hiện thuyết thần học độc đoán, trong phi phần còn lại của thế giới lại theo đuổi chủ nghĩa bình quân và chủ nghĩa tự do thế tục. Các quốc gia châu Phi coi chế độ Apacthai là hiểm họa của hòa bình thế giới nhưng lại lo ngại sự giầu có và hùng mạnh của chế đô người da trắng và liên tục gây sức ép lên LHP để LHP gây sức ép lên các nước lớn để họ yêu cầu cải cách ở Nam Phi. Trong khi giai đoạn này, Anh – Mỹ đều đang có nhiều lợi thế từ tài chính mà Nam Phi đen lại, bên cạnh đó Mỹ còn tập trung chính vào vấn đề VN và châu Mỹ thay vì vấn đề Nam Phi.
Nam Phi khi đó cũng được ủy trị lãnh thổ Namibia nhưng họ lại quay ra chiếm đóng luôn dù bị phản đối, sau khi Angola giành độc lập năm 1974, phong trào giành độc lập cho Nambia lại bùng phát mạnh mẽ bất chấp các vụ đàn áp trước đó của lực lượng Nam Phi. Đất nước này dẫn được trao trả quyền tự chủ và ra đời hiếp pháp mới năm 1990 khẳng định nền độc lập tách khỏi Nam Phi của mình.
Nam Phi là 1 cường quốc trong khu vực, nhưng trên phạm vi thế giới họ chỉ là 1 quốc gia thứ yếu không có nhiều tầm quan trọng chiến lược và không thật sự được Mỹ – Anh đặt nhiều ưu tiên trong chính sách. Việc Nam Phi xâm lược Mozambique đã càng làm cô lập đất nước này, sau đó là việc phát triển vũ khí hạt nhân tại đây trong chế độ Vorster càng làm đất nước này bị xa lánh và sự phản ứng dữ dội từ các cường quốc hàng đầu. Sau đó là thời gian lãnh đạo của Botha (1978-1989) với chính sách mềm dẻo hơn đã từ bỏ chương trình hạt nhân của Nam Phi. 1 số hiệp hội có cả người da mầu được lập ra nhưng chủ yếu có ý nghĩa hình thức mà thiếu tính thực tiễn để giảm đi tình trạng phân biệt chủng tộc. năm 1985, Botha tuyên bố xóa bỏ chế độ apacthai nhưng lại không xóa bỏ các yếu tố then chốt của chế độ này, các chính sách của ông tỏ ra nửa vời và thiếu nhất quán cũng như sự mạnh mẽ cần thiết. Người da trắng tin rằng với sự thông minh, tài chính vượt trội họ sẽ dẫn dắt nước Nam Phi tốt hơn 1 chính phủ có người da đen tham gia cùng, bên cạnh đó họ cũng tin rằng đảng ANC là 1 đảng cộng sản và rất nghi ngại khi cho phép đảng này tham gia chính quyền. Họ tin rằng những sự tăng trưởng kinh tế và cải thiện cuộc sống vật chất mà người da trắng đem lại sẽ làm thỏa mãn mọi nhu câu của người da mầu.
Sau khi Botha mất chức, Klerk lên nắm quyền và tiến hành các cuộc đàm phán bí mật với Nelson Mandela, thả các tù chính trị và thực hiện quyết tâm đảo ngược lại sự bất ổn nền chính trị trong nước. Mandela là 1 trong 3 nhà lãnh đạo thanh niên người da mầu đấu tranh không ngừng nghỉ để phá tan chế độ apacthai. Ông là phó chủ tịch đảng ANC và bị tống vào tù năm 1963 với bản án trung thân. Ông bị giam giữu 27 năm trong tù và được thả ra và tiếp tục nổi lên là nhân vật then chốt tại đảng ANC. Klerk và Mandela đã cùng tìm kiếm tiếng nói chung để hòa giải cho đất nước Nam Phi và đã đạt được thỏa thuận cuối cùng. Giai đoạn 1991 – 1994 là giai đoạn soạn thảo các bản hiến pháp mới nhằm phá bỏ hoàn toàn chế độ apacthai và đem lại cho moi người dân Nam Phi quyền bình đẳng trước mọi vấn đề đất nước. Cuộc bầu cử tổ chức vào tháng 4/1994 diễn ra với 1 quốc gia gồm 9 bang hợp lại, 1 tổng thống và 2 phó tổng thống được hình thành. Lực lượng quân đội được hợp nhất, không có sự tịch thu ruộng đất nào và sự chuyển đổi đất nước diễn ra trong hòa bình và êm thấm với sự nắm quyền của đảng ANC với 62,2% phiếu bầu.
24. Người Nga, người Cuba và người TQ tại Châu Phi
Người Nga biết về châu Phi rất ít cho tới tận sau chiến tranh thế giới thứ II. Sau khi Stalin củng cố địa vị mới bắt đầu có sự nghiên cứu về châu Phi qua viện châu Phi và đại học hữu nghị các dân tộc. Các nhà lãnh đạo châu phi được Nga định nghĩa là những nhà dân tộc chủ nghĩa chống thực dân phương tây nên về mặt tự nhiên được coi là đồng minh của Nga. Tuy nhiên, con đường giành độc lập của châu Phi tương đối ôn hòa và bình lặng và sau đó các nhà nước kế thừa chủ yếu theo con đường trung lập và Nga ít có ảnh hưởng tại đây. Các cuộc phưu lưu của người Nga bắt đầu ở Mali, Ghine, Ghana nhưng không đem lại kết quả gì đáng kể. Tại Nigeria, Nga đã thâm nhập được xâu hơn vào nền chính trị nước này qua cuộc nội chiến tại đây nhưng cũng không tạo ra điểm đột phá đáng kể thâm nhập vào châu Phi.
Điểm đột phá đến tại Ai Cập, khi Nasser tìm đến Nga để mua vũ khí cho các cuộc chiến với Israel của Ông và với Iran, và cuộc chiến tại Yemen. Tuy nhiên mối quan hệ này rạn nứt và tan vỡ sau khi Nasser và Khrushchev mất chức. Sudan được LX ngay lập tức công nhận độc lập nhưng cũng không thân thiết. Angieri thì LX giữ quan hệ cầm chừng vì lo ngại mối quan hệ quá thân thiết sẽ làm hỏng mất do tại đó đảng cộng sản Pháp đang chiếm ưu thế. Vị thế của Nga ở Somali khá cao và họ đã viện trợ cho nước này khá lớn. Sau khi Mỹ mất đi sự ủng hộ ở Ethiopia, LX đã loại bỏ Somali quay sang ủng hộ Ethiopia và LX trở thành đồng minh quan trọng của nước này. Trong khi đó, người Cuba tiếp tục hỗ trợ người Somali hiện đại hóa đất nước. Trong khi tại khu vực miền Nam châu Phi, LX không có sự đóng góp gì đáng kể, trong đó nổi bật nhất là quân Cuba có đổ bộ vào Angola. Cuba có tình cảm nồng nàn với các lực lượng châu Phi vì ông coi họ như đồng bào, sự thật là rất nhiều người châu Mỹ có nguồn gốc từ dân da đen nô lệ châu Phi. Nổi bật là các đoàn tình nguyện của Chue Guevara đến các nước này hỗ trợ quá trình đào tạo, xây dựng lực lượng du kích kháng chiến để giành độc lập. Canh bạc tại Angola đã có lúc làm Cuba vận chuyển tới đây 20-30k quân chiến đâu trực tiếp bên cạnh lực lượng MPLA tại đây. Và đội quân viễn chính tại Cuab lên tới 160k quân ở các mặt trận, Castro hi vọng 6 tháng rút quân nhưng thực tế đã bị sa lầy tại đây tới tận năm 1979. Tuy nhiên, các sự hiện diện ở châu Phi rất tốn kém và cơ bản không đem lại hiệu quả gì cho LX, họ cũng không giành được ảnh hưởng chính trị gì đáng kể trên trường quôc tế từ việc can thiệp vào châu Phi.
Người TQ cũng có tham gia tại đây nhưng cũng không đạt được gì ghê gớm như những gì họ thổi phồng trong nước. Họ cũng xâm nhập đầu tiên vào Ai Cập khi công nhận độc lập và thiết lập quan hệ ngoại giao, sau đó là Sudan, Ghana, Ghine,..Họ cũng dành 1 số khoản tín dụng cho 1 số nước nhưng ở quy mô nhỏ bé. Người bạn ổn định nhất của TQ ở đây là Tanzania, nhờ việc TQ hỗ trợ xây tuyến đường sắt cho đất nước này. Nhìn chung châu Phi trong con mắt người TQ vẫn là khu vực bên lề và không mấy quan trọng.
VI. Châu Mỹ
25. Canada
Canada, quốc gia lớn thứ 3 thế giới về diện tích đã luôn đóng vai trò vô cùng khoan dung trong các quan hệ quốc tế. Quốc gia này không bị thiệt hại gì trong cả 2 cuộc thế chiến nhưng họ vẫn tham gia cho người khác mà không phải cho bản thân mình. Quốc gia này có nguồn tài nguyên phong phú và dân số thì thưa thớt. Sau chiến tranh, Canada đã chuyển trọng tâm kinh tế với Anh sang trọng tâm kinh tế với Mỹ và tham gia sâu vào khối an ninh bắc Mỹ và khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ. Canada tham gia vào NATO và các chiến dịch mà Mỹ dần đầu hầu như luôn có mặt quốc gia này. Tuy vậy, Canada rất có trách nhiệm với hòa bình và thường làm trung gian hòa giải các bất đồng quốc tế 1 cách tích cực. Nội bộ Canada chỉ có vấn đề khu vực Quebec nơi mà người nói tiếng Pháp chiếm đa số và có 1 số người có tư tưởng ly khai Canada nhưng chỉ là nhóm thiểu số và có gây ra 1 số bất ổn tại khu vực.
26. Nam Mỹ
Nam Mỹ trong thế kỷ 19 không chỉ bị cô lập khỏi các vấn đề chính trị thế giới, giống như châu Phi và châu Á, bởi sự bóp nghẹt của chủ nghĩa đế quốc châu Âu mà còn bởi di sản của thời kỳ hậu thuộc địa. KHu vực này điển hình cho sự bất ổn chính trị, nhưng người dân lại tỏ ra thời ơ với điều đó. Nam Mỹ được biết đến với nhiều cuộc nội chiến, các cuộc cách mạng, đảo chính, các vụ ám sát chính trị và hiến pháp bị chết yểu trong khi vẫn bám chặt lấy các bất công kinh tế và chính trị.
Chính quyền Nam Mỹ sau khi kết thúc chế độ cai trị của Tây Ban Nha đã phát triển 1 tầng lớp tinh ho acai trị với nhiều đặc quyền riêng bao gồm các chủ đất giầu có, giới quân sự hậu thuẫn. Tuy nhiên, sau thế chiến II, các tập đoàn đầu xỏ dần suy yếu đi do các phong trào dân tộc chủ nghĩa và sự mạnh mẽ của phong trào cách mạng trên thế giới. Sự bất bình đẳng nghiêm trọng tại khu vực đã tạo ra các mầm mống nổi loạn tại đây. Phần lớn người dân sống trong nghèo đói, đất đai 60-90% diện tích nằm trong tay 10% những tầng lớp thống trị. Tỷ lệ mù chữ ở các nước bình quân từ 50-90%. Diện tích đất bỏ hoang nhưng các chủ đất luôn phản đối mọi ý tưởng chia lại ruộng đất, các chủ đất sở hữu quá nhiều đất cũng không có động lực tái đầu tư tăng năng suất lao động. Tầng lớp thống trị thỏa mãn với việc tự cung tự cấp bằng xuất khẩu sản phẩm thô và không có động lực phát triển công nghiệp. Mãi khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra các nhu cầu công nghiệp bùng nổ đã kích thích sự phát triển tầng lớp trung lưu thành thị, đất nước có nhiều cải thiện nhất khu vực là Braxin. Khu vực Trung và Nam Mỹ cũng bị Mỹ coi là sân sau của mình và ngăn cấm các quốc gia châu Âu mở rộng thuộc địa tại đây kể từ khi tổng thống Monroe cầm quyền.
Giai đoạn đầu thế kỷ 20, Mỹ và Tây Ban Nha nổ ra cuộc chiến ngắn và Tây Ban Nha thất bại hoàn toàn nên phải chuyển nhượng các phần đất Philippine, Puerto Rico, đảo Guam, và Cuba cho Mỹ. Cuba có vị trí chiến lược vì gần Mỹ hơn bất kỳ nước nào khác ở Trung và Nam Mỹ ngoài Mexico. Từ khi Roosevelt lên nắm quyền, Mỹ đã đưa ra học thuyết mới tự cho mình quyền can thiệp vào các chính phủ được Mỹ ủng hộ ở Trung và Nam Mỹ. Mỹ đã trực tiếp và gián tiếp ủng hộ vũ khí, tài chính cho nhiều lực lượng độc tài ở khu vực này, cũng như can thiệp lật đổ các chế độ có tư tưởng chống Mỹ tại đây và nhìn chung bị khu vực này tương đối thù địch mặc dù họ vẫn luôn ưa thích nhận viện trợ từ Mỹ và sống nhờ nó trong suốt thời gian dài. Giai đoạn sau chiến tranh Triều Tiên, chủ yếu Mỹ áp đặt và lôi kéo các nước này vào 1 liên minh chống chủ nghĩa Cộng Sản, đặc biệt sau khi Cuba thành công với cuộc cách mạng và lo ngại làn sóng Cộng sản lan rộng ra khu vực châu Mỹ. Trong khi mối quan tâm của người dân nam Mỹ chỉ là làm sao cho cuộc sống tốt đẹp hơn, giảm đói nghèo đi. Giai đoạn nửa cuối những năm 50s đánh dấu sự sụp đổ của các nhà độc tài quân sự, giới quân sự phải lui và các chính phủ dân sự thay thế, nhưng giới quân sự vẫn luôn thường trực quay trở lại nắm quyền khi có biến động xảy ra.
Người dân Nam Mỹ sau nhiều năm bị Tây Ban Nha chiếm đóng đã kế thừa các nét văn hóa đất nước này sau khi đất nước này bị Napoleon chinh phục và mất kiểm soát ở các khu vực Nam Mỹ mà họ chiếm đóng trước đây. Vì vậy, những nhà giải phóng khu vực đã tiếp nối truyền thống chuyên chế, ít tự do, và nhiều nơi còn chế độ 1 đảng nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị trong nước và đảm bảo quyền cai trị của các nhà lãnh đạo đầu xỏ tại đây. Giai đoạn những năm 60 – 70s, nỏi lên phong trào du kích ở nhiều vùng Nam Mỹ, nhưng sau cái chết của Che Guevara tại Bolivia năm 1967 thì phong trào bắt đầu suy yếu đi. Nhưng nhờ việc cải thiện thể chế và tăng trưởng kinh tế mà xu hướng chống đối này suy giảm đi và nền chính trị các nước quay lại ổn định. Mặc dù vậy, sự ổn định là không chắc chắn khi nền kinh tế khu vực rất yếu kém và dễ tổn thương, mức độ biến động lại cao.
Braxin là quốc gia rộng lớn thứ 4-5 trên thế giới với tài nguyên phong phú, họ từng rất thịnh vượng trong nhưng năm 1822-1889 và suýt vươn lên tầm thế giới khi đó. Nền kinh tế quốc gia này khá phát triển, tới năm 1930, vị tướng quân đội Vargas nắm quyền và thực hiện nhiều sự cải cách cho đất nước, quân đội là lực lượng kiểm soát Braxin khi đó, nhưng rồi họ cũng chán ngán ông và ông này tự sát năm 1954. Sau đó đất nước Braxin đi xuống liên tục, các biện pháp quản lý sai lạc đã cho giới đầu cơ và tham nhũng trục lợi tại đây. Sau đó là sự trở lại của quân đôi kiểm soát chính quyền, và đã tạo được 1 cú tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 1968-1974 với mức tăng 10%/năm GDP. Năm 1974 trở đi, nền kinh tế bắt đầu bị đảo ngược khi mà 40% dân số chia sẻ 10% thu nhập của đất nước và mâu thuẫn bắt đầu bùng phát. Đối thủ cũ của Braxin là Agrentina tiến hàn thử nghiệm hạt nhân trước đẫn tới cuộc chạy đua hạt nhân tại đây. Năm 1975 Braxin hợp tác với tây Đức để phát triển công nghệ hạt nhân với 73 lò phản ứng hạt nhân. Tuy vậy, Braxin không phải là 1 đất nước thật sự hiếu chiến. Braxin với tiềm năng của mình đang dần trở thành người khổng lồ lớn trong nền kinh tế thế giới trong tương lai. Sau 23 năm giới quận sự cầm quyền, họ đã phải nhường lại cho các chính phủ dân sự tại Braxin, nhưng các chính phủ này cũng hông làm tốt hơn khi nạn tham nhũng khắc nơi, chính phủ theo đường nối dân túy chi tiêu bừa bãi không đem lại hiệu quả cho nền kinh tế và đất nước rơi vài khủng hoảng, suy thoái, và trì trệ nhiều năm sau đó.
Argentina: là quốc gia lớn thứ 2 tại Nam Mỹ, họ giành được độc lập từ TBN nhưng mất 1 phần lãnh thổ và hình thành nên các quốc gia như Uruguay, Paraquay, Bolivia. Họ thống nhất được từ cuối thế kỷ 19 và trỏe lên thịnh vượng nhờ phát triển đất đai, chủ yếu do nhân nhập cư châu Âu. Đất nước này thành nước xuất khẩu chính trước chiến tranh thế giới I, sau đó bị ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng 1929-1930 và dần suy thoái. Sau đó là thời gian dài giới quân sự nắm quyền của Argentina và liên tục thay thế người lãnh đạo từ vị tướng này sang các vị tướng khác. Chế độ này tiếp tục kiểm soát tới tận năm 1982 sau khi Argentina thất bại nhục nhã trước Anh trong tranh chấp lãnh thổ 1 hòn đảo Falklands gần Argentina mà Anh chiếm đóng nhiều năm trước đó. 1 chính phủ dân sự được thành lập dưới sự lãnh đạo của Alfonso và để vực dậy nền kinh tế yếu kém của Argentina và việc thua trận trước Anh. Tình hình kinh tế Argentina rất bi đát với lạm phát hàng nghìn %, doanh nghiệp phá sản, lương công nhân giảm 1 nửa,…
Lịch sử Chile cũng là thuộc địa TBN, giành được độc lập rồi diễn ra nội chiên snawm 1891, rồi giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh với Peru và Bolivia. Đất nước này cũng bị lạm phát tàn phá trong thế kỷ 20, sau đó họ có thời kỳ phát triển ổn định tương đối tốt mang hơi hướng xã hội chủ nghĩa cho tới năm 1973 thì bị tướng quân đội Pinochet chiếm quyền dưới sự giúp đỡ của Mỹ. Sau đó ông này tổ chức trưng cầu dân ý tượng trưng và nắm quyền tổn thống suốt 8 năm sau đó. Dù giành được 1 số lợi ích kinh tế nhưng chính quyền độc tài này bị mang tiếng tàn ác và man rợ. Năm 1990, chính quyền độc tài của Pinochet kết thúc với sự quay lại của các những người dân sự.
Ngoài 3 quốc gia Nam Mỹ lớn nhất trên, khu vực này còn bao gồm 7 quốc gia nhỏ hơn vốn là những phần lãnh thổ của đế quốc TBN cũ tác ra. Khu vực này gồm Colombia nổi tiếng về Cocaine, Venezuena nổi tiếng về dầu mỏ và là thành viên của OPEC, Peru và Bolivia nổi tiếng với các mỏ khoáng sản đặc biệt là Đồng.
27. Mexico và Trung Mỹ
Mexico nằm phía dưới bao bọc nước Mỹ ở phía Nam. 2 đất nước có truyền thống thù địch với nhau do các cuộc chiến tranh và Mexico luôn là bên thua cuộc trong các cuộc chiến. Họ thất bại và mất Taxas cho Mỹ năm 1836, sau đó năm 1846 Mỹ chiếm thủ đô Mexico City và kiểm soát ½ nước Mexico và là khu vực Tây Nam nước Mỹ ngày nay. Năm 1862, quân đội Pháp đã chiếm Mexico và lập ra chế độ độc tài tại đây. Sau đó họ quốc hữu hóa ngành dầu mỏ và bắt đầu dần chuyển đổi nền chính trị sang dân sự. Sau chiến tranh thế giới thứ II, Mexico đã trở thành nước tương đối phát triển và ổn định. Nền kinh tế nước này đã chuyển đổi sang công nghiệp hóa từ những năm 1960 trở đi, đô thị hóa được mở rộng, và nhờ lợi ích ở gần Mỹ họ đã tận dụng tốt thị trường tiêu thụ khổng lồ nhất thế giới là Mỹ để vươn lên phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tình trạng chênh lệch giầu nghèo ở đây trở lên quá lớn khi mà 90% tài sản đất nước nằm trong tay khoảng 500k người, trong khi 10% còn lại nằm trong tay 85 triệu dân còn lại. Nợ nước ngoài cũng bùng phát tại đây do sự yếu kém trong quản lý và cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra ở đây năm 1994 và Bộ tài chính Mỹ, IMF phải cứu trợ khẩn cấp cho nước này nhằm tránh 1 vụ sụp đổ mang tính dây truyền cho hệ thống tài chính quốc tế.
Các quốc gia Trung Mỹ còn lại thì ở trong tình trạng bạo lực và thiếu ổn định nhiều năm không được như Mexico tập trung phát triển kinh tế. Các chính phủ quân sự thường được lập ra và kiểm soát đất nước rồi các vụ đảo chính gây bất ổn thường diễn ra tại khu vực này sau chiến tranh thế giới II. Chính quyền Mỹ từ thời Reagan trở đi có mối quan tâm đặc biệt với khu vực này và tỏ ra chống Cộng sản điên cuồng do lo ngại làn sóng này từ Cuba bùng phát ra các nước xung quanh Mỹ.
28. Cuba và vùng Caribe
Cuba là hòn đảo lớn nhát trong quần đảo Antilles, và nằm ở trong vịnh Mexico và rất gần bán đảo Florida của Mỹ. Và vì có vị trí địa lý gần vậy, Cuba có ý nghĩa rất quan trọng với Mỹ và họ rất mong muốn kiểm soát chặt khu vực này. Cuba giành độc lập từ người Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 19, đất nước này khá phát triển khi giành được độc lập. năm 1940, nhà độc tài Batista thành công nắm quyền kiểm soát đất nước và tạo ra chế độ cai trị kinh hoàng tại đây nhiều năm sau đó. Sau đó, Fidel Castro đã chỉ huy cuộc tấn công pháo đài Moncada nổi tiếng nhằm lập đổ chế độ độc tài Batista và bị bắt. Sau 18 tháng bị giam giữ, chuẩn bị cho cuộc tấn công thứ 2 vào tháng 12/1956 gồm 1 nhóm 86 người nhưng vẫn thất bại và chỉ có 12 người sống sót rời đi. Ông bắt đầu xây dựng cuốn chiến du kích từ vùng núi Sierra Maestra và cuốn chiến kéo dài trong suốt 2 năm sau đó. Vào ngày 1/1/1959, chế độ độc tài của Batista sụp đổ, Castro toàn thắng. Cuộc cách mạng này đem lại 3 ý nghĩa to lớn: cải cách chính phủ mới được tiên shanfh mạnh mẽ và không bị kìm hãm; nó mang ý nghĩa xuất khẩu ra bên ngoài; và là đồng minh với chủ nghĩa Cộng sản ở LX. Do vậy, Mỹ đã có sự can thiệp vào đất nước này năm 1961 với lo ngại 1 cuốc gia Cộng Sản nằm ngay cạnh sát sườn với Mỹ. Castro và Che Guevara đã tiến hành những sự cải cách mạnh mẽ và triệt để theo đường lối Cộng sản thay vì các cải cách nửa vời như các quốc gia châu Mỹ khác sau cách mạng. Cuba được sự tài trợ mạnh mẽ của LX cho quá trình xây dựng đất nước sau cách mạng nhờ vào đường nối Cộng sản trung kiên của các nhà lãnh đạo nhưu Castro và Guevara. Năm 1961, Mỹ chính thức áp đặt lệnh cấm vận lên Cuba, họ còn hỗ trợ những người tị nạn Cuba quay về gây rối tại đất nước mình. Rạng sáng ngày 15/4/1961, lực lượng lưu vong Cuba tấn công trở lại Cuba với 1.4k quân và có sự hỗ trợ của máy bay B26 của Mỹ đổ bộ vào nhằm chiếm lại đất nước nhưng thất bại hoàn toàn. Sự kiện này được gọi sự kiện Vịnh Con Lợn nổi tiếng thế giới. Năm 1962 với cuộc khủng hoảng tên lửa khi Nga vận chuyern tên lửa hạt nhân tới Cuba gây ra lo ngại trầm trọng tại Mỹ về 1 nước Cuba ngay bên cạnh có vũ khí hạt nhân của Nga đe dọa toàn bộ nước Mỹ. Nước Mỹ đã phải tích cực thiết lập hệ thống phòng thủ và tấn công tại các nước trong khu vực châu Mỹ nhằm chống lại các đe dọa này, nhưng Cuba nằm ở giữa cũng trở thành con tốt cho LX chống Mỹ và sẽ bị phá hủy đầu tiên nếu chiến tranh thực sự nổ ra giữa LX và Mỹ. Các cuộc phiêu lưu của Castro tại châu Phi càng làm Cuba bị phụ thuộc nhiều hơn vào LX về sau này.
Ngoài Cuba, khu vực này còn nhiều quốc đảo khác với những cái tên rất nổi tiếng là thiên đường thuế như Virgin, Cayman cũng ở quanh khu vực này và chịu sự ảnh hưởng của Mỹ 1 cách mạnh mẽ. Ngoài ra là các nước nhỏ bé như Jamaica, Honduras, Dominica, Haiti,…

ShareTweetShare
nguyenminhhanh

nguyenminhhanh

Người đam mê đọc sách để phục vụ niềm đam mê công việc, kinh doanh của mình và hi vọng giúp ích được cho người khác điều gì đó.

Bài liên quan Posts

Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi

Tháng Mười 5, 2025
Thiên Hoàng Minh Trị – Donald Keene
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Thiên Hoàng Minh Trị – Donald Keene

Tháng Chín 14, 2025
Quân Vương – Niccolo Machiavelli
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Quân Vương – Niccolo Machiavelli

Tháng Bảy 20, 2025
Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc – Kim Byung Kook & Ezzra F.Vogel
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc – Kim Byung Kook & Ezzra F.Vogel

Tháng Sáu 27, 2025
Ngũ luân thư (Gorin No Sho) – Miyamoto Musashi
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Ngũ luân thư (Gorin No Sho) – Miyamoto Musashi

Tháng Mười Hai 4, 2022
Võ sỹ đạo – Linh hồn Nhật Bản  – Tác giả: Inazo Nitobe
Sách Lịch sử - chính trị - văn hóa - tôn giáo

Võ sỹ đạo – Linh hồn Nhật Bản  – Tác giả: Inazo Nitobe

Tháng Mười Một 30, 2022
Bài tiếp theo
Thù thuỷ sàn chứng khoán mới – Jack D.Schwager

Thù thuỷ sàn chứng khoán mới - Jack D.Schwager

Fibonacci Trading – Carolyn Boroden

Fibonacci Trading – Carolyn Boroden

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu

Nguyen Minh Hanh

Học Tin học kinh tế tại National Economics University
Sống tại Hà Nội
Đến từ Hà Nội

  • Xu hướng
  • Bình luận
  • Mới nhất
Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Tháng Ba 27, 2021
45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

45 giây tạo nên thay đổi – thấu hiểu tiếp thị mạng lưới – Don Failla

Tháng Mười Hai 19, 2020
Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Momentum Masters – Những bậc thầy đầu tư theo đà tăng trưởng – Mark Minernivi

Tháng Tám 28, 2020
Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Của cải của các dân tộc (The Wealth of Nations) – Adam Smith

Tháng Mười Một 8, 2020
Hiệu ứng dòng vốn rẻ

Hiệu ứng dòng vốn rẻ

26
Ups – Big Brown

Ups – Big Brown

23
Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis)  – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

Phương pháp VPA (Volume Spread Analysis) – Kỹ thuật nhận diện dòng tiền thông minh bằng hành động giá kết hợp khối lượng giao dịch – Anna Coulling

20
Quant Trading – Hoàng Tùng

Quant Trading – Hoàng Tùng

17
Sách hay năm 2025

Sách hay năm 2025

Tháng Một 1, 2026
TITAN – Gia tộc ROCKEFELLER – Ron Chernow

TITAN – Gia tộc ROCKEFELLER – Ron Chernow

Tháng Mười Hai 27, 2025
Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi

Phúc ông tự truyện – Fukuzawa Yukichi

Tháng Mười 5, 2025
Thiên Hoàng Minh Trị – Donald Keene

Thiên Hoàng Minh Trị – Donald Keene

Tháng Chín 14, 2025
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
Call us: +84 9

© 2020 Nguyenminhhanh.com

Không kết quả
Xem tất cả kết quả
  • Trang chủ
  • Review sách
    • Sách nên đọc nhất
    • Sách tài chính – đầu tư – chứng khoán
    • Sách logicstics
    • Sách bất động sản
    • Sách marketing, sales
    • Sách quản trị kinh doanh
    • Sách tâm lý – logic – triết học
    • Sách khoa học tự nhiên
    • Sách Lịch sử – chính trị – văn hóa – tôn giáo
    • Sách khởi nghiệp, công nghệ, kỹ thuật
    • Sách kinh tế học
    • Sách kỹ năng
    • Sách khác
  • Quản lý gia sản, tài chính cá nhân
    • Quản lý giá sản, tài chính cá nhân
    • Kiến thức thực tế thị trường Việt Nam
  • Nhận định
    • Chứng khoán – tài chính
    • Khoa học – kỹ thuật – khởi nghiệp
    • Kinh doanh – kinh tế
    • Khác

© 2020 Nguyenminhhanh.com