Nền Kinh Tế Di Động Của Trung Quốc (China’s Mobile Economy: Opportunities in the Largest and Fastest Information Consumption Boom) – Winston Ma
Những cơ hội từ sự bùng nổ tiêu dùng thông tin lớn nhất và nhanh nhất. Winston Ma từng là giám đốc điều hành của Tập đoàn Đầu tư Trung Quốc (CIC), CEO của China Silkroad Investment & Development. Hiện nay ông đã định cư tại US và mở công ty CoudTree Venture và cũng là giáo sư bán thời gian tại NY University of Law.
- Nền kinh tế di động lớn nhất thế giới
Ngày độc thân 11/11 của TQ đã trở thành ngày mua sắm quan trọng nhất và lớn nhất thế giới kể từ sau sáng kiến của Alibaba. Ngày này được khởi sướng lần đầu tiên vào năm 2009 và thu hút mọi người tham gia kể cả ở nước ngoài. Ngày này năm 2015 cũng đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ khi người dùng mua sắm trên thiết bị di động đã chính thức vượt qua trên máy tính.
Trong khi thương mại điện tử đã gây ảnh hưởng nhất định đến ngành bán lẻ trên toàn thế giới, thì tại TQ sự bùng nổ của nó là chưa từng có cả về tốc độ lẫn quy mô. Năm 2013, TQ chính thức vượt Mỹ trở thành thị trường thương mại điện tử lớn nhất TQ và liên tục bùng nổ với các kỷ lục mua sắm năm sau nhiều hơn năm trước. Ngày độc thân 11/11/2015, giá trị giao dịch của Alibaba đạt $14,3B tăng 60% so với năm 2014 và năm nào tốc độ cũng tăng cực kỳ nhanh.
Những người mua hàng đang dần chuyển sang sử dụng internet thông qua điện thoại. TQ là đất nước có người dùng điện thoại di động lớn nhất thế giới và quá trình Mobile hóa đang diễn ra với tốc độ thần tốc. Từ năm 2014, số người truy cập internet qua điện thoại đã vượt qua số người truy cập internet bằng máy tính. 43% giao dịch trong ngày độc thân năm 2014 là trên điện thoại, tới năm 2015 thì con số này tăng lên 68,7%.
Dịp lễ hội mua sắm cuối năm đã phô diễn sức mua rất lớn của người dân TQ đối với các hàng ngoại nhập. Alibaba đã thực hiện chiến lược toàn cầu hóa từ năm 2015 với việc mở rộng các sản phẩm hàng hóa ra đa dạng về chủng loại. Người bán và người mua tới từ 232 nước khác nhau trên toàn thế giới. Mặc dù vậy, mua sắm trực tuyến vẫn chưa thể thay thế các kênh truyền thống. Năm 2015, Alibaba đầu tư vào Tập đoàn thương mại Suning (1.600 cửa hàng) với giá trị $4,6B, JD.Com thì mua 10% của chuỗi siêu thị Yonghui (364 cửa hàng) với giá trị $700M. Sự gắn kết của các ông lớn thương mại điện tử với chuỗi siêu thị truyền thống đã tạo ra hoạt động bán hàng đa kênh (Omni-Channel), vào ngày lễ hội độc thận, có khoảng 100k cửa hàng bán lẻ truyền thống cùng tham gia và tạo ra mô hình O2O hiệu quả. Alibaba định hướng thành chợ điện tử lớn nhất TQ. Đó là sự kết hợp của eBay và PayPal, trong khi JD.com phấn đấu thành hãng bán lẻ trực tuyến số 1 TQ và JD học theo mô hình Amazon. Nhưng hiện nay cùng với việc tham gia vào O2O, cả 2 công ty đã trông rất giống nhau.
Đối với TQ, năm 2014-2015 là thời điểm quan trọng nhất lịch sử của internet khi số lượng người dân TQ được tiếp cận internet và các thiết bị điện tử cảm ứng đa điểm (điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính cá nhân và nhiều thiết bị khác). Trong giai đoạn chuyển mình đáng kinh ngạc này, internet trên nền tảng di động ở TQ đã tạo điều kiện cho sự ra đời của khu vực công nghệ cao, thúc đẩy cho sự phát triển của các mạng xã hội và đưa những công nghệ viễn thông hiện đại nhất trên thế giới đến tay tầng lớp trung lưu và bình quân của TQ. Việc kết hợp giữa thương mại điện tử với bán lẻ truyền thống là một điểm cốt lõi trong chiến lược “Internet Plus” của TQ. Tới cuối năm 2015, TQ có 688 triệu người dùng internet, đại đa số đã bỏ qua điện thoại cố định, bỏ qua cả máy tính và đi thẳng lên điện thoại thông minh. Ba hãng sản xuất điện thoại thông minh hàng đầu TQ là Xiaomi, Huawei và Lenovo chiếm thị trường chính khi đó, bên cạnh hai ông lớn là Apple và Samsung. Năm 2014 TQ có 500M người dùng internet di động. Tới 2015 con số này lên 620M người dùng, chiếm 90% dân số sử dụng internet. Hạ tầng internet di động đã phát triển cực nhanh tạo tiền đề cho các dịch vụ trên internet di động bùng nổ phát triển với tệp khách hàng lớn nhất thế giới. Sự phát triển này cũng giúp TQ phát triển thành phố thông minh và nền kinh tế chia sẻ bùng nổ rất mạnh sau đó.
Tầng lớp trung lưu và trẻ là những người sử dụng internet di động nhiều nhất và họ là những người dẫn dắt sự thay đổi một cách cơ bản ở thị trường tiêu dùng TQ. Thế hệ người tiêu dùng mới vô cùng thoải mái với thương mại điện tử trên di động, được tiếp cận với các thương hiệu nước ngoài và với các mạng xã hội có ảnh hưởng lớn đến các quyết định mua hàng của họ. Kết quả là họ có kỳ vọng cao cả về chất lượng và dịch vụ. Hơn cả vai trò là người tiêu dùng thông thái, họ còn là những người muốn chia sẻ kinh nghiệm của mình công khai và việc tiêu dùng của họ được coi là kinh nghiệm cho toàn xã hội học theo.
Các nền tảng thu hút người dùng hàng đầu TQ năm 2014 bao gồm WeChat, QQ, Baidu, Mobile Taobao, QQ Mobile, Bảng gõ chữ Sougou, Qihoo 360, QQ Music, Qzone, Baidu Maps. Mạng xã hội của Tencent chứa hai yếu tố tạo nên dịch vụ internet thông qua di động ở TQ chính là tính giải trí và tính xã hội hóa. Tencent là chủ sở hữu của ½ các ứng dụng phổ biến nhất tại TQ. Công ty này chuyên kinh doanh mảng trò chơi trực tuyến và mạng xã hội. Đặc biệt hai ứng dụng phổ biến nhất là WeChat và QQ.
Phiên bản ban đầu QQ là nền tảng mạng xã hội sớm nhất của TQ khi người dùng có thể đăng hình ảnh, những đoạn phim và blog của mình. Họ cung cấp dịch vụ cơ bản miễn phí, sau đó tính phí các tính năng bổ sung khi khách hàng có nhu cầu. Người dùng sẽ chi trả cho các dịch vụ gia tăng khi có nhu cầu như các món vũ khí hay trang phục cho hình ảnh đại diện của họ. Trong khi đó các đối thủ thường thu lợi từ quảng cáo.
Phiên bản tiếp theo là WeChat hiện là ứng dụng phổ biến nhất tại TQ với số lượng người dùng nhiều nhất tại đây. Ban đầu ứng dụng khá giống Whatsapp, hiện nay thì nó đã tiến hóa thành 1 siêu ứng dụng với rất nhiều tính năng. Việc nhập chữ tiếng Hoa trên bàn phím khó khăn nên WeChat đã phát triển khả năng nhận diện giọng nói rất chính xác và cung cấp dịch vụ tin nhắn thoại miễn phí. Hiện nay, người dùng WeChat có thể gửi văn bản, liên kết, video, và hình ảnh miễn phí qua WeChat mà chỉ tốn tiền cho dịch vụ dữ liệu để kết nối mạng internet. Ngày nay, WeChat còn dùng để thanh toán hóa đơn, game, đặt phòng khách sạn, mua vé máy bay, đặt chỗ xe taxi, và rất nhiều dịch vụ khác,…Về cơ bản người dùng có thể làm mọi việc tại WeChat mà không nhất thiết cần thêm ứng dụng nào khác. Người TQ cũng quan tâm việc mua theo gợi ý của bạn bè nên các gợi ý, đánh giá của bạn bè trên WeChat rất được hưởng ứng rộng rãi của cộng đồng người dùng.
Ứng dụng tìm kiếm di động của Baidu Baidu cũng rất thành công khi đánh bật Google khỏi TQ và chiếm được thị trường. Bên cạnh đó dịch vụ Google Map của họ cũng vô cùng được hưởng ứng tại đây khi mà người dân đi lại hàng ngày sử dụng nó rất thuận tiện để tìm kiếm đường đi. Tuy nhiên, tìm kiếm trên điện thoại không mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty vì các vị trí quảng cáo ít hơn nhiều so với tìm kiếm trên máy tính. Trên điện thoại di động, các dịch vụ tìm kiếm sẽ trở thành các dịch vụ theo định vị. Việc tìm kiếm có thể mang chức năng như một công cụ kết nối con người với dịch vụ.
Bên cạnh đó, đế chế thương mại điện tử Alibaba Alibaba thống trị lĩnh vực thương mại điện tử thông qua ảo chợ ảo lớn nhất thế giới: Taobao và Tmall (Tmall tập trung chủ yếu vào những hàng hóa xa xỉ hay đồ của những nhãn hiệu nổi tiếng). Alibaba năm 2014 chiếm tới 86,2% thị trường chợ thương mại điện tử tại TQ. Vị thế của Alibaba được củng cố mạnh mẽ bởi công ty thanh toán toàn cầu Ant Financial với phần mềm thanh toán Ali Pay tích hợp. Tuy nhiên, lợi thế này đang bị cạnh tranh khốc liệt bởi các nền tảng mạng xã hội cũng đang chứng tỏ khả năng chở thành các nền tảng thương mại.
Ba gã khổng lồ trên gọi tắt là BAT tạo ra sự thống lĩnh ở ba lĩnh vực khác nhau là tìm kiếm, thương mại điện tử và mạng xã hội. Tất cả đều có một tầm nhìn rộng lớn để tạo ra thế giới di động mà người tiêu dùng có thể đắm chìm vào trong đó. Đây là khái niệm vòng khép kín hay hệ sinh thái. Một công ty internet có vai trò xuyên suốt trong quyết định của người tiêu dùng trực tuyến: tạo ra nhu cầu tìm kiếm, tìm kiếm và so sánh các thương gia địa phương, di chuyển khách hàng từ xem xét để mua hàng, thanh toán và sau đó xem xét hoặc chia sẻ với bạn bè và xây dựng lòng trung thành của khách hàng với người bán. Trong kinh doanh O2O, công ty cung cấp dịch vụ trọn gói, từ việc đặt hàng để sắp xếp dịch vụ cho đến thu tiền. Hệ sinh thái đang chứng tỏ là cách kinh doanh rất hiệu quả nên các công ty internet đang cố gắng mở rộng để khén kín hệ sinh thái của họ tận dụng tệp khách hàng đang có và khai thác sâu vào.
Nhóm BAT đã tham gia mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau như: đi chung xe, chăm sóc y tế, sức khỏe, quảng cáo, chế tạo robot, ôtô thông minh, sản xuất film, và đặt biệt trong lĩnh vực âm nhạc giải trí số. Chiến lược “Internet Plus” của TQ được công bố năm 2015 tập trung vào nhiều lĩnh vực như: tích hợp internet di động, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, và internet kết nối vạn vật với sản xuất hiện đại. Tất cả nhằm khuyến khích sự phát triển lành mạnh của thương mại điện tử, mạng công nghiệp, ngân hàng trực tuyến và giúp các công ty internet tăng cường sự hiện diện quốc tế của họ.
Với phương pháp cạnh tranh mới, internet làm giảm đáng kể các rào cản gia nhập, làm cho các doanh nhân có thể khởi động để bắt đầu nhanh chóng, mở rộng quy mô và cạnh tranh. Doanh nhân có thể tiếp cận các nugồn lực với chi phí thấp để bắt đầu các doanh nghiệp mới. Giúp giảm chi phí giao dịch, internet cho phép các công ty, người tiêu dùng, nhà nghiên cứu và khu vực công có thể gặp gỡ và cộng tác ngay lập tức với chi phí rất thấp. Ngoài ra, còn phải kể đến việc sử dụng việc phân tích dữ liệu lớn; khả năng đáp ứng nhu cầu lâu dài; kết hợp các mạng xã hội vào các quyết định mua hàng; nâng cao tính minh bạch, tính cạnh tranh, hiệu quả của mức giá thấp và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Internet plus cũng giúp thúc đẩy nền kinh tế chia sẻ với Didi và Uber phát triển mạnh mẽ. Có nhiều đối thủ Mỹ thâp nhập vào thị trường TQ nhưng đều là các thử thách lớn với họ và đại đa số thất bại phải rút khỏi TQ sau đó. Các công ty TQ cũng phải đối mặt với việc thị trường mặc dù vẫn tăng trưởng mạnh nhưng sẽ dần chững lại và phải tìm kiếm các thị trường ở nước ngoài. Các công ty TQ sẽ phải đối mặt với các công ty Mỹ trên thị trường quốc tế đặc biệt tại thi trường châu Á. Bên cạnh đó, thị trường TQ đủ lớn để tạo ra thành các xu hướng mới thay vì là thị trường đi theo xu hướng như trước đây. Nó phát triển nhờ quy mô người dùng lớn mà không đâu có và khối lượng dữ liệu khổng lồ mà TQ đã thu thập được. Họ đã thoát được cái bóng từ các công ty chuyên đi sao chép ban đầu thành các công ty đổi mới, sáng tạo và đi đầu trong rất nhiều công nghệ mới. Việc xây dựng nền tảng 4G mới nhanh ở TQ cũng càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự đổi mới và gia tăng người dùng internet di động tại đây.
- Khách hàng, đối tác, nhà đầu tư và đối thủ cạnh tranh: các bên liên quan trên toàn cầu
Những người tiêu dùng TQ được xem như một trong những nhóm người tiêu dùng điện tử tiên tiến nhất thế giới và vẫn đang có nhu cầu trải nghiệm những tính năng mua hàng trực tuyến tân tiến hơn. Điều này tạo điều kiện cho nhiều công ty tiếp cận vấn đề ở nhiều cách khác nhau mà vẫn có thể thành công được. Nhờ tầng lớp trung lưu tăng trưởng thần tốc của TQ sau quá trình mở cửa cải cách kinh tế đã tạo ra tệp khách hàng cực kỳ lớn cho các công ty phát triển mạnh mẽ.
Thế hệ người tiêu dùng mới này rất hứng thú với thương mại điện tử di động. Sự phổ biến nhanh chóng của điện thoại thông minh, hạ tầng băng thông rộng tốt và sự thoải mái mua sắm bằng điện thoại thông minh đã giúp thị trường bùng nổ dễ dàng.
Việc truèn bá thông tin trực tuyến đã gúp người tiêu dùng TQ có thể tiếp cận với các thương hiệu trên toàn thế giới. Người tiêu dùng có thể dễ dàng tiếp cận các thương hiệu và từ các cửa hàng khác nhau một cách dễ dàng hơn nhiều so với các cửa hàng truyền thống. Các chương trình xây dựng thương hiệu tập trung vào tầng lớp trung lưu cũng làm thay đổi đáng kể thói quen tiêu dùng của người mua sắm.
Mạng xã hội tạo ra ảnh hưởng to lớn đối với quyết định mua sắm của khách hàng. Người tiêu dùng TQ bị ảnh hưởng mạnh bởi quyết định mua hàng của bạn bè, người thân của họ qua mạng. Điều này đã được WeChat khai thác triệt để qua nền tảng của mình. Nó làm định hình hành vi của người tiêu dùng một cách đáng kể. Nó cũng giúp các công ty bán hàng tạo ra nền tảng trao đổi với khách và duy trì sự quan tâm của khách hàng với các sản phẩm của mình.
Thế hệ những người tiêu dùng trẻ là những khách hàng đáng chú ý. Người trẻ rất đam mê đồ xa xỉ và khi có thể họ sẽ sẵn sàng lên đời các sản phẩm xa xỉ đó.
WeChat, một nền tảng mới cho các thương hiệu nước ngoài. Ban đầu nó lập ra giống các nền tảng truyền thông xã hội ở nước ngoài, nhưng hiện nay nó đã biến đổi đi rất nhiều và đi trước các nền tảng nước ngoài hiện tại. Nhờ tiện ích có thể gửi tin nhắn văn bản, đường link, video, hình ảnh cho bạn bè qua WeChat và sau đó mở rộng ra các dịch vụ thanh toán hóa đơn, trả tiền điện thoại, chơi trò chơi, đặt vé máy bay, khách sạn, taxi… Nó đã trở thành siêu ứng dụng tiện lợi có thể làm được mọi việc. Nền tảng này cũng rất dễ sử dụng với người dùng nhờ tính năng nhắn tin thoại hiệu quả thay cho cách gõ ký tự tiếng TQ phức tạp. Môi trường giao tiếp tại WeChat cũng được cho là gần gũi, bảo mật và đáng tin cậy với người dùng. Các chiến dịch quảng cáo trên WeChat cũng gây ra sự thích thú của người dùng ứng dụng mạnh mẽ. Đặc biệt nếu ai được chọn để quảng cáo các sản phẩm xa xỉ họ sẽ thấy rất thích thú vì họ coi đó là điều khẳng định họ là người giàu có, trong khi đối tượng không nhận được quảng cáo đồ xa xỉ mà các đồ như coca-cola lại bị coi thường là tầng lớp nghèo trong xã hội và không có đẳng cấp.
Alibaba tiếp cận với các sản phẩm nước ngoài. Thị trường bán lẻ của TQ vẫn còn thô sơ so với Mỹ trước đây khi tỷ lệ phủ của các TTM chỉ bằng 1/10 tại Mỹ. Nhưng sự bùng nổ của thương mại điện tử đã giúp xóa nhòa khoảng cách này giữa TQ và Mỹ. Hệ thống bản lẻ này nhanh chóng len lỏi vào hầu như mọi ngóc ngách của đất nước TQ tới cả các thành phố cấp 3, cấp 4 và nông thôn. Tới 2015 có tới hơn 10 triệu người bán hàng trên nền tảng Alibaba. Các sàn TTĐT TQ cũng mở rộng ra quốc tế với Tmall Global, JD World Wide để cạnh tranh ra quốc tế. Các hãng nước ngoài cũng thiết lập nhiều cửa hàng để trực tiếp bán hàng vào TQ thay vì phải lập công ty phân phối và bán hàng tại đây, giúp giảm chi phí kinh doanh rất lớn khi chỉ kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử online. Hàng hóa Mỹ là được ưa chuộng nhất với 58,2% lượng đặt hàng, sau đó là Hàn Quốc 34,4%, Nhật Bản 30,6%, Úc 17,9%, Anh 11,2%, NZ 10,4%. Đặc biệt các hàng hóa thực phẩm tươi sống chất lượng cao và đảm bảo an toàn thực phẩm khi TQ liên tục có các vụ scandal về thực phẩm bẩn.
Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn còn rất nhiều thách thức cho các công ty nước ngoài vì:
- Logicstics và vận chuyển là những thách thức lớn với các doanh nghiệp
- Việc cạnh tranh về giá cũng rất khốc liệt vì các mặt hàng thiết yếu hàng ngày đều được cung cấp bởi các nguồn nội địa với giá rẻ hơn rất hiều và trong nhiều trường hợp họ còn cung cấp dịch vụ vận chuyển miễn phí.
- Các công ty nước ngoài phải đối mặt với tình trạng hàng giả tràn lan trên các nền tảng thương mại điện tử. Như các loại hàng nhái, hàng giả, hàng gắn mác giảm giá từ trực tiếp nhà máy, hàng xuất khẩu dư, v.v… Đều là hàng giả. Alibaba đã phải thắt chặt việc quản lý hàng giả khi công ty này chuẩn bị tiến hành IPO tại Mỹ và nhiều quy định bắt buộc khi kinh doanh tại Mỹ.
Các nhà đầu tư tài chính nước ngoài đang tỏ ra chiến thắng lớn khi họ đầu tư vào các công ty chiến thắng trong nền kinh tế di động tại TQ, như các khoản đầu tư vào nhóm 3 công ty khổng lồ BAT như Softbank của Nhật Bản, Naspers của Nam Phi. Thế hệ đầu này thành công về câu chuyện thích nghi với TQ, nơi mà các doanh nhân bắt đầu đưa mô hình kinh doanh trực tuyến của phương Tây vào TQ, thì thế hệ các công ty khởi nghiệp về sau lại chủ yếu là câu chuyện về cải tiến ở TQ. Tận dụng những lợi thế về quy mô lớn và sự phát triển nhanh chóng của thị trường, các công ty mới mở đang tạo ra những đặc trưng tiến bộ và mô hình kinh doanh độc đáo. Bên cạnh đó, họ đang dần mở rộng thị trường quốc tế để trở thành các công ty toàn cầu. Các quỹ đầu tư rất hào hứng với các viễn cảnh mới này.
Các công ty hàng tiêu dùng của Mỹ khi tham gia vào TQ lại trở nên tụt hậu như gã khổng lồ bán lẻ Walmart đã mất đi lợi thế khi cạnh tranh tại đây bởi sự bùng nổ của thương mại điện tử trên Alibaba, JD.com thay vì trên nền tảng Walmart. Các thương hiệu có thể dễ dàng thâm nhập thị trường thay cho các kênh truyền thống đã làm tiêu thụ của Unilever giảm mạnh tại TQ. Tuy vậy, các nhãn hàng mới cũng sẽ gặp khó khăn khi kinh doanh ban đầu vì sự tìm kiếm và tiêu thụ ít ban đầu làm ảnh hưởng tới sự xuất hiện của nó khi khách hàng tìm kiếm sản phẩm theo số lượng bán, hay số lượng tìm kiếm, số lượng xuất hiện và khó ở các vị trí đầu tiên trên trang tìm kiếm. Các hãng hàng tiêu dùng quốc tế có xu hướng chuyển đổi sang nền tảng bán hàng trực tuyến qua các sàn TMĐT như JD.com hay Alibaba và cả nền tảng của chính họ. Bên cạnh đó là xu hướng chuyển các cửa hàng thực tế hiện tại thành các trung tâm phân phối theo khu vực để có thể dễ dàng cho khách hàng mua trực tuyến.
- Xiaomi – doanh nghiệp khởi nghiệp có giá trị lớn nhất của Trung Quốc
Vào cuối năm 2014, Xiaomi nhận khoản vốn đầu tư $1,1B đưa định giá công ty lên $45B và trở thành công ty start up giá trị nhất TQ khi đó. Tốc độ phát triển của Xiaomi cũng cực kỳ nhanh chóng và thành công khi nó mới được lập ra bởi nhà lãnh đạo tài năng Lei Jun vào năm 2010. Công ty được thành lập với số vốn $40M bởi 7 thành viên trong đó có Lei Jun, Lin Bin và 5 người khác. Ban đầu họ phát triển hệ điều hành MIUI, 1à bản nâng cấp từ hệ điều hành Android của Google và xây dựng được một hệ sinh thái người dùng ban đầu trước khi chính thức cho ra đời sản phẩm phần cứng là điện thoại thông minh đầu tiên Mi-1 vào tháng 8/2011. Chỉ chưa đầy 5 năm, Xiaomi đã vươn lên nắm thị phần số 1 tại TQ trong một khoảng thời gian trước khi bị Apple vượt trở lại sau đó.
Các yếu tố giúp Xiaomi trở thành chú ngựa ô trên thị trường thiết bị di động lớn nhất thế giới là:
Xiaomi đã thành công trong việc xây dựng nền tảng khách hàng trước khi tung ra sản phẩm. MIUI, hệ điều hành do Xiaomi phát hành từ năm 2010 đã có hơn 300k fan hâm mộ và họ thường xuyên cập nhật các phiên bản cải tiến, tiếp thu phản hồi của khách hàng về khen chê, đề xuất ý tưởng tinh chỉnh và Xiaomi tiếp thu rồi tiến hành cản tiến hệ điều hành của họ một cách nhanh chóng. Tới khi phần cứng Mi-1 ra đời vào tháng 8/2011, họ đã nhanh chóng bán hết sạch thiết bị chỉ trong hai ngày qua mạng internet trực tiếp. Mỗi lần bán ra này khoảng 50k máy tạo ra sự khan hiếm và ai mua được thường hay khoe trên mạng thể hiện sự vượt trội của họ so với người khác. Chiến dịch bán hàng này dần mất hiệu quả khi các đối thủ cạnh tranh khác tham gia và thiết bị cũng dần không nổi trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác.
Sử dụng chiến lược giá rẻ nhằm nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần trong giai đoạn nền kinh tế TQ đang bùng nổ. Điện thoại thông minh tại TQ dần thay thế máy tính cá nhân, người tiêu dùng tại nông thôn còn bỏ qua việc sử dụng máy tính cá nhân để sử dụng trực tiếp điện thoại thông minh nhằm kết nối internet. Với giá bản rẻ chỉ bằng 1/3-1/2 chiến Iphone đã giúp Xiaomi chiếm lĩnh thị trường của tầng lớp trung lưu và nông thôn vô cùng khổng lồ và đang tăng chóng mặt của TQ. Thiết kế sản phẩm hấp dẫn, phần cứng mạnh mẽ chỉ thua kém một chút so với các phiên bản Iphone mới ra mắt. Các chiến dịch marketing qua truyền miệng trực tiếp tập trung vào giới trẻ, những người dẫn dắt xu hướng công nghệ và tiêu dùng trên internet. Xiaomi cũng chấp nhận mức biên lợi nhuận rất thấp khi bán hàng để trợ giá cho thiết bị nhằm có user đủ lớn và sau đó tập trung kinh doanh dịch vụ internet trên tệp khách hàng lớn. Lợi nhuận sẽ tới từ các dịch vụ giá trị gia tăng đi kèm.
Cấu trúc vốn thấp trên nền tảng internet. Công ty sử dụng mô hình Just-In-Time của Dell và bán hàng trực tiếp qua internet thay vì bán qua các nhà mạng di động như các hãng bán thiết bị di động khác. Điều này giúp giảm được chi phí bán hàng rất lớn cho công ty. Công ty cũng tích cực sử dụng marketing truyền miệng, tạo ra xu hướng trên internet về sản phẩm của mình và quảng cáo qua người nổi tiếng,v.v…
Lôi kéo người tiêu dùng cùng tham gia thông qua việc tương tác với nhà sản xuất. Cộng đồng Xiaomi tăng trưởng rất nhanh và có 10 triệu thành viên tích cực nhanh chóng ở các vùng miền và tầng lớp khác nhau. Công ty cũng thường xuyên lắng nghe, cập nhật phần mềm vào mỗi thứ Sáu hàng tuần và điều chỉnh theo nhu cầu khách hàng.
Thay đổi trong thị trường và sự cạnh tranh trở nên khốc liệt
Năm 2014, Xiaomi dẫn đầu thị trường nhưng các đối thủ khác nhanh chóng tham gia tích cực và giành giật vô cùng quyết liệt với hai cái tên khác là Huawei và Lenovo. Tất cả các công ty này đều phát triển các hệ điều hành riêng dựa trên nền tảng hệ điều hành Android của Google và đưa mức độ phổ biến của Android lên mức rất cao ở TQ. Mỗi năm tại TQ khi đó tiêu thụ khoảng 100 triệu chiếc với chủ yếu là thiết bị bình dân. Nhưng nhu cầu chuyển sang các dòng cao cấp đang ngày càng nhiều hơn với niềm mong ước chủ yếu của người tiêu dùng mọi tầng lớp có thể sở hữu điện thoại Iphone thay vì các dòng điện thoại giá rẻ nội địa. Cuộc cạnh tranh trong thị phần điện thoại giá rẻ ngày càng khốc liệt hơn bởi nhu cầu của khách hàng khao khát điện thoại giá rẻ thấp đi.
Lenovo từ một công ty sản xuất máy tính đã chuyển sang sản xuất điện thoại thông minh vì sự bão hòa của thị trường máy tính, định giá của Lenovo chỉ bằng ½ Xiaomi tại thời điểm đó dù lợi nhuận lớn hơn rất nhiều. Lenovo cũng mua lại Motorola với tham vọng mở rộng mảng điện thoại thông minh trong thời gian tới. Huwei là công ty sản xuất thiết bị viễn thông lớn nhất thế giới và dần mở rộng ra các sản phẩm thiết bị đầu cuối thay vì chỉ tập trung vào các thiết bị viễn thông như trước đây và cũng tự phát triển các hệ điều hành riêng của mình. Trong khi Apple là niềm khao khát của đại đa số người tiêu dùng tại TQ ở mọi lứa tuổi và mọi mức thu nhập.
Phía trước điện thoại thông minh: Tương lai của Xiaomi
Năm 2014, Sau đợt huy động vốn thành công một số báo cáo đựa đưa ra với kết quả kinh doanh của Xiaomi đạt mức biên lợi nhuận 13% và lợi nhuận ròng $566M. Mức lợi nhuận khá mỏng của công ty do chính sách bán hàng giá rẻ lấy user. Công ty cũng có cấu trúc với công ty mẹ ở Cayman, công ty tại HK sở hữu cổ phần công ty tại TQ khá phức tạp. Phần cứng vẫn đóng góp 94% vào thu nhập của công ty dù định hướng dịch vụ mới là mảng đem lại hiệu quả chính trong tương lai. Việc định giá cao của Xiaomi chủ yếu liên quan đến tương lai của Xiaomi, mà theo Lei Jun bao gồm: phần mềm + phần cứng + internet. Ông coi điện thoại thông minh là sự kết hợp của phần mềm, dịch vụ internet và phần cứng, thay vì là một thiết bị đơn giản để liên lạc. Và tư tưởng này có thể áp dụng cho các phần cứng có kết nối internet khác tạo ra internet kết nối vạn vật và ngôi nhà thông minh. Để thực hiện điều này, Xiaomi đã đầu tư vào hàng trăm công ty khác nhau để sản xuất các thiết bị phần cứng có kết nối khác nhau nhằm tạo ra hệ sinh thái kết nối này. Tuy nhiên, chiến lược này cũng có nhiều thử thách riêng.
Rất nhiều công ty internet cũng đang phát triển các hoạt động tích hợp phần cứng và phần mềm. Trong khi Xiaomi đi từ phần cứng sang phần mềm, rất nhiều công ty đang kinh doanh dịch vụ cũng mở rộng sang kinh doanh phần cứng. Alibaba đầu tư vào Meizu Technology với hệ điều hành YunOS của Alibaba, Tencent cũng làm ra Tencent OS để kinh doanh phần cứng như cách Amazon, Google cũng đi kinh doanh phần cứng tại Mỹ.
Xiaomi là người đến muộn trong cuộc đua về nội dung trên internet. Các nội dung như thương mại điện tử, giải trí, tìm kiếm đã bị các công ty internet chiếm giữ và lũng đoạn trước khi Xiaomi tham gia vào thị trường nội dung số. Công ty đã bắt đầu với trang vào Xiaomi để giữ người dùng trên nền tảng thay vì chuyển sang các nền tảng của nhóm BAT và tìm kiếm các sản phẩm độc đáo khác như Xiaomi Video hay các khoản đầu tư vào iQiYi – nền tảng video trực tuyến và các dịch vụ thuê bao hàng tháng.
Khi Xiaomi mở rộng ra các thị trường nước ngoài và cung cấp nhiều loại sản phẩm hơn, công ty sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì mô hình kinh doanh hiện tại. Câu hỏi là liệu Xiaomi có thể tiếp tục thành công ở thị trường nước ngoài bằng cách nhân bản mô hình thành công ở TQ hay không để trả lời cho câu hỏi giá trị thị trường của Xiaomi có xứng đáng mức $45B và tiếp tục cao hơn trong tương lai nếu thành công ở quốc tế. Khi Xiaomi tham gia quá nhiều các sản phẩm khác nhau, ở hàng trăm công ty khác nhau họ có kiểm soát được chất lượng tất cả các sản phẩm đều chất lượng cao như cách họ làm với điện thoại hay không. Xiaomi bị coi là nhái Apple, nhưng Lei Jun lại nghĩ công ty mình là sự lai của Amazon và Google hơn. Tuy vậy, việc thiếu hụt các bản quyền công nghệ cũng là sự hạn chế cho sự phát triển bền vững của công ty trong tương lai.
- Kỷ nguyên của bán lẻ trực tuyến đa kênh
Cuộc chiến của hai đối thủ lớn nhất trên thị trường TMĐT tại TQ khi đó là giữa Alibaba và JD.com. Mô hình hai công ty này có sự khác biệt nhau khi Alibaba tập trung vào việc mô hình đầu tư tài sản nhẹ (ít đầu tư tài sản) và tạo ra các khu chợ, quản lý chợ, thu phí, thu dịch vụ quảng cáo (giống mô hình eBay). Trong khi JD.com lại hoạt động như 1 công ty bán lẻ trực tuyến giống mô hình của Amazon.
Theo Jack Ma, mô hình của JD.com là không bền vững gì nó cần đầu tư quá lớn cho hệ thống logicstic và có thể sẽ phải thuê tới 1 triệu người để hệ thống có thể vận hành trơn tru, nó quá đắt đỏ khi số lượng đơn hàng mỗi ngày lên tới 300tr trong 10 năm tới. Nhận xét này đã bị phản ứng vì hai mô hình kinh doanh này không có đúng sai rõ ràng. Hai công ty này cũng cạnh tranh với nhau ở mọi nơi, khi Tmall biểu tượng là con mèo thì JD.com lại là biểu tượng con chó. Cả hai cùng niêm yết ở Mỹ vào năm 2014 và thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài.
Vị trí vượt trội của Alibaba
Alibaba được thành lập năm 1999 bởi 18 sáng lập viên do Jack Ma đứng đầu. Với hai sản phẩm chính là Taobao dành chủ yếu cho C2C và Alibaba thu tiền từ dịch vụ quảng cáo, chuyên cung cấp chợ cho người bán hàng đại chúng trực tiếp. Còn Tmall là dịch vụ B2C với doanh thu từ việc được niêm yết hàng hóa và hoa hồng bán hàng. Các doanh nghiệp sẽ xây dựng hệ thống bán hàng trực tuyến của họ trên nền tảng này. Tmall đảo bảo hơn vì được lựa chọn kỹ càng hơn cho các doanh nghiệp đã có uy tín.
Quy mô thương mại của Alibaba là quá lớn so với các đối thủ cạnh tranh khác trong ngành và tạo ra sự khác biệt lớn giữa Alibaba với phần còn lại của thi trường. Tổng khối lượng giao dịch (GMV) của Alibaba chiếm tới 61,4% tổng giá trị thị trường TMĐT tại TQ và vượt qua cả giá trị của Amazon tại Mỹ từ năm 2012. Nền tảng Taobao ra đời năm 2003 còn Tmall ra đời từ năm 2008. Công ty thứ hai là JD.com có GMV chiếm 18,6%, Suning 3,2%, Vipshop 2,9% còn lại là các nền tảng nhỏ chiếm <2% tổng cộng đạt 13,9%. Từ khoảng 2016 trở đi, Alibaba đã giảm trọng tâm vào GMV mà tập trung nhiều vào việc phát triển mang tính bền vững để công ty có thể trường tồn hơn 100 năm.
Lợi thế tiếp theo khác của Alibaba chính là mô hình chợ điện tử và biên độ lợi nhuận lớn của hãng. Alibaba vận hành như một nền tảng trung gian giữa người bán và người mua, trong khi không phải nhập kho hàng hóa hay vận hành hệ thống phân phối đã tạo ra mức lợi nhuận lên tới 40% cho công ty. Mức lợi nhuận này là quá lớn cho ngành phân phối và bán lẻ hiện tại. Lợi nhuận này cũng đến từ việc thị trường chưa trưởng thành và nhờ hiệu ứng mạng mạnh mẽ của Alibaba khi là người tiên phong đến trước đã chiếm lĩnh thị trường, khách hàng thì sẽ rất ngại việc chuyển từ nền tảng này sang nền tảng khác nếu không có gì đặc biệt hấp dẫn thu hút họ. Vipshop.com thì vận hành nền tảng bán giảm giá chớp nhoáng khi chuyên tập trung bán các sản phẩm có thương hiệu tốt (các hàng xa xỉ phẩm) với giá giảm trong một khoảng thời gian hữu hạn trong ngày và cực kỳ thu hút người dùng. Nó thu hút tới nỗi Alibaba đã đầu tư một nền tảng tương tự để cạnh tranh với Vipshop.com.
Lợi thế thứ 3 của mô hình Alibaba là tương đối “nhẹ” về tài sản, bởi hãng không cần đầu tư cho kết cấu hạ tầng của hệ thống phân phối (cũng như không cần thuê nhân công cho hệ thống này). Đây chính là tranh luận chính cho hai mô hình kinh doanh Alibaba và JD.com, xem đâu là thứ ưu việt hơn giữa hai mô hình. JD.com và Alibaba theo tiêu chí phân loại. GMV của JD.com ở mức $20B là rất bé so với quy mô $250B của Alibaba. Nhưng hai công ty này đang có sự cạnh tranh cực kỳ quyết liệt với nhau trên mọi lĩnh vực kinh doanh. Bất cứ công ty nào có động thái gì thì công ty khác sẽ có hành động đáp trả nhanh chóng ngay sau đó.
Hai công ty có cách tiếp cận khác nhau với vấn đề logicstíc của bán lẻ trực tuyến. JD.com hứa hẹn với khách hàng cung cấp hàng hóa chất lượng cao và vận chuyển đúng hẹn cho khách hàng. Nó là sự kết hợp của Amazon và UPS trong chiến lược giao hàng. JD đã đầu tư nhiều tỷ USD vào hệ thống kho bãi, trung tâm phân phối và việc vận chuyển đầu cuối. Hệ thống CNTT của JD hỗ trợ và giám sát toàn bộ quá trình và dữ liệu từ hệ thống này được chia sẻ với những nhà bán hàng. Mặc dù việc xây dựng hệ thống này là vô cùng đắt đỏ, bù lại JD xử lý đơn hàng nhanh hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Việc bán hàng nhái, hàng giả cũng ít xảy ra hơn, vận chuyển tốt hơn và ít hư hỏng hơn trong quá trình vận chuyển. Tới năm 2014, JD có 86 nhà kho (1.5 triệu m2, tại 36 thành phố), 1.620 trung tâm phân phối, 214 trung tâm tự nhận hàng, 24.412 nhân viên giao hàng, 11.145 nhân viên kho bãi, và 5.832 nhân viên dịch vụ khách hàng. Trong khi đó, Alibaba giao cho bên thứ ba làm việc vận chuyển hàng hóa này. Công ty cũng đầu tư vào một số hãng vận chuyển như China Smart Logicsstics và cam kết sẽ vận chuyển <24h hàng hóa khắp TQ trong 10 năm tới. Nhưng cho dù đầu tư rất lớn, các giai đoạn cao điểm thì hệ thống logicstics nội bộ vẫn khó có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng và vẫn cần phải bên thứ ba vận chuyển cho các công ty TMĐT. Alibaba có 23k nhân viên xử lý 27 triệu gói hàng/ngày, trong khi JD có khoảng gần 100k nhân viên và xử lý 2 triệu gói hàng/ngày.
JD cũng đang tích cực mở rộng nguồn thu của mình ra ngoài các sản phẩm truyền thống như dịch vụ cho vay tiêu dùng. Khu vực nông thôn TQ trở thành chiến trường mới nhất giữa các hãng. Gần 50% dân số TQ ở nông thôn và tỷ lệ người dân mua sắm trực tiếp đang bùng nổ nhanh chóng lên 28,8% vào năm 2014 và dự báo tiếp tục bùng nổ mạnh mẽ đã tạo ra một thị trường rộng lớn cho các hãng TMĐT trong thời gian tới và cạnh tranh cực kỳ khốc liệt trong thị trường mới này. Người dân ở các vùng quê đã nhanh chóng trở thành người bán hàng và người mua hàng trở lại nhanh chóng khi tích cực áp dụng công nghệ vào việc mua bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra được. Họ đã tạo ra rất nhiều ngôi làng Taobao (>70k ngôi làng Taobao vào năm 2014). Nhưng hoạt động vận chuyển lại là một rào cản với vùng nông thôn đặc biệt các khu vực xa xôi mà các hãng vận chuyển chưa thật sự bao phủ hết được.
Trận chiến trong lĩnh vực bán lẻ trực tuyến trên di động chỉ vừa mới bắt đầu. Alibaba đã đi trước trong việc phát triển bán lẻ trên thiết bị di động so với JD. JD sau đó đã liên kết với Tencent trong việc quảng bá nền tảng trên ứng dụng mạng xã hội của Tencent và ứng dụng thanh toán lớn thứ hai WeChat Wallet của Tencent được tích hợp vào nền tảng để làm công cụ thanh toán cạnh tranh với AliPay của Alibaba đang thống trị thị trường. Mặc dù vậy, thị phần mua sắm trên di động của Alibaba vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối với tỷ trọng 86,2% vào năm 2014, trong khi JD chỉ đạt 4,2%. Việc mua sắm trên mạng này có một số yếu tố then chốt giúp thúc đẩy là: bình luận trực tuyến (71,1%); danh tiếng của nền tảng bán lẻ điện tử (62,3%); giá cả sản phẩm (58,1%); thời gian giao hàng (57,3%); sự nổi tiếng của nhãn hàng (44,8%).
Tuy vậy, từ cuối 2014 cả hai hãng đã dần chuyển sang mô hình bán hàng đa kênh với việc Alibaba đầu tư mạnh vào Intime với giá trị $692M để năm 10%. Sau đó là vụ thâu tóm hệ thống siêu thị khổng lồ Sunig với giá trị $4,6B vào năm 2015 để chuyển đổi sang mô hình O2O. JD cũng không chịu thua khi mua 10% chuỗi siêu thị Yonghui với gia trị $700M để mở rộng O2O tương tự Alibaba và tập trung xây dựng các trải nghiệm bán hàng đa kênh cho khách hàng. Các công ty sẽ phục vụ khách hàng cả trực tuyến và ngoại tuyến. Khách hàng có thể tìm kiếm và so sánh sản phẩm trên mạng, thử sản phẩm tại các cửa hàng ngoại tuyến, trả tiền trên mạng hoặc tại các cửa hàng ngoại tuyến, bố trí giao hàng trên mạng hoặc đến lấy hàng tại cửa hàng vật lý. Các cửa hàng thuận tiện giao thông sẽ thu hút được khách hàng và các hãng cũng phải quản lý thêm rất nhiều thứ từ sử dụng bán hàng qua internet, trực tiếp, quản lý marketing, logicstics, hậu mãi,… Mặc dù gia tăng tiện tích cho khách hàng nhưng các hãng bán lẻ sẽ phải thay đổi cấu trúc chi phí và tính toán hiệu quả kinh doanh phức tạp hơn để duy trì được lợi nhuận. Việc quản lý chuỗi cung ứng là vấn đề cực kỳ then chốt trong mô hình này. Các công ty cần đầu tư về xử lý dữ liệu lớn vì khách hàng thường dùng nhiều kênh khác nhau cùng một lúc để giữ chân được khách hàng trên nền tảng của mình lâu dài.
- Thương mại điện tử trên nền tảng di động và từ trực tuyến đến ngoại tuyến (O2O)
Năm 2014, Tencent đã có 1 cú tấn công bất ngờ đầy táo bạo vào thị trường thanh toán trực tuyến nơi mà AliPay của Alibaba là kẻ thống lĩnh trong thời gian trước đó và đã xâm nhập sâu vào đời sống người dân TQ. Cuộc chiến “Hongbao” đã tạo ra cú đột phá lớn cho Tencent trong sự ra đời của WeChat Wallet (một ứng dụng ví điện tử). Tencent đã tung ra vài trăm triệu hồng bao lì xì năm mới trong dịp Tết Nguyên Đán này và thu hút lượng lớn người dùng mới tham gia gửi tặng và nhận lì xì bằng cách mở tài khoản và kết nối với tài khoản ngân hàng. Nhà lãnh đạo Jack Ma của Alibaba gọi đây là “Cuộc tấn công Trân Trâu Cảng” đánh mạnh vào Alibaba. Tết Nguyên đán 2015, cuộc chiến cạnh tranh bùng nổ giữa hai gã khổng lồ Alibaba và Tencent nổ ra kịch liệt trong cuộc chiến Hongbao. Khi Alibaba tung ra 430 triệu phong bì lì xì với giá trị $100M cho người dùng. Còn Tencent tung ra 120 triệu phong bì lì xì tới người dùng để lôi kéo, tài trợ cho người dùng sử dụng ứng dụng thanh toán của họ.
Tiềm năng của thị trường trực tuyến đến ngoại tuyến (O2O)
Với sự phát triển bùng nổ của hạ tầng internet di động và việc sử dụng điện thoại thông minh, TQ đang giữ vai trò dẫn dắt thị trường toàn cầu trong lĩnh vực thương mại điện tử từ trực tuyến đến ngoại tuyến. O2O được địn nghĩa là sự tích hợp của các cơ hội kinh doanh ngoại tuyến với những hoạt động trên internet. Tăng trưởng của O2O tại TQ có quan hệ chặt chẽ với việc đô thị hóa mạnh mẽ tại đây, cũng như việc gia tăng tầng lớp trung lưu nhanh chóng. Các ngành kinh doanh của TQ dần có sự xâp nhập mạnh mẽ vào phá vỡ và thay đổi cấu trúc kinh doanh truyền thống trước đây. Người dân ở mọi thế hệ với xuất thân rất khác nhau đều đã được làm quen với lối sống internet thông qua các dịch vụ di động. Từ ý tưởng ban đầu, O2O đã dần trở thành mô hình kinh doanh thương mại điện tử trong tương lai. Thị trường O2O có sự tham gia của 3 bên gồm người tiêu dùng, người bán hàng ngoại tuyến và các nền tảng đi động trực tuyến. Chúng đan xen với nhau tạo thành 3 dòng kinh doanh chính trong O2O.
– Người bán hàng thông tin cho khách hàng tiềm năng về những sản phẩm, dịch vụ đặc biệt mà người tiêu dùng chưa biết và hướng dẫn người tiêu dùng đến những cửa hàng của họ để trải nghiệm chúng;
– Người tiêu dùng thực hiện giao dịch trực tuyến ngay khi họ đang làm những công việc thường ngày;
– Người bán hàng đưa ra những khuyến mãi nhằm mục tiêu đến từng đối tượng khách hàng để khuyến khích giao dịch lặp lại.
Dòng 3: Thông tin trực tuyến đến với thế giới ngoại tuyến
Các công ty cung cấp các ưu đãi và giảm giá trên mạng cũng như tại cửa hàng cho khách hàng phù hợp với thói quen mua sắm của từng khách hàng. Các công ty cũng thiết lập các tài khoản để khách hàng trao đổi với công ty qua nền tảng WeChat trực tiếp để gắn kết khách hàng với nhà cung cấp dịch vụ để có lòng trung thành với sản phẩm sau đó một cách dễ dàng bằng QR Code.
Dòng 2: Bán lẻ di động
Đâylà việc khách hàng thực hiện giao dịch trực tuyến từ thiết bị di động ngay khi họ vẫn đang tiến hành những công việc thường ngày. Đó thường là các giao dịch bộc phát khi họ đang lướt mạng, đang nghỉ ngơi, hay đang chờ đợi tầu điện ngầm hay taxi. Họ lướt qua các nền tảng và thích thú ra quyết định mua nó ngay. Các ý tưởng này sẽ thành công nếu các nền tảng cho thanh toán trực tuyến ngay và khách không có thời gian để suy nghĩ lại. Đây là lợi thế khi AliPay ra đời sớm và đã chiếm được thị phần rất lớn trong thị trường thanh toán online, nơi mà nền văn hóa sử dụng thẻ tín dụng như Mỹ vẫn còn rất hạn chế và giải pháp. AliPay đã thỏa mãn nhu cầu của đại đa số người tiêu dùng TQ. Tencent không có nền tảng bán hàng mạnh như Alibaba và họ đã cố thử một số giải pháp như WeLife nhưng thất bại. Tới 2014 họ cho ra đời WeChat Wallet với thành công trong chiến dịch “Hongbao” và sự trợ giá mạnh cho việc thanh toán điện tử đã giúp nền tảng này dần chiếm được vị trí trong cuộc chiến bán lẻ di động.
Dòng 1: Tiềm năng thị trường O2O lớn nhất
Đây là việc thu hút khách hàng bán lẻ qua mạng, sau đó chỉ dẫn họ đến những cửa hàng ngoài đợi thực để mua sản phẩm hoặc có các trải nghiệm thực tế như đi xem film, ăn nhà hàng, mua sắm, gọi xe taxi,… Việc tăng trưởng tiêu dùng các “trải nghiệm” đang là trung tâm của các xu hướng O2O tại TQ. Vì thị trường nhìn thấy thế hệ thứ 2 hay thứ 3 của những người tiêu dùng trẻ trong các thành phố có mối quan tâm vượt qua những thứ cần thiết hàng ngày. Họ luôn tìm kiếm và sẵn sàng trả tiền cho những hoạt động thư giãn hay giải trí độc đáo, chuyên biệt. Nhiều dịch vụ O2O cũng bùng nổ như kinh doanh O2O trong dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc người già,v.v…O2O vừa tạo ra chiếc bánh lớn hơn, vừa chia cái bánh theo những cách mới. Hàng loạt các hãng internet lớn, các công ty khởi nghiệp đều lao vào cạnh tranh khốc liệt trong thị trường này.
Các gã khổng lồ công nghệ BAT đã tập trung rất nhiều tiền để thâm nhập vào thị trường này nhằm giành giật lấy miếng bánh cho mình. Baidu với ứng dụng bản đồ để giới thiệu các cửa hàng vật lý gần người dùng nhất và tiện lợi nhất. Alibaba có AliPay là trung tâm thanh toán của hệ thống kết nối online với offline. Tencent có hệ thống người dùng lớn nhất TQ và xâm nhập cực kỳ sâu vào cuộc sống hàng ngày của người dân, họ có thể làm hầu như mọi thứ trên nền tảng WeChat của Tencent. Ngoài ra còn có người chơi quan trọng nữa là gã khổng lồ BĐS Wanda của Vương Kiện Lâm, công ty sở hữu nhiều trung tâm thương mại nhất thế giới cũng tích cực tham gia vào với việc đi từ offline sang online ngược với các gã khổng lồ internet.
Với dịch vụ ăn uống O2O thì là sự thống trị của gã khổng lồ dịch vụ giao đồ ăn Meituan Dianping. Công ty này đã sống sót sau cuộc chiến đốt tiền của dịch vụ coupon tại TQ và chiếm 50% thị phần, sau đó đã sáp nhập với Dianping công ty chiếm 30% thị phần để giảm cạnh tranh trợ giá triệt tiêu nhau tạo thành gã khổng lồ sau sáp nhập với cổ đông chính là Tencent. Nhưng sau khi Alibaba rút lui, họ lại đầu tư vào 1 công ty giao đồ ăn khách để tiếp tục chiến đấu, Baidu cũng không chịu từ bỏ khi đầu tư tiếp vào công ty giao đồ ăn Noumi để tiếp tục cạnh tranh với Meituan Dianping. Miếng bánh quá hấp dẫn mà không ai muốn từ bỏ dù đã có một gã khổng lồ thống trị thị trường này.
Miếng bánh lớn nhất: O2O + Bán hàng đa kênh
Thị trường lớn nhất và cạnh tranh khốc liệt nhất mà không ai chịu từ bỏ nó là thị trường bán hàng đa kênh, vì tương lai của thương mại điện tử chính là O2O. Đây sẽ là một nền tảng trơn tru kết nối người tiêu dùng từ màn hình của nhiều thiết bị di động khác nhau, cung cấp hàng hóa theo tiêu chuẩn cũng như những hàng hóa và những trải nghiệm đặc biệt. Đồng thời kết nối những nội dung trực tuyến với các hoạt động ngoại tuyến. Nhóm 3 công ty: Tencnet + Baidu + Wanda đã hơp tác với nhau tạo ra Trung tâm thương mại thông minh “Smart Plaza” nhằm tạo ra mạng lưới O2O cạnh tranh với mô hình O2O của Alibaba. Tencent nhờ đặc điểm xã hội và di động đã có sẵn trong DNA của ứng dụng WeChat, họ có lợi thế đặc biệt trong thương mại điện tử O2O, nhưng Alibaba vẫn là đơn vị tiên phong thống lĩnh thị trường này.
- Giải trí di động
Cuộc cách mạng trong ngành giải trí đang bùng nổ ở TQ cũng từ khoảng năm 2014 trở lại đây. Bùng nổ như cách các dịch vụ cá cược bóng đá để gây quỹ từ thiện diễn ra trong World Cup năm 2014 dù TQ không tham gia đã thu hút được 1.5BCNY qua các nền tảng WeChat và Toabao. Đây là ví dụ hoàn hảo về Internet Plus mà các công ty đang tiến hành tại TQ. Khi mà cư dân trẻ <39 tuổi chiếm 75% người dùng internet di động tại TQ và trong đó khoảng 30% là người dùng từ 20-29 tuổi, độ tuổi tiêu dùng mạnh mẽ nhất trên mạng hiện nay.
Sự kết hợp giữa các thiết bị di động và nội dung trực tuyến không chỉ tạo ra sự dịch chuyển tiêu dùng từ máy tính cá nhân sang thiết bị di động mà còn làm gia tăng thêm nhu cầu và sự khác biệt trong cầu về các nội dung số. Điều này có được do sự thuận tiện của các ứng dụng trên điện thoại đi động và các phần mềm trên điện thoại cho phép người dùng sử dụng hiệu quả các khoảng thời gian tranh thủ. Họ có thể đọc sách mọi lúc, mọi nơi với các thiết bị di động của họ. Các công ty cũng bán nội dung số và dịch vụ giải trí như sách trực tuyến, các bộ film, chương trình truyền hình và các trò chơi trực tuyến một cách thuận lợi. Nhóm BAT đã coi kinh doanh giải trí là sự khởi đầu chiến lược chung để phát triển hệ sinh thái của họ.
Khi TMĐT đã trở nên thông dụng hơn, các nội dung độc đáo có thể là sự khác biệt để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của công ty rồi giữ chân họ ở lại. Cả 3 gã khổng lồ công nghệ đã tập trung xây dựng nền giải trí trực tuyến và ngoại tuyến. Họ vừa cạnh tranh nhau trở thành nhà phân phối hàng đầu về nội dung và giải trí tại TQ từ film ảnh, chương trình truyền hình, thể thao, trò chơi, âm nhạc hay tuyển thuyết. Họ cũng trở thành một khối tập hợp nội dung lớn thông qua việc mua bản quyền hoặc hợp tác thỏa thuận với những chủ sở hữu nội dung chất lượng trên toàn cầu, cũng như trở thành nhà sản xuất nội dung riêng độc quyền.
Văn học trực tuyến trong 10 năm qua
Văn học trực tuyến đã phát triển từ việc chia sẻ niềm vui đến việc trở thành lĩnh vực kinh doanh bùng nổ cùng với khả năng sinh lời được kiểm chứng ở TQ. Ban đầu các tác giả này viết để thỏa mãn niềm vui vì nhiều tác phẩm bị nhà xuất bản từ chối. Sau đó họ tự đăng các bài viết trên các diễn đàn, nền tảng chia sẻ tiểu thuyết và thu hút được người đọc. Sự bùng nổ của điện thoại thông minh kết nối internet giúp người đọc tận dụng thời gian tranh thủ tối đa đọc các nội dung được đăng trên mạng. Có tới 84,6% người đọc tiểu thuyết online là người sử dụng điện thoại. 3 công ty xuất bản hàng đầu là Shanda Literature, Tencent Literature, và Baidu Literature. Nhưng Shanda bị tụt hậu lại và bị Tencent thâu tóm vào năm 2016 và Tencent trở thành công ty chiếm 70% thị trường này. Các tiểu thuyết này được viết và đăng một cách từ từ thành nhiều chương kéo dài trong thời gian dài. Các nền tảng sẽ yêu cầu người đọc trả khoản tiền nhỏ khoảng $0.01/chương và còn có chế độ tài trợ cho tác giả và nhiều tác giả có các sản phẩm thu hút người đọc đã trở nên giàu có. Các nội dung văn học trực tuyến trở thành quyền sở hữu trí tuệ cho nhiều sản phẩm theo sau là phim, tivi, trò chơi, hoạt hình, và xuất bản và các lĩnh vực khác. Một số tiểu thuyết trực tuyến nổi tiếng đã chuyển thể thành các bộ film bom tấn lượt người xem với chi phí thấp như bộ “Đạo Mộ Bút Ký” được ứng dụng iQIYI chuyển thể thành film và phát trên nền tảng mình đã giúp ứng dụng thu hút người tải về sử dụng tăng vọt. Tới cuối năm 2014, TQ có khoảng 400 triệu người dùng xem video trực tuyến thường xuyên. Càng nhiều thiết bị thông minh hơn trong tương lai thì số người sử dụng dịch vụ video trực tuyến sẽ ngày càng lớn hơn nữa. Các nền tảng chính là Youku Todou của Alibaba, iQIYI của Baidu, Tencent Video của Tencent, Sohu Video của Sohu là những ứng dụng chính trên thị trường. Họ cung cấp dịch vụ video miễn phí cho người xem và thu tiền từ dịch vụ quảng cáo để tìm kiếm người dùng thường xuyên trên nền tảng. Sau một thời gian, từ nội dung người dùng tạo (UGC), các nền tảng đã dần chuyển sang nội dung được làm chuyên nghiệp (PGC). Các bộ film dài tập, phim ngắn, chương trình tạp kỹ, tin tức/thời gian, film ngắn, âm nhạc, thể thao,… là những thứ thu hút người xem thường xuyên nhất. Và điều này đòi hỏi các nền tảng phải mua bản quyền của các hãng làm film chuyên nghiệp và nhiều đối thủ cùng tham gia mua đã làm chi phí bản quyền tăng cao, đặc biệt các bản quyền độc quyền trên nền tảng sẽ có chi phí khổng lồ trong khi văn hóa trả tiền để xem film chưa thực sự phát triển ở TQ thời điểm đó. Kỳ vọng trong tương lai là người tiêu dùng sẽ sẵn sàng chi trả tiền để được xem các sản phẩm chất lượng cao và sớm nhất. Người dùng cũng dịch chuyển từ xem tivi truyền thống sang xem truyền hình theo yêu cầu tới 80,4% và dần chuyển sang xem trên internet và các kênh phát video trực tuyến đang dần chiếm ưu thế áp đảo và sẽ sớm thay thế các kênh truyền hình truyền thống tại TQ.
Với chi phí cho nội dung tăng lên liên tục, doanh thu của ngành công nghiệp video trực tuyến trở nên không chắc chắn và đầy thử thách, đặc biệt khi:
Các ông lớn trong ngành đầu tư vào nội dung chuyên nghiệp (PGC) và vấn đề bản quyền trở nên cấp thiết. Doanh thu nhạc số tại TQ năm 2013 chỉ đạt $82.6M, chỉ bằng 1% trong tổng doanh thu toàn cầu của các công ty thu âm trong khi TQ lại là thị trường lớn nhất thế giới sử dụng dịch vụ này. Nạn vi phạm bản quyền là quá lớn ở TQ đã ngăn cản các hãng tạo ra nguồn doanh thu lớn và ổn định.
Các hãng phát video trực tuyến gặp khó khăn trong việc phát triển nhóm người dùng ổn định, điều này rất quan trọng đối với cả doanh thu từ người dùng và doanh thu từ quảng cáo. Người dùng thường chuyển qua lại giữa các nền tảng khác nhau nhờ chi phí chuyển đổi thấp nên việc giữ chân khách hàng rất khó khăn.
Việc phát triển lượng khách hàng trả tiền là rất khó khăn ở TQ. Tại Mỹ, Netflix cũng rất khó khăn khi phát triển người dùng trả tiền vào giai đoạn năm 2014 và TQ cũng gặp khó khăn trong điều này. Nền tảng iQIYI mất 4 năm để có 5 triêu người dùng đầu tiên. Sau khi họ thành công lớn với “Ký Sự Đào Mộ” đã tăng lên 10 triệu người dùng chỉ sau 5 tháng sau đó. Việc ra đời một bộ film độc quyền thành công là giải pháp tốt để tăng nhanh người dùng trả tiền. Mặc dù vậy, tỷ lệ doanh thu từ quảng cáo vẫn chiếm 70% và thu từ phí thành viên chỉ chiếm 30% trong các công ty phát video trực tuyến. Các công ty rất khát vốn để duy trì và phát triển thị phần, mỗi trang cần vốn trên 3 mặt trận: để mua nội dung hấp dẫn nhằm có được nhiều người xem nhất và nhiều quảng cáo nhất; để truyển dụng các chuyên gia bán quảng cáo trực tuyến có kinh nghiệm; và mở rộng băng thông phát video trực tuyến. 3 gã khổng lồ đã liên tục chạy đua và không ngừng gia tăng chi phí phát triển nền tảng chia sẻ video trực tuyến của riêng họ, khi kinh doanh giải trí di động có tầm quang trọng chiến lược đối với đế chế internet của họ. Đa màn hình, mô hình đa doanh thu Lĩnh vực chính của internet di động ở TQ là vui chơi và giải trí, các hãng internet xem nội dung giải trí đưa mọi người đến với thế giới trực tuyến cũng quan trọng giống như điện thoại thông minh, thương mại điện tử di động, tìm kiếm di động và mạng xã hội. Nhiều nhà đầu tư đổ rất nhiều tiền và chịu thua lỗ nặng nề nhưng vẫn tiếp tục đầu tư mạnh vào lĩnh vực này để mong chờ thu được lợi nhuận lớn trong tương lai.
Các công ty đã đầu tư vào các thiết bị thông minh để thu hút người xem. Ban đầu là các thiết bị chuyển đổi cho tivi thường thành smart tivi, rồi sau đó là các cải tiến để xem tốt trên cả điện thoại và tivi. Xiaomi sau khi đầu tư mạnh vào iQIYI đã cho ra đời các giải pháp tích hợp sẵn xem video trực tuyến cả trên điện thoại và tivi thông minh mà hãng bán ra một cách thuận tiện.
Tích hợp liên quan tới thương mại điện tử là khi Alibaba đầu tư vào và sau đó thâu tóm nền tảng Youku Tudou. Nó giúp người xem video có thể mua các sản phẩm trên Taobao hay Tmall khi đang xem video hoặc đang lướt trên Alibaba vẫn có thể xem được video tích hợp trên nền tảng TMĐT này.
Tích hợp thứ ba là với các sản phẩm giá trị khác trên các màn hình khác nhau. Đó là việc phát các video và chia sẻ video trên các nền tảng khác như phát trên truyền hình cáp địa phương, cung cấp cho internet,…Các định dạng video chạy được trên nhiều nền tảng khác nhau và tích hợp thành các gói dịch vụ cho người dùng có thể xem ở mọi thiết bị khác nhau.
- Điện ảnh thời “Internet +”
Các bộ film TQ hiện nay rất nhiều được lấy từ các tác giả mạng mà trước đây họ là những người vô danh. Nhờ công nghệ dữ liệu lớn, các gã khổng lồ công nghệ đã nắm bắt được thị hiếu, nhu cầu khách hàng và tham gia sâu vào sản xuất film với các dự án từ các tác phẩm mạng. Ngành điện ảnh TQ đã nhanh chóng trở thành ngành O2O lớn nhất tại đây. Với sự am hiểu hành vi người tiêu dùng, các tập đoàn đều đã thành lập hãng phim riêng để trực tiếp sản xuất phim, đặc biệt là những bộ film về thế hệ trẻ, thị phần lớn của người dùng internet TQ. Họ trở thành những nhà sản xuất, phân phối và phát hành của tương lai.
Tại TQ tới năm 2015 có khoảng 31.627 các màn ảnh lớn chiếu film với sự lớn mạnh và chiếm thị phần của hãng Wanda trong thị trường này. Một số hãng lớn khác như IMAX cũng tham gia vào thị trường TQ. Mặc dù quy mô số rạp lớn nhưng so sánh với quy mô dân số thì vẫn ở mức thấp so với Mỹ. Nhưng điều này không có nghĩa là rạp chiếu film ở TQ còn thiếu. Vì các rạp chiếu film ở Mỹ đang tỏ ra thừa và kinh doanh kém hiệu quả đi rất nhiều khi các dịch vụ chiếu film online bùng nổ mạnh mẽ và giành giật khách hàng với các rạp chiếu film truyền thống. Năm 2014, doanh thu phòng vé tại TQ đạt $4,77B, +36% so với năm 2013 và vươn lên thành thị trường lớn. Chính sách hạn chế film nước ngoài tại TQ cũng là rào cản cho sự phát triển của lĩnh vực này tại đây khi chủ yếu là các bộ film nội địa nhàm chán do các đạo diễn già thực hiện suốt nhiều năm. Cho tới khi các thế hệ công ty làm film do các hãng khổng lồ công nghệ, thực hiện các cuộc khảo sát trên mạng để cho cộng đồng mạng chọn đạo diễn, đóng góp kịch bản, lựa chọn diễn viên thì cách làm film trẻ trung đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trẻ mới bắt đầu bùng nổ và thị phần film nội địa tại TQ mới bắt đầu tăng mạnh lên ngang với film bom tấn của nước ngoài. Thị trường film TQ cũng nhanh chóng trở thành thị trường film lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ và các bộ film bom tấn đều không thể bỏ qua được thị trường TQ khi nó phát hành ra công chúng.
Có 3 xu hướng chính chi phối ngành điện ảnh TQ thời công nghệ số. Đó là So-Lo-Mo (Xã hội – Địa phương – Di động):
– Xã hội (Social): mạng xã hội đã cung cấp mối liên kết mạnh mẽ giữa khán giả và các bộ phim ở các giai đoạn của bộ phim đó. Các mạng xã hội đã đóng góp các ý kiến quan trọng về nội dung film, lựa cọn biên kịch, đạo diễn, diễn viên cho các bộ film từ trước trong và cả sau khi quay. Nó cũng thể hiện thị hiếu mong muốn của người xem cuối cùng để các hãng film có định hướng từ đầu khi tạo ra bộ film. Các màn hình tương tác hình viên đạn khi công chiếu cũng được thử nghiệm để khán giả có thể vừa xem vừa bình luận về các tình tiết và nội dung trong film
– Xu hướng địa phương (Location): vừa tinh tế và sâu sắc hơn khía cạnh xã hội. Trước đây, thanh niên ở đô thị loại một là khách hàng chính cho các bộ film, ngày nay sự bùng nổ đã đem rạp chiếu film tới mọi thành phố từ cấp 1 tới cấp 5. Lượng khách hàng ở các thành phố cấp 4-5 đang ngày càng tăng lên nhanh chóng và áp đảo các khách hàng ở đô thị loại 1. Xu hướng các hãng film đang dịch chuyển tới các khách hàng ở nông thôn mới, khao khát sự thay đổi cuộc sống bình thường của mình ngày một lên cao hơn.
– Khía cạnh di động (Mobile): internet và các thiết bị thông minh đang trở thành phương tiện chính kết nối thị trường phim ảnh với khán giả TQ. Các bộ film chuyển thể từ các cuốn tiểu thuyết thu hút tới 75% những người đã đọc nó muốn xem thử film chuyển thể từ các tiểu thuyết đó. Vì vậy, việc marketing cho các bộ film qua mạng xã hội đúng đối tượng sinh viên, học sinh và các tầng lớp trẻ là cực kỳ hiệu quả giúp tiết kiệm chi phí quảng cáo cho các nhà phát hành film rất lớn khi các mãng xã hội có tệp khách hàng lớn và lợi thế trong việc truyền đi thông điệp này. Công nghệ internet cũng giúp việc mua vé thay đổi khi vé chủ yếu được mua qua mạng thay vì mua trực tiếp ở phòng vé như giai đoạn trước đây. Các ông lớn trong ngành gồm Tencent, Alibaba, Baidu và Wanda tiếp tục phát triển mạnh mẽ và chiếm lĩnh ngành. Wanda còn xây dựng film trường lớn nhất thế giới với chi phí $8B ở Thanh Đảo, và mua cả hãng rạp chiếm film AMC tại Mỹ cho chiến lược mở rộng trong ngành của mình (hiện đã thất bại, bán AMC và thu hẹp quy mô rất nhanh).
Hoạt động của các công ty sản xuất film TQ và Mỹ cũng có sự liên kết với nhau ngày một sâu sắc hơn khi thị trường TQ ngày càng lớn hơn và các công ty Mỹ không thể làm ngơ. Họ tìm mọi cách đưa yếu tố TQ vào film Hollywood để được chấp nhận tại TQ nhưng đại đa số không thật sự thành công. Film TQ đi ra quốc tế cũng rất khó khăn do nó mang đậm tính TQ và chưa phù hợp với thị hiếu khách hàng phương Tây. Việc kéo dài thời gian chiếu rạp của các film mới ra cũng đang gặp phải kháng cự mạnh khi xu hướng người tiêu dùng trẻ dần thích xem film tại nhà qua các nền tảng phát film trực tuyến như Netflix đã ảnh hưởng nhanh và mạnh tới các rạp chiếu film truyền thống và các rạp này đang có tương lai ảm đạm, đặc biệt ở Mỹ khá rõ ràng. Các rạp chiếu film ở TQ liệu có gì khác để thoát khỏi được xu hướng như các rạp chiếu film tại Mỹ hay không vẫn còn là câu hỏi lớn. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất film TQ cũng tiến hành đầu tư tài trợ cho các bộ film bom tấn tại Hollywood, hay hợp tác sản xuất film tại TQ để chiếu toàn cầu và các mối quan hệ hợp tác ngày càng chằn chéo đan xen lẫn nhau hơn nữa.
- Tài chính internet
Các doanh nghiệp nhỏ và mới thành lập cũng như các cá nhân đại đa số khó tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng truyền thống vì họ yêu cầu các mức tín nhiệm và tài sản lớn khi tiến hành các khoản vay. Đây là thi thị trường mà dịch vụ cho vay ngân hàng (P2P) ra đời. Nó huy động vốn đầu tư từ cộng đồng và tín dụng vi mô dựa trên dữ liệu lớn. Trong thời gian ngắn dịch vụ này đã bùng nổ lên thành hoạt động kinh doanh quy mô hàng tỷ USD tại TQ với hơn 3.000 công ty P2P hoạt động vào năm 2015. Sự bùng nổ trước khi có quy định pháp lý đã dẫn tới quy định ngân hàng TW TQ và 10 Bộ ngành khác cùng tham gia xây dựng nên hướng dẫn về thúc đẩy phát triển lành mạnh tài chính internet. Bản hướng dẫn này định nghĩa tài chính internet là các tổ chức tài chính truyền thống và công ty internet sử dụng công nghệ internet để thực hiện thanh toán, cho vay trực tuyến, huy động vốn qua internet, thị trường quỹ internet, bảo hiểm internet, đánh giá tin nhiệm trên internet và tài chính tiêu dùng.
Cho vay ngân hàng trực tuyến (P2P) là phương thức mà người tiêu dùng bình thường có thể trực tiếp cho các nhân và doanh nghiệp nhỏ vay qua nền tảng trực tuyến mà không cần sử dụng trung gian tài chính truyền thống như ngân hàng. Các ngân hàng thương mại trước đây thường không mặn mà với các khoản cho vay nhỏ và thiếu tài sản đảm bảo như các khoản vay mà P2P làm. Với hơn 3.000 công ty P2P hoạt động và quy mô cho vay tới $188B thực sự là một thị trường rất lớn. Bản chất nó giúp người cho vay và người đi vay bình đẳng ở 4 khía cạnh là: công bố thông tin, mức độ chấp nhận rủi ro, cơ cấu kỳ hạn, quyền và nghĩa vụ. Sự bùng nổ quá mạnh này tạo ra rủi ro lớn trong việc quản lý hoạt động kinh doanh và Chính phủ TQ đã kiểm soát hoạt động cho vay P2P này bằng cách yêu cầu các công ty cần thông qua các ngân hàng thương mại thực hiện dịch vụ giám sát quỹ cho vay để đảm bảo an toàn tài chính và giám sát tài chính, điều này đã làm các công ty P2P suy sụp nhanh chóng sau đó.
Các hoạt động huy động vốn từ cộng đồng cũng thiếu khung pháp lý rõ ràng khi các đợt huy động vốn đó có vi phạm quy định chào bán cổ phần ra công chúc mà Ủy ban Chứng khoán TQ quản lý hay không. Các nền tảng huy động vốn này cũng thường rót vốn vào các dự án kém hiệu quả và có cả nhiều dự án lập ra để lừa đảo hoặc các công ty lập ra các dự án ma để nhận tiền rồi bỏ trốn. Sau khi bản quy định ra đời năm 2015, các đợt huy động vốn cộng đồng mà phân phối công khai, quy mô nhỏ và sự tham gia rộng rãi đã bị Ủy ban Chứng khoán TQ quản lý đã gây khó khăn rất nhiều cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực huy động vốn cộng đồng.
Ngày 4/1/2015, Tencent là công ty đầu tiên cho ra đời ngân hàng internet tại TQ với tên gọi WeBank. WeBank như một ngân hàng cho “nhỏ và nhiều”, tức là tập trung vào các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ thông thường đồng thời liên kết với internet và mạng xã hội.
Bằng cách cung cấp tài chính vi mô cho công chúng, các ngân hàng internet như WeBank đã giải quyết nhu cầu cho đại đa số cá nhân tiếp cận vốn một cách dễ dàng mà hệ thống tài chính hiện tại chưa đáp ứng được
Ngân hàng internet thực hiện tất cả các hoạt động trực tuyến. WeBank sử dụng công nghệ nhân dạng bằng khuôn mặt để xác minh danh tính của người đi vay từ một cổng từ xa và tất cả các khoản vay được xử lý trực tuyến
Khả năng trả nợ người đi vay được phân tích bằng các công nghệ dữ liệu lớn, làm giảm bớt thông tin bất cân xứng giữa ngân hàng và người vay. Người vay cũng được hưởng mức lãi suất thấp hơn nhiều các kênh vay truyền thống khác như tín dụng đen, cầm đồ,v.v…
Người dân TQ đã hầu như bỏ qua dịch vụ thẻ tín dụng và chấp nhận sử dụng các loại ví điện tử chủ yếu là Alipay và WeChat Pay của Alibaba và Tencent cho các hoạt động thường ngày. Họ dễ dàng chấp nhận ngân hàng internet như WeBank hơn so với các nơi khác. Nhà đầu tư cá nhân cũng ít công cụ đầu tư thay thế cho kênh tiền gửi tiết kiệm truyền thống khi mà bất động sản và chứng khoán thường được coi là kênh đầu tư lớn và đầy rủi ro so với kênh tiền gửi tiết kiệm. WeBank khởi đầu tốt với việc cho các lái xe tải vay qua nên tảng clb lái xe tải với 650k tài xế là thành viên, với 160k công ty xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, các vướng mắc về bắt buộc người mở tài xế phải hoàn thiện thủ tục giấy tờ trực tiếp ở chi nhánh ngân hàng vẫn là rào cản lớn cho ngân hàng internet thực thụ. Công nghệ nhận dạng khuôn mặt của Tencent đạt mức độ chính xác 99,65% nhưng họ vẫn chưa được PBOC công nhận chính thức thay thế cho các thủ tục giấy tờ trực tiếp.
Sau khi Tencent chính thức hoạt động WeBank, Alibaba cũng nhanh chóng cho ra đời ứng dụng ngân hàng trực tuyến của mình với công nghệ dận diện khuôn mặt với độ chính xác 99,99%. Ngân hàng mà Alibaba lập ra là MYBank. Mặc dù chậm hơn Tencent trong ngân hàng trực tuyến. Nhưng Alibaba lại đang là kẻ thống trị thực sự thị trường tài chính internet ở TQ. Với nền tảng Ant Financial Alibaba đã tạo ra AliPay từ năm 2003 và dẫn đầu thị trường thanh toán trực tuyến khi là hệ thống thanh toán mặc định trên các nền tảng TMĐT của Alibaba, rồi sau đó lan ra các hình thức thanh toán vật lý bên ngoài với 80% thị trường thanh toán qua mạng tại TQ. Alibaba cũng tiên phong tạo ra sản phẩm Quỹ thị trường tiền tệ (i-MMF) Yu’e-bao vào tháng 6/2013 và nhanh chóng tăng trưởng AUM với tốc độ kỷ lục. Cuối năm 2013 đã huy động được 100 tỷ CNY ($15B) với 120 triệu nhà đầu tư. Rồi sau đó nhanh chóng lên 600 tỷ CNY vào năm 2014 ($90B). Sản phẩm này quả thật đã đáp ứng nhu cầu lớn của khách hàng TQ khi mà kênh tiết kiệm truyền thống có lãi suất quá thấp trong khi đại đa số người dân lo sợ các kênh đầu tư rủi ro cao như chứng khoán hay bất động sản thì đòi hỏi vốn quá lớn. Tianhong là công ty quản lý quỹ mà Ant Financial kiểm soát là đơn vị trực tiếp vận hành dịch vụ này đã thành công khi tạo ra bể tiền lớn và kinh doanh lãi suất kỳ hạn cao để tạo ra lợi suất cao hơn hẳn cho nhà đầu tư gửi tiền vào quỹ MMF thay vì gửi tiết kiệm trực tiếp ở các ngân hàng. Nhà đầu tư cũng đã quá quen thuộc với các dịch vụ thanh toán online và sử dụng ví điện tử nên dễ dàng tiếp nhận ý tưởng đầu tư vào quỹ tiền tệ trên internet này. Các sản phẩm này cũng đảm bảo tính thanh khoản cao và nhà đầu tư nhận lãi suất thực thay vì bị trả về lãi suất không kỳ hạn như cách gửi thông thường ở ngân hàng truyền thống.
Ant Financial đã cho ra đời nhiều sản phẩm khác nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng:
- Yu’e-bao: để quản lý tiền thanh khoản (MMF) với rủi ro thấp nhất
- LeYe-bao: chi phí bảo hiểm cho nhân viên công ty với rủi ro thấp
- Yu’le-bao: tương tự như huy động vốn cộng đồng, đầu tư gián tiếp vào các dự án giải trí như trò chơi trên điện thoại, phim và chương trình truyền hình với rủi ro từ trung bình – cao
- ZhaoCai-bao: các sản phẩm quản lý tài sản với điều khoản cố định, tài sản thay thế: rủi ro từ trung bình tới cao
- Stock Funds: mua bán các quỹ trên thị trường cổ phiếu với rủi ro từ trun gbình – cao
- Stock Trading: mua bán trực tiếp cổ phiếu riêng lẻ, rủi ro cao
Các sản phẩm này nằm trong bộ sản phẩm Ant Fortune của công ty để quản lý tài sản cho khách hàng. Ant Financial với nhiều hoạt động cốt lõi chủ chốt đã tạo thành đế chế tài chính internet khổng lồ được định giá tới $40B vào năm 2015 (khi họ định IPO năm 2020 đã định giá tới $250B nhưng bị hoãn lại). Các dịch vụ chính của đế chế này:
– Ant Financial: điện thoán đám mây + dữ liệu lớn là trung tâm
– Ant Fortune: quản lý tài sản
– Ali Pay: thanh toán điện tử
– MyBank: Tài chính siêu nhỏ
– Kinh doanh toàn cầu
– Tiếp cận ngoại ô
Tới năm 2015, Ant Fin đã có 17 triệu người dùng ở nước ngoài với 14 loại tiền tệ khác nhau. Quá trình quốc tế hóa của công ty đang diễn ra với các bước đi thận trọng. Ant đã đầu tư và nắm 25% cổ phần của công ty thanh toán Paytm ở Ấn Độ.
Sự tăng tốc chóng mặc của các công nghệ di động vào ngành tài chính đã tạo ra lo ngại lớn cho các tổ chính tài chính truyền thống và lo ngại việc họ có thể bị thay thế hoàn toàn hay không. Các ngân hàng truyền thống cũng đã có nhiều bước tiến để tự làm mới mình nhằm cạnh tranh với các giải pháp tài chính mới mẻ này. Các công ty công nghệ tài chính cũng phải tìm kiếm các giải pháp để lôi kéo và giữ chân người dùng của mình trên nền tảng mới thay cho các nền tảng truyền thống. Các ngân hàng thương mại truyền thống phải xử lý nhiều vấn đề như: một số lượng lớn khách hàng, những người đi vay nhỏ lẻ, với chất lượng tín dụng tốt và ở mức chi phí thấp
Các ngân hàng truyền thống phải giải quyết rất nhiều khó khăn khi xử lý dữ liệu quá lớn này khi mà không có bộ chấm điểm tín dụng chuẩn FICO như các ngân hàng Mỹ đang áp dụng. Trong khi các công ty internet sử dụng các thuộc toán dữ liệu lớn để làm điều này và khá thuận lợi. Alibaba đã đi đầu lập ra Sesame để đánh giá tín nhiệm của khách hàng từ các nền tảng của mình và chia sẻ đánh giá này với các đối tác khác để quyết định hoạt động cho vay. Tín dụng Sesame (dữ liệu lớn) sẽ giúp cho vay siêu nhỏ của MyBank, thương mại điện tử của Ali Pay, quản lý tài sản của Ant Fortune, các doanh nghiệp O2O,..
- Vươn ra nước ngoài – một con đường gập ghềnh
Con đường vươn ra nước ngoài của các công ty TQ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Người đi tiên phong ZTE đã đem điện thoại di động không có thương hiệu cuả mình dưới dạng ODM cho các nhà mạng Mỹ để thâm nhập thị trường này từ sớm. Sau đó họ mới đưa các sản phẩm có thương hiệu ZTE vào thị trường Mỹ, thị trường mà việc bán ra các thiết bị di động bị các nhà mạng nắm trong tay là chính. Sản phẩm ZTE tới 2014 đã đứng thứ 4 tại Mỹ sau Apple, Samsung, và LG. Tại nội địa, ZTE cũng là thương hiệu mạnh trong giai đoạn trước dây khi từng đứng đầu thị trường nội địa nhưng đã bị Huwei, Lenovo và Xiaomi vượt qua do chính sách thu hẹp dải sản phẩm và tập trung vào sản phẩm cao cấp của ZTE trong khi nhu cầu sản phẩm trung và thấp cấp là chính tại TQ khi đó. ZTE cũng là công ty có nghiên cứu sâu về công nghệ với rất nhiều bằng phát minh và sáng chế, cũng như các hợp đồng bản quyền lớn với các công ty Mỹ như Qualcomn. Tuy nhiên, các hãng điện thoại di động đã ngày càng cho ra đời các nhãn hiệu với cấu hình khá giống nhau và các sản phẩm không có nhiều khác biệt cạnh tranh với nhau rất khốc liệt trên thị trường.
Trong khi ZTE tự phát triển, thì Lenovo vươn ra quốc tế bằng việc mua lại hãng Motorola từ Goolge và làm sống dậy lại thương hiệu đầy uy tín này trước đây. Motorola là thượng hiệu hàng đầu vào những năm 2010 ở Mỹ cũng như nhiều nước khác trên toàn thế giới nhưng đã suy sụp vì sự thay đổi công nghệ nhanh chóng của lĩnh vực sản xuất thiết bị di động. Con đường ra quốc tế của Lenovo trong ngành thiết bị di động gặp rất nhiều trông gai. Họ thành công hơn trong việc bán các sản phẩm máy tính cá nhân khi mua lại thương hiệu Thinkpad từ IBM hơn.
Xiaomi tiến vào thị trường mới nổi
Mặc dù TQ và Mỹ là 2 thị trường thiết bị di động lớn nhất thế giới mà muốn vươn lên vị trí hàng đầu thì hãng điện thoại nào cũng phải tập trung vào hai thị trường này. Nhưng Xiaomi sau thành công ở nội địa đã chọn thị trường tiềm năng lớn với quy mô tiềm năng tương tự TQ là Ấn Độ là điểm tập trung chính thay vì Mỹ. Họ muốn nhân rộng mô hình kinh doanh từ TQ vào Ấn Độ nhưng gặp phải rào cản khi người dân tại đây vẫn mua điện thoại từ các cửa hàng vật lý là chính thay cho mua online như tại TQ. Xiaomi sau thời gian tụt dốc đã quyết định xây dựng chuỗi phân phối vật lý để đẩy mạnh tiêu thụ và là cách họ địa phương hóa thay vì áp dụng mô hình kinh doanh cứng nhắc như cách các công ty phương tây hay làm khi xâm nhập vào thị trường mới. Giá cả các loại điện thoại ở Ấn Độ mà người dân thường mua cũng rẻ hơn ở TQ với bình quân chỉ $30-$50/thiết bị. Việc có tới hơn 20 ngôn ngữ chính thức ở đây cũng làm chi phí chỉnh sửa phần mềm tăng, làm gia tăng chi phí sản xuất các sản phẩm cho thị trường này. Đây là các rào cản với Xiaomi khi họ quyết định chiếm lĩnh thị trường rộng lớn đầy tiềm năng và đang ở đầu giai đoạn phổ cập hóa điện thoại thông minh này. Cách mà Samsung thất bại ở TQ cũng là bài học mà các hãng sản xuất thiết bị di động cần nghiên cứu để tránh việc họ cũng sẽ thất bại tương tự khi đi ra nước ngoài.
Bài học từ việc vươn ra nước ngoài và những thương vu mua lại
Các gã khổng lồ công nghệ TQ cũng thực hiện nhiều thương vụ mua lại và đầu tư ra nước ngoài để mở rộng kinh doanh. Alibaba khá tập trung vào thị trường Mỹ nhưng không thành công sau nhiều thương vụ đầu tư và sau đó họ tập trung hơn vào các thị trường Ấn Độ và Đông Nam Á. Các doanh nghiệp gặp rất nhiều thách thức trong việc mở rộng ra quốc tế.
Các công ty thiếu nắm giữ bằng sáng chế và các vụ kiện liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Xiaomi là gã khổng lồ sản xuất thiết bị di động nhưng lại rất ít bằng sáng chế và phát minh nên thường gặp các vụ kiện về bản quyền. Các hãng sản xuất khác đi từ lắp ráp lên cũng sẽ gặp các vấn đề tương tự trong tương lai.
Họ gặp trở ngại trong việc xây dựng thương hiệu khi các thương hiệu TQ được liên tưởng tới hàng nhái, hàng kém chất lượng đã ăn sâu vào suy nghĩ người tiêu dùng khắp thế giới nhiều năm nay.
Văn hóa và truyền thống tiêu dùng khác nhau mà các công ty TQ phải thích nghi ở thị trường nước ngoài. Các công ty TQ đã dần chọn các thị trường mới nổi là điểm đến khi mở rộng ra quốc tế vì sự phát triển của các quốc gia này có nhiều điểm tương đồng với quá trình phát triển của TQ và sẽ dễ chấp nhận hơn các nước đã phát triển.
Cuối cùng là đầu tư vào thị trường nước ngoài không kém phần thách thức hơn là mở rộng kinh doanh. Việc M&A và đầu tư của các công ty TQ vào các nước phát triển cũng chưa thật sự thành công. Trong khi đầu tư trong nước lại cực kỳ thành công. Alibaba sang Mỹ sau đó phải rút phần lớn, Baidu mở ở Nhật Bản nhưng cũng phải rút lui. Tencent thì thành công hơn với các thương vụ đầu tư lớn ở Đông Nam Á. Sau đó là Alibaba cũng mở rộng mạnh mẽ ở Ấn Độ và Đông Nam Á trở thành hai nhà đầu tư lớn ở khu vực đang phát triển đầy tiềm năng này.
- Ra mắt tại Trung Quốc
Amazon thâm nhập vào TQ nhưng rồi thất bại và rút lui để tập trung vào thị trường Bắc Mỹ. Tới 2015, họ quay trở lại với việc mở một cửa hàng trên nền tảng Tmall của Alibaba để bán hàng trực tiếp từ Mỹ vào TQ. Đây được coi là sự chấp nhận thất bại của Amazon ở TQ khi mà Alibaba và JD.com đã chiếm tới 90% thị trường thương mại điện tử tại TQ và rất khó có đối thủ có thể tham gia vào được.
Với Uber, họ đã rất thành công khi bắt đầu thử nghiệm ở TQ năm 2013 và sau đó nhân rộng ra nhiều thành phố lớn ở TQ từ năm 2014. Họ lập một công ty tại TQ với dạng cổ phần với nhiều đối tác nội địa và quan trọng nhất là Baidu khi tích hợp hệ thống bản đồ của Baidu vào nền tảng và các dịch vụ thanh toán vào trong. Họ cũng tiến hành bản địa hóa nội dung ứng dụng và cách tiếp cận khi tài trợ rất nhiều tiền cho cả hành khách và tài xế sử dụng dịch vụ. Các đợt huy động vốn lớn mà công ty Uber TQ tiến hành cũng làm định giá công ty tăng vọt và đổ rất nhiều tiền trong cuộc chiến giành thị trường tại đây. Đối thủ của họ là Didi và Kuaidi cũng tham gia tích cực trong cuộc chiến đốt tiền khổng lồ đã bắt tay dừng chiến và sáp nhập với nhau thành Didi Kuaidi với hai gã khồng lồ công nghệ đứng sau là Alibaba đầu tư cho Kuaidi còn Tencent cho Didi. Tới 2016 thì Uber TQ cũng ngừng chiến và sáp nhập vào ứng dụng Didi thành công ty mới kiểm soát thị trường và các nhà đầu tư cũ tại Uber TQ trở thành cổ đông trong công ty mới. Về cơ bản các gã khổng lồ công nghệ Mỹ đã cơ bản rút khỏi TQ và thất bại trước các đối thủ nội địa tại đây.
TQ đã thành công trong việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh mẽ. Khởi đầu ở Công viên Khoa học Công nghệ Trung Quan Thôn với các ý tưởng xây dựng tương tự thung lũng Silicon Valley của Mỹ. Ở đây có các công ty khởi nghiệp hang hái, các quỹ đầu tư chuyên rót vốn tài trợ cho các công ty khởi nghiệp. Một bầu không khí nhanh và quyết liệt. Nhà khởi nghiệp có khi là các lãnh đao cấp trung và cao cấp các tập đoàn công nghệ khi mà họ không còn lo lắng về cuộc sống hàng ngày, có khi là sinh viên mới tốt nghiệp không có gì để mất lao vào việc khởi nghiệp. Sáng kiến con đường khởi nghiệp tại đây đã thu hút hơn 2k nhà đầu tư thiên thần, 4k doanh nhân khởi nghiệp tụ họp lại đây trong con phố dài 200m. Chính phủ TQ cũng cho ra đời các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp lên tới $7B. Sau thành công này, các địa phương cũng cho ra đời rất nhiều các trung tâm đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư địa phương nhằm hỗ trợ các công ty khởi nghiệp. Tới 2015, TQ có tới 1.600 vườn ươm công nghệ đang hoạt động. Trong 10 năm từ 2004-2014, TQ có 26 công ty khởi nghiệp đạt danh hiệu kỳ lân công nghệ chỉ thua kém Mỹ có 79 công ty trong thời kỳ này. Nguồn vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm (VC) đổ vào TQ cũng rất lớn từ cả các quỹ nước ngoài lẫn các quỹ nội địa. Năm 2015 các quỹ đã đầu tư tới $37B vào các công ty khởi nghiệp tại TQ. So với năm 2013 chỉ ở mức $4,5B và 2014 ở mức $15B. Với hệ thống sản xuất mạnh và các thử nghiệp có thể dễ dàng được thực hiện cũng là điều giúp các công ty khởi nghiệp dễ dàng phát triển hơn.
Ngày nay, các công ty TQ đang đi đầu trong việc đổi mới công nghệ toàn cầu, đặc biệt là khi nói đến phần cứng, các công nghệ AI trên thiết bị phần cứng với các công ty tiên phong như nhóm BAT, Xiaomi, DJI Innovation, Meituan Dianping, Ant Financial,…Các công ty TQ cũng tiên phong trong lĩnh vực 5G khi mà họ đã nghiên cứu nó từ giai đoạn 2009 và đang trở thành những người thống lĩnh thị trường này với hai đầu tầu là Huawei và ZTE. Trong tương lai gần thị trường TQ sẵn sàng trở thành nơi tạo ra xu hướng thay vì chạy theo xu hướng, là các công ty làm nhái lại các doanh nghiệp Mỹ như trước đây. Các ứng dụng như BAT đều nhái theo các công ty Mỹ giai đoạn đầu, nhưng hiện nay đều đã tiến hóa và ra ngoài khác xa phiên bản bên Mỹ của họ. Đặc biệt với Tencent đã gần như khác biệt và trở thành siêu ứng dụng mà các nền tảng Mỹ phải học theo.



















