The Bitcoin Standard – Quá khứ biến động, hiện tại bùng nổ, tương lai đột phá – Saifedean Ammous
Ngày 1/11/2008, 1 lập trình viên máy tính với danh tính Satoshi Nakomoto đã gửi email tới 1 danh sách người nhận mã hóa để thông báo rằng: Ông đã tạo ra 1 hệ thống tiền điện tử hoàn toàn đồng cấp, không có bất kỳ bên thứ 3 được tin cậy nào. Đó là ngày khai sinh ra tiền mã hóa bitcoin (“BTC”). Sau đó nhiều tháng cộng đồng tiền mã hóa vẫn chỉ giới hạn ở 1 nhóm nhỏ các lập trình viên.
Tới tháng 10/2009, giao dịch đầu tiên của Bitcoin đã được thực hiện với 5.050 Bitcoin với giá 5,02$, và nó được định nghĩa giá trị như là tiền điện để đào được từng đó bitcoin. Tới 22/5/2010, 1 người đã mua 2 chiếc bánh pizza giá 25$ với 10.000 bitcoin. Những giao dịch đầu tiên đánh dấu sự công nhận của xã hội cho loại tiền tệ mới này.
- Tiền tệ
BTC ra đời để tận dụng công nghệ giải quyết 1 vấn đề dai dẳng trong suốt lịch sử tồn tại của loài người: Làm cách nào để chuyển dịch giá rị kinh tế qua thời gian và không gian. Từ thủa xa xưa, các hình thức trao đổi vật – vật với nhau đã diễn ra nhưng nó quá bất tiện và trung gian tiền tệ ra đời và liên tục phát triển qua nhiều giai đoạn từ thủa sơ khai loài người tới nay.
Độ mạnh của tiền tệ được đánh giá thông qua 2 tiêu chí: thứ nhất là dự trữ (chính là số lượng hiệu hữu, tính bằng số lượng đã được sản xuất trong quá khứ trừ đi số lượng đã được tiêu thụ hoặc tiêu hủy), và thứ 2 là lưu lượng tương lai (chính là lượng sản xuất tăng thêm trong giai đoạn tiếp theo). Vì vậy, các đồng tiền pháp định là các đồng tiền yếu vì lưu lượng tương lai nó là vô giới hạn.
- Đồng tiền sơ khai
Các đồng tiền sơ khai như đá Rai ở trên hòn đảo ở Địa Trung Hải, hay hạt thủy tinh ở Châu Phi, vỏ sò ở Mỹ,… ban đầu chúng rất quý hiếm và nguồn cung vô cùng bị giới hạn, chi phí để sản xuất hay phát hiện ra chúng vô cùng lớn nên được mọi người chấp nhận là vật quý hiếm và làm đơn vị tiền tệ quy ước. Tổng nguồn cung tiềm năng của chúng là rất nhỏ so với nguồn cung hiện hữu nên chúng giữ được giá trị qua nhiều thế kỷ. Nhưng khi công nghệ phát triển, việc khai thác đá dễ dàng, việc sản xuất thủy tinh chi phí rất thấp, việc tìm kiếm vỏ sò rất dễ dàng đã làm cho nguồn cung tương lai tăng đột biến và ngày càng lớn đã phá hủy các loai tiền tệ cổ xưa đó khi giá trị của chúng liên tục sụt giảm và trở thành vô giá trị sau đó, cả hệ thống thanh toán cổ xưa cũng sụp đổ theo và các đơn vị tiền tệ mới ra đời thay thế cho chúng. Các loại hình đồng tiền sơ khai này hoạt động rất giống cách bitcoin hoạt động hiện nay.
- Kim loại tiền tệ
Kim loại ban đầu rất khan hiếm và việc khai thác, cũng như sản xuất chúng rất tốn kém chi phí. Chúng ban đầu được sử dụng là vũ khí, công cụ dụng cụ lao động, sản xuất,… nhưng qua thời gian nhờ tính bền bỉ và chống chịu với ăn mòn cao kim loại đã dần trở thành 1 đơn vị tiền tệ qua việc quy chuẩn hóa và đúc chúng thành những đơn vị tiền tệ giống nhau giúp con người dễ dàng dùng làm tiền tệ và không cần phải cân, đo, đong đếm hay kiểm tra lại nữa vì chúng đã được chuẩn hóa giống nhau giữa từng đồng tiền kim loại.
Các đồng xu vàng ra đời sớm nhất từ khoảng 2.500 năm trước công nguyên ở Hy Lạp, và nó vẫn được công nhận giá trị cho tới ngày nay vì chứa 1 lượng vàng trong đó. Các đồng xu bạc thì dùng để thanh toán các khoản nhỏ hơn và chúng là phương tiện thanh toán có thanh khoản nhất. Các đồng xu bằng đồng dùng để thanh toán các khoản rất nhỏ.
Tới thế kỷ 19, người ta có thể sử dụng tiền giấy, séc thay thế cho việc mang các đồng tiền kim loại để làm phương tiện thanh toán nhờ việc đẩm bảo giá trị của chúng bằng vàng ở các ngân hàng. Nhưng sau đó tiền giấy được in ra vô tội vạ và không neo theo vàng nữa đã làm phá hủy giá trị của chính nó theo thời gian.
Để 1 hàng hóa có thể thực hiện chức năng dự trữ giá trị, nó phải thắng được cái bẫy “bong bóng”, tức là khi nhu cầu dự trữ tăng sẽ kéo theo sự tăng mạnh của giá, từ đó làm giá càng lên cao hơn, và nó khuyến khích người ta tăng sản lượng và nguồn cung, điều này chắc chắn sẽ làm giảm giá trị, gây thiệt hại cho những người đã từng mua với mức giá cao hơn mức giá thông thường của thị trường.
Ngoài vàng, các loại kim loại khác từ bạc, đồng, sắt,.. có trữ lượng vô cùng lớn và vượt quá sự ước đoán của chúng ta và sản lượng khai thác của chúng tăng hay giảm phụ thuộc duy nhất vào giá của chúng trên thị trường. 1 sự tăng giá mạnh của chúng sẽ kéo theo sản lượng khai thác tăng đột biến để áp ứng nhu cầu cao này và nguồn cung cao sẽ phá hủy giá trị tiền tệ mà các loại tiền bạc, đồng đang có.
Thứ thắng cuộc trong cuộc đua này trong suốt lịch sử loài người rõ ràng chính là vàng, loại hàng hóa duy trì được vai trò tiền tệ nhờ 2 đặc tính vật lý đặc biệt giúp phân biệt vàng với các loại hàng hóa khác:
- Vàng có tính chất hóa học ổn định đến mức nó gần như không thể bị phá hủy
- Vàng là vật liệu không thể được tổng hợp từ những nguyên liệu khác và chỉ có thể được chiết xuất từ quặng thô, thứ vô cùng hiếm trên trái đất.
Người ta thống kê rằng trong 7 thập kỷ gần đây thì sản lượng khai thác vàng tăng trưởng khoảng 1,5%-2%/năm. Đây là mức tăng trưởng nguồn cung thấp và trong tâm kiểm soát để giữ được giá vàng qua thời gian. Và dù tăng sản lượng gấp 2 lên thì mức tăng lên 3% cũng sẽ không gây tổn hại quá lớn cho giá trị của vàng.
Bạc là loại kim loại thứ 2 gần với vàng nhất với sản lượng khai thác hàng năm khoảng 5-10% và gần đây tăng lên khoảng 20%. Với sự gia tăng sản lượng đó thì bạc cũng được coi là kênh tích trữ có giá trị. Tuy nhiên, nếu sự tích trữ quá lớn đẩy giá lên cao thì các nhà sản xuất tăng mạnh sản lượng lên có thể dễ dàng phá vỡ đà tăng của bạc.
Các hệ thống tiền tệ 100% sụp đổ do nó đã tự làm cho mất giá trị bởi nguồn cung trở nên quá lớn. Đặc biệt các loại tiền phụ thuộc vào kim loại. Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất là các đồng tiền được đảm bảo rằng có 1 lượng vàng trong đó, sau đó là 1 số đồng tiền bằng bạc hoặc có đảm bảo bằng khối lượng bạc tương ứng.
Sau khi có tiến bộ về điện báo và tầu hỏa thì bắt đầu phổ biến tiền bạc giấy được đảm bảo bằng vàng trong kho dự trữ thay vì các đồng xu để giao dịch trực tiếp. Anh là nước đầu tiên có quy định gắn tiền giấy với vàng vào năm 1717 và duy trì nó tới tận năm 1914. Sau đó điều này được áp dụng phổ biến ở các nước châu Âu và lan sang các thuộc địa của họ. Việc mỗi đồng bạc giấy chứa 1 lượng vàng quy định trong đó đã làm thước đô để quy đổi tỷ giá với nhau giữa các đồng tiền này. Đây gọi là tiêu chuẩn bản vị vàng trong suốt mấy thể kỷ duy trì. Tuy nhiên, điều này làm cho lượng vàng luôn thiếu hụt ở mọi quốc gia sử dụng bản vị vàng. Các nước dù đã bỏ chế độ này từ lâu nhưng các NHTW vẫn duy trì dự trữ bằng vàng lớn.
- Quốc tệ
Từ thế chiến I trở đi, tiền pháp định nổi lên thay thế cho các loại tiền được đảm bảo bằng vàng hoặc bạc. Việc kiểm soát tiền pháp định và không gắn với vàng giúp các nước chủ động được nguồn cung tiền nhằm có tiền phục vụ cho cuộc chiến của các nước. Việc này đã làm giá trị đồng tiền các nước sụt giảm nghiêm trọng từ khi bắt đầu tới khi thế chiến I kết thúc, đặc biệt ở các nước thua cuộc. Tác giả lên án trường phái Keneys khi cổ vũ việc kiểm soát lạm phát bằng cung tiền tăng liên tục thay vì cố gắng hiệu quả hơn dựa trên 1 nguồn lực giới hạn. Chính sách này được đưa vào các trường học để dậy cho tất cả cùng đồng tình với quan điểm lạm phát mục tiêu mà chính phủ theo đuổi và được chấp nhận ở mọi nơi trên thế giới.
Năm 1944, trước khi chiến tranh kết thúc các đồng minh của Mỹ đã họp ở Betton Wood để thống nhất sử dụng đồng USD làm đồng tiền thanh toán quốc tế. Mỹ cam kết sẽ đảm bảo 35$/ounce vàng. Tuy nhiên tốc độ in tiền USD quá mạnh của Mỹ đã không thể đảm bảo cho mức cam kết này. Tới năm 1971, Mỹ tuyên bố chấm dứt chế độ bản vị vàng này và thả nổi hoàn toàn đồng tiền dạng pháp định. Nhưng do thói quen từ trước nên các nước vẫn tiếp tục sử dụng đồ USD là tiền dự trữ quốc gia của mình sau đó.
- Tiền tệ và sở thích theo thời gian
Đồng tiền mạnh được lựa chọn tự do trên thị trường dựa trên tính dễ bán của nó, bởi lẽ nó giũa được giá trị theo thời gian, bởi nó có thể vận chuyển giá trị 1 cách hiệu quả qua không gian, và bởi nó có thể được chia nhỏ và tập hợp thành các mức độ lớn nhỏ khác nhau. Và bởi nó không thể bị gia tăng nguồn cung cưỡng ép bởi 1 người hay tổ chức nào đó. Người ta sẽ chấp nhận kìm chế các thỏa mãn hiện tại và đầu tư vào sản xuất để tương lai thu được nhiều hơn. Đó là cách mà sở thích theo thời gia hoạt động khi cùng 1 thời gian đó, 1 người khi đầu tư vào tư liệu sản xuất có thể sản xuất, và tích lũy nhiều hơn rất nhiều người không đầu tư vào nó. Chỉ có thông qua việc hạ thấp sự ưa thích thời gian thì các cá nhân mới có thể đề cao sự đầu tư dài hạn và bắt đầu ưu tiên cho những kết quả trong tương lai.
Các trung gian tiền tệ là thưc thể cực kỳ hấp dẫn mà không ai cưỡng lại được vì nó có thể in được ra tiền nếu nó muốn. 1 đồng tiền mạnh lý tưởng phải là đồng tiền không thể im thêm được nũa và ổn định trữ lượng theo thời gian. Nhưng thực tế nó không tồn tại và vàng là loại tiền tệ gần với nó nhất vì sản lượng khai thác mới là rất nhỏ so với lượng cung hiện tại. Tác giả miêu tả rất nhiều lợi ích của việc có đồng tiền mạnh, và các bất lợi khi có đồng tiền yếu, cách mà con cháu chúng ta phải làm việc cật lực để trả các khoản nợ ngày càng lớn hơn do chúng ta tự tạo ra.
- Hệ thống thông tin của chủ nghĩa tư bản
Chức năng quan trọng nhất của tiền tệ với tư cách trung gian thanh toán là thứ cho phép các hoạt động kinh tế tham gia vào việc hoạch định và tính toán kinh tế. Tác giả đánh giá sự tự điều chỉnh của thị trường theo quy luật cung cầu của các mặt hàng mà không cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước. Chính giá cả biến động sẽ làm tăng hoặc giảm cung cầu tương ứng với các mức giá của các loại hàng hóa và tiền tệ.
Trong khi đó, các ngân hàng trung ương kiểm soát lượng cung tiền pháp định và tạo ra các mức lãi suất thấp đáng ngạc nhiên và duy trì nó nhiều năm dù lượng cung tiền gia tăng đáng kể nhiều hơn rất nhiều. Ông lên án việc các nhà kinh tế, Fed, chính phủ đã tự cao tự đại khi cho rằng có thể hoạch định nguồn cung tiền 1 cách hiệu quả để giúp nền kinh tế. Các nước đều liên tục cố gắng tự giảm giá tiền tệ của mình để hỗ trợ xuất khẩu và nền kinh tế và liên tục phàn nàn nước khác về việc nền kinh tế thiếu công bằng dù ai cũng làm vậy.
- Đồng tiền mạnh và tự do cá nhân
Dưới 1 hệ thống tiền tệ mạnh, chính phủ phải vận hành theo cách mà các thế hệ được nuôi nấng lên trong chu kỳ thoogn tin của thế kỷ 20 không thể nào tưởng tượng được, họ phải có trách nhiệm về tài khóa. NHTW không dễ dàng tăng cung tiền được thì các chính phủ khi chi tiêu phải rất chắt chiu và tuân thủ quy định chặt chẽ để tránh thâm hụt. Thế kỷ 20 khởi đầu với ý tưởng căn bản là chính phủ cần phải kiểm soát nguồn cung tiền. Và điều này hầu như được chấp nhận ở mọi nơi trên thế giới này. Các nước đều đi theo 2 lý thuyết chính là trường phái Keynes và trường phái trọng tiền. Và các lý thuyết này được áp dụng rộng rãi và là dòng chính thống hiện nay ở các nước. Đồng tiền yếu là nguyên nhân sâu sa của các cuộc chiến tranh, tham nhũng, khủng hoảng tài chính, các tệ nạn xã hội,…
Trái lại, trường phái kinh tế học Áo lại đi khác đi và coi việc kiểm soát nguồn cung tiền tệ chặt chẽ sẽ làm duy trì đông tiền mạnh và duy trì được sức mua của nó, làm cho sản xuất ngày càng phát triển và hàng hóa ngày càng rẻ đi.
- Đồng tiền số
Các phương pháp giao dịch ngày này được thực hiện rất nhiều qua 1 bên trun gian thứ 3 làm nhiệm vụ xác thực giao dịch và điều này tiềm ẩn các rủi ro lớn từ chính việc này. Bitcoin ra đời để loại bỏ trung gian thứ 3 nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn, bảo mật của các giao dịch với nhau. Nakamote đã loại bỏ nhu cầu tin tưởng vào 1 bên thứ 3 nhờ việc xây dựng bitcoin trên 1 nền tảng bằng chứng và xác thực trọn vẹn và cứng rắn.
Bitcoin vận hành cốt lõi là sự xác thực, và chỉ nhờ có đặc điểm đó bitcoin mới có thể loại bỏ hoàn toàn nhu cầu tin tưởng. Mỗi giao dịch đều được theo dõi bởi mọi thành viên trong mạng lưới để từ đó họ cùng chung 1 “sổ cái” về cân bằng và giao dịch. Bất kỳ 1 thành viên trong mạng lưới thực hiện chuyển 1 số tiền cho thành viên khác, tất cả các thành viên trong mạng lưới đều có thể xác thực rằng người gửi có số dư đủ, và các nút trung gian sẽ cùng cạnh tranh để trở thành nút đầu tiên cập nhật lên sổ cái với mỗi khối giao dịch mới cứ 10’/lần. Các nút sẽ cạnh tranh nhau để cùng xử lý các vấn đề toán học và các nút sẽ cùng bầu cho người chiến thắng và phần thưởng của họ là 1 khối mới chưa đựng các đồng coin mới. Quá trình này được biết đến với tên gọi “đào” coin.
Nakamoto đã lập trình để cứ 10’ sẽ tạo ra 1 khối mới và mỗi khối có 50 coin, sau đó 4 năm giảm còn 25 coin và giảm dần cứ 4 năm/lần. Việc gia tăng xử lý cũng chỉ giúp việc đào diễn ra nhanh hơn chứ không làm tăng được số tổng cung cố định của Bitcoin là 21 triệu đơn vị từ đầu. Qua thời gian, mức độ phức tạp của tính toán, chi phí để xử lý sẽ ngày càng cao và giá trị mỗi đơn vị được tạo ra ngày càng lớn, sẽ khác với các loại tiền tệ khác khi giá trị ngày càng giảm đi, kể cả vàng thì công nghệ khai thác tốt hơn thì chi phí khai thác cũng sẽ giảm đi đáng kể trừ khi trữ lượng vàng cạn kiệt.
Bitcoin mặc dù chỉ có 21 triệu đơn vị, nhưng mỗi đơn vị có thể chia nhỏ thành 100 triệu satoshi khiến cho nó dễ dàng được chia nhỏ ra để thuận tiện khi giao dịch. Điều khiến các nút bitcoin trung thực với từng người 1 chính là việc nếu như không trung thực, họ sẽ bị phát hiện ngay lập tức và hầu như không 1 ai hay nhóm nào có thể làm giả để lừa đảo toàn bộ mạng lưới được.
Nakamoto đã tạo ra sự khan hiếm điện tử, bitcoin trở thành điển hình đầu tiên của 1 hàng hóa điện tử khan hiếm và khác biệt so với các hàng hóa điện tử dễ dàng bị sao chép trước đây. Không chỉ vậy, bitcoin còn là ddienr hình của sự kham hiếm tuyệt đối khi nó không thể nào vượt quá được số lượng đã đặt ra ban đầu là 21 triệu bitcoin. Bitcoin cũng bắt đầu được giao dịch đầu tiên vào năm 2009 (với giá 0,000994$/btc) và 2010 (10k BTC cho 2 chiếc Pizza giá 25$) với mức giá rất thấp, sau đó nó dần được quan tâm và nhiều người để ý hơn và mua thử bitcoin nhiều hơn đẩy giá dần tăng lên. Ngày nay giá Bitcoin đã rất rất cao nhưng chúng lại giao dịch rất bất ổn với sự biến động cũng rất lớn, đi kèm với nó là số lượng và giá trị giao dịch bitcoin cũng ngày càng cao hơn và phí giao dịch cũng ngày càng cao.
- Công dụng của Bitcoin là gì?
Số lượng tuyệt đối các nguyên liệu thô tồn tại trong trái đất thực tế là chưa thể đo đếm chính xác được và mọi thứ hầu như không hề khan hiếm như mọi người tưởng. Giá cả các nguyên vật liệu thô sẽ liên tục giảm do chi phí khai thác giảm khi công nghệ khai thác ngày càng tiên tiến hơn. Bitcoin là loại hàng hóa đầu tiên có sự kiểm soát nguồn cung chặt chẽ và không thể tăng quá mức quy định ban đầu. Bitcoin ra đời để phá vỡ phần còn lại là sự kiểm soát chặt chẽ về tiền tệ của nhà nước hiện đại. Đích đến của bitcoin sẽ là loại tiền tệ dự trữ thay vì là loại tiền tệ để phục vụ giao dịch thuần túy. Các giao dịch trên các sàn giao dịch hay các trang web chủ yếu là các loại giao dịch thứ cấp ghi nhận nội bộ của họ chứ không thật sự có sự dịch chuyển các chuỗi khối.
Với ưu điểm của 1 đồng tiền số, lợi thế cạnh tranh của bitcoin không nằm trong việc thay thế thanh toán bằng tiền mặt, mà thay vào đó nằm trong việc cho phép các giao dịch bằng tiền mặt được thực hiện trên những khoảng cách xa. Trong tương lai bitcoin sẽ dần được các giới nhà giầu nắm giữ như 1 loại tài sản thay thế và có thể lúc nào đó sẽ có ngân hàng trung ương nước nào đó mua làm tài sản tích trữ và có thể kích hoạt làn sóng chạy đua mua bitcoin tích trữ thay vì chỉ các loại tài sản truyền thống như usd, euro, vàng, quyền rút vốn IMP,…
- Những câu hỏi về bitcoin
Bất kỳ ai tham gia mạng lưới bitcoin cũng sẽ có 1 khóa công khai để nhận bitcoin và 1 khóa bí mật để gửi bitcoin đi. Khi giao dịch được thực hiện, người gửi sẽ thông báo về giao dịch này tới tất cả các thành viên khác trong mạng lưới (các nút), những người sẽ xác thực rằng người gửi có đủ bitcoin để thực hiện giao dịch đó, và rằng người đó chưa sử dụng bitcoin này cho 1 giao dịch khác. Khi giao dịch được xác thực bởi số đông các CPU trong mạng lưới thì nó sẽ được ghi lên sổ cái chung được chia sẽ bởi toàn bộ thành viên mạng lưới, cho phép những thành viên này cập nhật số dư của 2 người tham gia giao dịch.
Về bản chất, các thành viên trong mạng lưới cạnh tranh để giải các bài toán số học khó để đưa ra lời giải nhưng việc xác thực đáp án lại rất dê giàng. Các nút cạnh tranh nhau để giải các bài toán bằng chứng xử lý và ai giải được đầu tiên sẽ nhận được phụ cấp khối, các nút xác thực thì nhận được phí giao dịch từ ngưởi gửi bitcoin và tổng là phần thưởng khối. Việc xử lý này tốn kém điện năng và hiệu suất máy tính và tạo ra rào cản rất lớn về chi phí vận hành cho toàn bộ mạng lưới. Về mặt nguyên tắc kẻ gian hoàn toàn có thể giả mạo khối nếu chiếm lĩnh được hơn 50% CPU trong mạng lưới. Nhưng ở thời điểm hiện tại mạng lưới quá lớn thì gần như không ai có thể làm được điều này nữa. Những ngày đầu khi ít nút có thể lam được thì bitcoi lại gần như không có giá trị nên không ai thực hiện.
Sự lâu bền của bitcoin không chỉ giới hạn ở việc thành công chống lại sụ tấn công, nó còn có thể chống lại bất kỳ nổ lực thay đỏi hay điều chỉnh các đặc tính của nó. Ngay khi Bitcoin ra đời, thiết kế cốt lõi đã được ấn định trong suốt dòng đời còn lại của nó. Rất nhiều lỗ lực để thay đổi bitcoin ban đầu như cập nhật chuỗi khối, tạo ra các phân nhánh bitcoin khác đều thất bại trong khi bitcoin ban đầu vẫn chiếm lĩnh được lòng tin của nhà đầu tư và các nút trên mạng và giá trị của bitcoin ngày càng cao hơn.
Các nỗ lực thay đổi không thành, các đợt tấn công thất bại càng giúp củng cố niềm tin cho về bitcoin là 1 tài sản an toàn, 1 thứ được cho là khả năng cải thiện nghịch cảnh khi nó đã vượt qua được mọi thử thách đặt ra. Với kích thước mỗi khối là 1MB, mỗi giây chỉ có thể xử lý 4 giao dịch, mỗi ngày khoảng 350k giao dịch và mỗi năm khoảng 120 triệu giao dịch và đây là hạn chế của bitcoin. Khi sự giao dịch đạt tới giới hạn sẽ làm chi phí giao dịch tăng lên rất nhiều.
1 trong những hiểu lầm phổ biến nhất trong những ngày đầu của bitcoin là bitcoin được sinh ra để cho tội phạm, rửa tiền, buôn bán trái phép,…và không chính xác khi nói bitcoin vô danh, nó là biệt danh thì đúng hơn. Vì các chuỗi khối vẫn lưu vết địa chỉ email, IP, thiết bị,… và hoàn toàn có thể tìm ra danh tính thật sự của bạn nếu bạn che giấu không đủ tốt. Bitcoin làm tăng tính tự do cho cá nhân, nhưng nó không làm thúc đẩy việc tội phạm lên cao hay dễ dàng che giấu hơn.
Sau sự ra đời của bitcoin, các loại altcoin đã liên tục ra đời và hầu như đều học theo mô hình bitcoin nhưng không ai có thể theo kịp bitcoin. Etherium là đồng altcoin có giá trị vốn hóa gần nhất với bitcoin. Các loại altcoin hầu hết được tạo ra để làm giầu cho đội ngũ phát triển, những người chịu trách nhiệm phát triển và làm ra chúng.
Lợi thế duy nhất của blockchain là loại bỏ nhu cầu tin tưởng vào 1 bên thứ 3 trung gian. Công dụng khả thi duy nhất của công nghệ này chính là trong các lĩnh vực mà ở đó việc loại bỏ trung gian bên thứ 3 có thể đem lại giá trị to lớn cho người sử dụng cuối mà nó chúng minh được là kém hiệu quả và tốn kém. Tuy nhiên, vận hành 1 mạng lưới blockchain như bitcoin cũng vô cùng tốn kém và chưa chắc nó đã rẻ hơn 1 trung gian bên thứ 3 truyền thống.
Các ứng dụng tiềm năng của công nghệ chuỗi khối:
- Thanh toán điện tử
- Hợp đồng
- Quản lý cơ sở dữ liệu và ghi chép
Các hạn chế kinh tế của công nghệ chuỗi khối:
- Sự dư thừa do mọi giao dịch được ghi lại ở mọi nút
- Vấn đề về tỷ lệ: khi tất cả được ghi lại sổ cái sẽ tăng nhanh theo hàm số mũ và quy mô ngày càng lớn hơn
- Sự tuân thủ quy định: bị rào cản pháp lý ở các nước do không quản lý được như tiền pháp định.
- Tính không thể đảo ngược
- Tính bảo mật: nó hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ chi tả cho năng lực xử lý để xác thực các giao dịch và bằng chứng xử lý
Ứng dụng thương mại thành công duy nhất của công nghệ chuỗi khối tính đến nay chính là tiền điện tử, và cụ thể là bitcoin.



















